The 14th national congress of the communist Party of Vietnam: The beginning of a new Era of National development
TS. Trần Nguyên Ký
Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết làm rõ ba nội dung chủ yếu: (1) Bối cảnh quốc tế và trong nước đặt ra yêu cầu tầm nhìn phát triển dài hạn của Việt Nam trong giai đoạn mới; (2) Sự kế thừa và phát triển tư duy lý luận của Đảng thể hiện ở việc kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; đồng thời, thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững; (3) Ý nghĩa Đại hội XIV của Đảng như một dấu mốc quan trọng trong quá trình phát triển đất nước, tạo nền tảng chính trị và định hướng chiến lược cho kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Trên cơ sở đó, bài viết khẳng định Đại hội XIV đã xác lập những định hướng phát triển mang tầm nhìn dài hạn góp phần khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, củng cố niềm tin của Nhân dân, tạo cơ sở để hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào giữa thế kỷ XXI.
Từ khóa: Đại hội XIV; mô hình phát triển; đổi mới sáng tạo; phát triển bền vững; kỷ nguyên vươn mình.
Abstract: This article clarifies three main issues: (1) the international and domestic contexts that necessitate the formulation of a long-term development vision for Vietnam in the new era; (2) the continuity and development of the Party’s theoretical thinking, reflected in its steadfast commitment to the goal of national independence associated with socialism, while promoting the renewal of the growth model based on science and technology, innovation, and sustainable development; and (3) the significance of the 14th National Congress of the Communist Party of Vietnam as an important milestone in the country’s development process, providing the political foundation and strategic orientation for a new era of national advancement. On that basis, the article argues that the 14th National Congress established long-term development orientations that help inspire aspirations for national development, strengthen social confidence, and create the conditions necessary for realizing the goal of transforming Vietnam into a developed, high-income country by the middle of the twenty-first century.
Keywords: 14th National Congress; development model; innovation; sustainable development; new era of national rise.
1. Đặt vấn đề
Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, các kỳ Đại hội Đảng luôn là những dấu mốc có ý nghĩa chiến lược, định hướng cho sự phát triển của đất nước trong từng giai đoạn lịch sử. Mỗi kỳ Đại hội không chỉ tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận mà còn đề ra các chủ trương, quyết sách lớn nhằm huy động sức mạnh toàn dân tộc. Đại hội Đảng lần thứ XIV của Đảng diễn ra trong bối cảnh thế giới và khu vực có nhiều biến động phức tạp và khó lường; cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ; đất nước sau 40 năm đổi mới đã đạt nhiều thành tựu quan trọng nhưng cũng đang đối mặt với không ít khó khăn, thách thức, đòi hỏi phải có những định hướng phát triển mang tính đột phá và tầm nhìn dài hạn.
Trong bối cảnh đó, ý nghĩa của Đại hội XIV không chỉ thể hiện ở việc xác định những định hướng chiến lược cho sự phát triển đất nước trong giai đoạn mới mà còn góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng. Đại hội đã kế thừa và phát triển những thành tựu của các nhiệm kỳ trước; đồng thời, xác lập những quyết sách chiến lược, tạo nền tảng cho một giai đoạn phát triển mới của đất nước. Vì vậy, việc nghiên cứu kết quả của Đại hội XIV có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần làm rõ cơ sở hình thành, nội dung và giá trị của những định hướng lớn, qua đó, khẳng định Đại hội XIV đã tạo nền tảng chính trị và định hướng chiến lược cho giai đoạn phát triển mới, hướng tới mục tiêu Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào giữa thế kỷ XXI.
2. Những nội dung nổi bật của Đại hội Đảng lần thứ XIV
Thứ nhất, bối cảnh của Đại hội XIV.
Đại hội Đảng lần thứ XIV diễn ra trong bối cảnh thế giới và khu vực có nhiều biến động phức tạp và khó dự báo. Quan hệ quốc tế tiếp tục chứng kiến sự đan xen giữa hợp tác và cạnh tranh, giữa cơ hội và thách thức, đặc biệt là cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn. Các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống gia tăng; xu hướng điều chỉnh, tái cấu trúc trật tự thế giới tiếp tục diễn ra mạnh mẽ. Trong bối cảnh đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận định: “Cục diện thế giới đang chuyển biến nhanh, phức tạp chưa từng có theo hướng đa cực, đa trung tâm, đa tầng, phân mảnh và phân tuyến mạnh; hòa bình, hợp tác, phát triển vẫn là xu thế lớn, song đứng trước nhiều thách thức mới.”1. Song, Việt Nam vẫn giữ vững đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, góp phần bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định và tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển đất nước.
Ở trong nước, sau 40 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đại hội VI của Đảng khởi xướng, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên nhiều lĩnh vực; cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước không ngừng được nâng cao. Đại hội VI (năm 1986) mở ra thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước đến Đại hội XIV có ý nghĩa quan trọng trong việc tổng kết thực tiễn bốn thập niên đổi mới; đồng thời, xác định các định hướng chiến lược cho giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược và những biến động khó lường của tình hình thế giới, việc giữ vững ổn định chính trị – xã hội, phát triển kinh tế và nâng cao vị thế quốc tế tiếp tục là những yêu cầu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam.
Thứ hai, Đại hội Đảng lần thứ XIV tiếp tục khẳng định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội (CNXH).
Một trong những nội dung nổi bật của Đại hội Đảng lần thứ XIV là tiếp tục khẳng định sự nhất quán về mục tiêu phát triển đất nước theo con đường độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Đây không chỉ là sự lựa chọn mang tính lịch sử của cách mạng Việt Nam mà còn là kết quả của quá trình tổng kết thực tiễn và phát triển tư duy lý luận của Đảng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH được xác định là nguyên tắc có ý nghĩa nền tảng, bảo đảm tính liên tục, ổn định và định hướng giá trị cho toàn bộ tiến trình phát triển. Văn kiện Đại hội khẳng định: “Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới”2.
Từ góc độ lý luận phát triển, sự kiên định mục tiêu chiến lược không đồng nghĩa với bảo thủ hay bất biến mà thể hiện sự nhất quán về định hướng phát triển trong khi phương thức thực hiện luôn được điều chỉnh linh hoạt phù hợp với bối cảnh mới. Đây là đặc trưng quan trọng của các mô hình phát triển thành công, khi quốc gia duy trì được sự nhất quán về mục tiêu dài hạn, đồng thời có khả năng thích ứng chính sách trước biến động của môi trường quốc tế.
Quá trình đổi mới từ năm 1986 đến nay cho thấy, sự vận dụng sáng tạo các nguyên lý của CNXH trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Nhờ đó, các nguồn lực xã hội được huy động và sử dụng ngày càng hiệu quả hơn; tăng trưởng kinh tế được duy trì ổn định; đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân không ngừng được cải thiện. Nhìn lại chặng đường đổi mới, Văn kiện Đại hội XIV khẳng định: “Sau 40 năm đổi mới, cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước được nâng lên, tạo nền tảng quan trọng để đất nước vững bước vươn mình trong kỷ nguyên mới”3.
Thực tiễn phát triển kinh tế – xã hội cho thấy, việc kết hợp giữa cơ chế thị trường và định hướng XHCN đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Trong giai đoạn 2021 – 2025, tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân khoảng 1%/năm, đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân tiếp tục được cải thiện4. Điều đó phản ánh hiệu quả của quá trình đổi mới, hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế gắn với bảo đảm an sinh xã hội.
Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gia tăng, yêu cầu giữ vững độc lập, tự chủ trong hoạch định đường lối phát triển càng có ý nghĩa quan trọng. Đại hội XIV tiếp tục khẳng định, nguyên tắc bảo đảm lợi ích quốc gia – dân tộc trên cơ sở kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa và đa dạng hóa quan hệ quốc tế. Báo cáo các văn kiện trình Đại hội XIV nhấn mạnh quan điểm: “Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng”5, qua đó, bảo đảm sự thống nhất giữa mục tiêu chiến lược và phương thức phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa. Đặc biệt, có thể nhận thấy logic nhất quán trong tư duy của Đại hội XIV: (1) Kiên định mục tiêu chiến lược nhằm bảo đảm ổn định định hướng phát triển; (2) Đổi mới phương thức phát triển nhằm thích ứng với bối cảnh toàn cầu; (3) Phát huy vai trò trung tâm của con người như động lực nội sinh của tăng trưởng bền vững. Sự kết hợp giữa tính nguyên tắc và tính linh hoạt trong hoạch định chính sách chính là cơ sở quan trọng giúp Việt Nam duy trì ổn định chính trị – xã hội, nâng cao năng lực chống chịu trước các cú sốc bên ngoài và từng bước hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong giai đoạn mới.
Thứ ba, Đại hội Đảng lần thứ XIV xác lập các định hướng chiến lược cho giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Đại hội Đảng lần thứ XIV không chỉ thể hiện ở việc tiếp tục khẳng định mục tiêu phát triển mang tính chiến lược mà còn ở việc xác lập hệ thống các quyết sách có tầm nhìn dài hạn nhằm tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong bối cảnh thế giới đang trải qua những biến đổi sâu sắc. Sự điều chỉnh của tiến trình toàn cầu hóa, cạnh tranh chiến lược giữa các trung tâm kinh tế lớn, cùng với tác động ngày càng mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang làm thay đổi cấu trúc của nền kinh tế thế giới. Theo đó, Đại hội XIV tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng dựa vào phát triển khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đây là những yếu tố được xem là động lực chủ yếu của tăng trưởng nền kinh tế tri thức hiện nay.
Trên cơ sở lý luận về phát triển, chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu là xu hướng phổ biến của các quốc gia đang hướng tới mức thu nhập trung bình cao và phát triển bền vững. Đối với Việt Nam, yêu cầu nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh càng trở nên cấp thiết khi quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, đặc biệt thông qua việc tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, như: Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương – CPTPP, Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu EVFTA, Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực – RCEP. Những hiệp định này không chỉ mở rộng thị trường xuất khẩu mà còn đặt ra yêu cầu cải thiện môi trường kinh doanh, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường và nâng cao tiêu chuẩn về lao động, môi trường và quản trị.
Trong hệ thống định hướng chiến lược được xác lập tại Đại hội XIV, khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo tiếp tục được xác định là động lực chủ yếu của tăng trưởng trong giai đoạn mới. Theo đó, Văn kiện nhấn mạnh: “Xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính”6. Việc đặt khoa học – công nghệ vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển phản ánh sự thích ứng của Việt Nam đối với xu hướng chuyển dịch sang nền kinh tế số và kinh tế tri thức, trong đó tri thức và công nghệ trở thành nguồn lực quan trọng nhất của tăng trưởng. Đặc biệt, một nội dung quan trọng trong định hướng chiến lược là yêu cầu chuyển đổi mô hình phát triển bền vững, trong đó hiệu quả kinh tế gắn với bảo vệ môi trường và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên thiên nhiên.
Bên cạnh đó, Văn kiện tiếp tục nhấn mạnh về hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia, coi đây là điều kiện quan trọng bảo đảm phát triển bền vững. Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, chất lượng thể chế có vai trò quyết định đối với hiệu quả phân bổ nguồn lực và niềm tin của nhà đầu tư. Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng; thực hiện nhất quán nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân; bảo đảm thượng tôn Hiến pháp và pháp luật; phát huy dân chủ XHCN, quyền làm chủ của Nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Các quyết sách chiến lược được xác lập tại Đại hội thể hiện tư duy phát triển mang tính hệ thống và dài hạn, trong đó tăng trưởng kinh tế, phát triển bền vững, đổi mới sáng tạo và nâng cao chất lượng thể chế được xác định là những trụ cột cơ bản của mô hình phát triển trong giai đoạn mới. Trên cơ sở tiếp cận khoa học chính sách, có thể khẳng định logic xuyên suốt của các định hướng này là kiên định và đẩy mạnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng lấy chất lượng, hiệu quả và năng lực đổi mới sáng tạo làm động lực chủ yếu; đồng thời, bảo đảm gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường.
Đây là nền tảng quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, phát huy nội lực, tận dụng hiệu quả các cơ hội phát triển mới, tạo xung lực mạnh mẽ cho phát triển đất nước nhanh và bền vững.
3. Ý nghĩa của Đại hội XIV và định hướng hiện thực hóa các mục tiêu phát triển đất nước trong giai đoạn mới
3.1. Đại hội XIV của Đảng mở ra kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc Việt Nam
Khái niệm “kỷ nguyên phát triển mới” được đặt ra trong bối cảnh đất nước đã tích lũy được những tiền đề quan trọng, tạo cơ sở để chuyển sang giai đoạn phát triển nhanh và bền vững hơn, với yêu cầu ngày càng cao về chất lượng tăng trưởng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đây là bước chuyển từ mô hình tăng trưởng chủ yếu dựa vào lao động giá rẻ, khai thác tài nguyên sang mô hình phát triển dựa trên khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Trong bối cảnh kinh tế thế giới đang chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng số hóa và phát triển kinh tế tri thức, khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của các quốc gia ngày càng phụ thuộc vào trình độ công nghệ, năng suất lao động và mức độ hoàn thiện của hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia. Đối với Việt Nam, những thành tựu đạt được trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đã tạo nền tảng quan trọng để nâng cao vị thế trong chuỗi sản xuất và chuỗi giá trị khu vực, từng bước chuyển từ lợi thế cạnh tranh dựa vào chi phí sang lợi thế cạnh tranh dựa vào chất lượng, hiệu quả và đổi mới sáng tạo.
Bên cạnh khía cạnh kinh tế, kỷ nguyên phát triển mới còn gắn với yêu cầu nâng cao chất lượng phát triển xã hội, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, mở rộng cơ hội để Nhân dân tham gia và thụ hưởng thành quả phát triển. Đồng thời, vị thế quốc tế của Việt Nam ngày càng được khẳng định thông qua đóng góp tích cực vào các vấn đề toàn cầu như phát triển bền vững, ứng phó biến đổi khí hậu và bảo đảm an ninh con người.
Từ góc độ tổng thể, kỷ nguyên phát triển mới của Việt Nam là giai đoạn chuyển đổi mang tính bước ngoặt về mô hình tăng trưởng và phương thức phát triển, trong đó tăng trưởng được thúc đẩy chủ yếu bởi năng suất, khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng nguồn nhân lực, gắn với yêu cầu phát triển nhanh, bền vững và bao trùm. Đây là bước phát triển có tính kế thừa và phát triển, tạo nền tảng quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào giữa thế kỷ XXI.
3.2. Một số giải pháp chủ yếu nhằm hiện thực hóa định hướng phát triển trong giai đoạn mới
Đại hội XIV có ý nghĩa quan trọng, mở đầu giai đoạn phát triển mới của đất nước, tạo cơ sở để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thống nhất ý chí và hành động trong tổ chức thực hiện các mục tiêu phát triển đã đề ra. Để phát huy kết quả Đại hội và đưa các định hướng lớn của Đảng vào cuộc sống, cần tập trung thực hiện đồng bộ một số giải pháp chủ yếu sau:
Một là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quán triệt và cụ thể hóa nghị quyết Đại hội vào từng ngành, từng địa phương, từng cơ quan, đơn vị. Việc tuyên truyền phải được tiến hành thường xuyên, sâu rộng, bằng nhiều hình thức phù hợp với từng nhóm đối tượng, giúp cán bộ, đảng viên và Nhân dân nhận thức đầy đủ về mục tiêu, nhiệm vụ và phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Trên cơ sở đó, các bộ, ngành, địa phương cần xây dựng chương trình hành động cụ thể, sát với điều kiện thực tiễn, tránh tình trạng nghị quyết chỉ dừng lại ở khẩu hiệu hoặc văn bản chung chung.
Hai là, nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện, khắc phục bệnh hình thức, nói nhiều làm ít. Mỗi mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ phải được gắn với trách nhiệm của từng tổ chức, cá nhân, có lộ trình, nguồn lực và cơ chế kiểm tra, giám sát rõ ràng.
Việc sơ kết, tổng kết phải dựa trên kết quả thực chất, lấy hiệu quả phục vụ Nhân dân, phát triển kinh tế – xã hội và nâng cao chất lượng đời sống làm thước đo. Đặc biệt, cần tiếp tục phát huy mạnh mẽ vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu.
Cán bộ lãnh đạo, quản lý phải thực sự gương mẫu về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống và tinh thần trách nhiệm; kiên quyết, kiên trì thực hiện phương châm dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, vì sự phát triển của địa phương, cơ quan, đơn vị.
Ba là, tiếp tục tăng cường đổi mới sáng tạo, khoa học – công nghệ và chuyển đổi số. Đây là động lực quan trọng để nâng cao năng suất lao động, đổi mới mô hình tăng trưởng, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và hội nhập. Do đó, cần tiếp tục đẩy mạnh đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; chú trọng trang bị kỹ năng số, tư duy sáng tạo, năng lực quản trị và khả năng thích ứng linh hoạt với yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới.
Bốn là, tiếp tục củng cố quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội; đồng thời, mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Năm là, phát huy dân chủ XHCN, củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tăng cường niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Bảo đảm Nhân dân là trung tâm, chủ thể của quá trình phát triển; mọi chủ trương, chính sách phải xuất phát từ lợi ích chính đáng, nguyện vọng của Nhân dân và hướng tới nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân.
4. Kết luận
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy lý luận và hoạch định đường lối phát triển đất nước trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến động phức tạp. Trên cơ sở kế thừa những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của 40 năm đổi mới, Đại hội tiếp tục khẳng định kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH; đồng thời, đề ra định hướng chiến lược nhằm phát triển đất nước nhanh và bền vững, nâng cao tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam.
Những quan điểm, mục tiêu và nhiệm vụ được xác định tại Đại hội XIV thể hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy mạnh mẽ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, ý chí tự lực, tự cường và sức mạnh của thời đại; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao làm động lực quan trọng cho phát triển. Đồng thời, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Để hiện thực hóa các mục tiêu mà Đại hội XIV đã đề ra, cần tổ chức thực hiện đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy vai trò chủ thể của Nhân dân, khơi dậy khát vọng cống hiến và tạo động lực mới cho sự phát triển đất nước. Đây là cơ sở quan trọng để đưa đất nước vững bước trong kỷ nguyên phát triển mới, hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào giữa thế kỷ XXI.
Chú thích:
1, 3, 4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 77, 79, 344.
2, 5, 6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 259, 236, 260.
Tài liệu tham khảo:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I, II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
2. Báo cáo về các Văn kiện trình Đại hội XIV Đảng Cộng sản Việt Nam. https://special.nhandan.vn/bao-cao-ca-vankien-trinh-dhxiv/index.html
3. Đại hội Đảng XIV: Dấu mốc khởi đầu kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. https://vpctn.gov.vn/tin-tuc-su-kien/hoat-dong-cua-lanh-dao-dang-nha-nuoc/dai-hoi-dang-xiv-dau-moc-khoi-dau-ky-nguyen-vuon-minh-cua-dan-toc.html
4. Đại hội XIV của Đảng – Đại hội của kỷ nguyên vươn mình. https://special.nhandan.vn/dai-hoi-cua-ky-nguyen-vuon-minh/index.html
5. Đại hội đại biểu lần thứ XIV của Đảng là sự kiện chính trị trọng đại của đất nước, bước ngoặt mang tính lịch sử. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/01/20/dai-hoi-dai-bieu-lan-thu-xiv-cua-dang-la-su-kien-chinh-tri-trong-dai-cua-dat-nuoc-buoc-ngoat-mang-tinh-lich-su/
6. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/02/07/nghi-quyet-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiv-cua-dang/
7. Xây dựng Đảng tiên phong trong kỷ nguyên mới. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/04/02/xay-dung-dang-tien-phong-trong-ky-nguyen-moi/
8. Quốc hội khóa XVI tạo dấu mốc quan trọng trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/04/25/quoc-hoi-khoa-xvi-tao-dau-moc-quan-trong-trong-ky-nguyen-vuon-minh-cua-dan-toc/
9. Không thể gọi kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam là “kỷ nguyên dân chủ đa nguyên”. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/06/03/khong-the-goi-ky-nguyen-vuon-minh-cua-dan-toc-viet-nam-la-ky-nguyen-dan-chu-da-nguyen/



