Đột phá thể chế hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân lớn theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng

Institutional breakthroughs for developing large private economic groups in the spirit of the 14th National Party Congress

NCS. ThS. Lê Quốc
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

(Quanlynhanuoc.vn) – Để đạt mục tiêu phát triển trong kỷ nguyên vươn mình, tất yếu cần phải thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân, khẳng định vị thế của kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Mặc dù 40 năm Đổi mới đã mở rộng không gian cho kinh tế tư nhân, nhưng những bất cập về sự đồng bộ của thể chế và hiệu quả thực thi pháp luật vẫn là điểm nghẽn cản trở các doanh nghiệp phát triển thành những tập đoàn lớn mạnh và đầu tư dài hạn. Để có thể thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển, hình thành những tổ chức kinh tế tư nhân dẫn đầu, cần thực hiện các giải pháp đột phá thể chế, mở rộng không gian phát triển, khơi thông mọi nguồn lực cho kinh tế tư nhân.

Từ khóa: Đột phá thể chế; mở rộng không gian phát triển; tập đoàn kinh tế tư nhân lớn; đưa Nghị quyết Đại XIV của Đảng vào cuộc sống.

Abstract: To achieve development goals in the era of national ascent, it is essential to promote the development of the private sector and affirm its position as the most important driver of the economy. Although 40 years of Doi Moi have expanded the space for the private sector, inconsistencies in institutional synchronization and the effectiveness of law enforcement remain bottlenecks hindering businesses from evolving into powerful corporations and making long-term investments. To promote private sector growth and form leading private economic organizations, it is necessary to implement institutional breakthroughs, expand development space, and unlock all resources for the private economy.

Keyword: Institutional breakthrough; expanding development space; establishing major private economic groups; translating the Resolution of the 14th National Party Congress into reality

  1. Đặt vấn đề

Xây dựng và hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu, là sự mở đường cho phát triển đất nước trong kỷ nguyên vươn mình đã được nêu ra trong Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng (2026). Thể chế phải đi trước một bước để giải phóng và huy động mọi nguồn lực trong nền kinh tế cho sự phát triển và giàu mạnh của đất nước. Thể chế vừa là đòn bẩy, vừa là chìa khóa khơi thông mọi nguồn lực vật chất và tinh thần cho sự phát triển. Thể chế phát triển đúng đắn, tiên tiến và hiện đại, phù hợp với lòng dân, với thông lệ quốc tế sẽ có sức mạnh to lớn hiệu triệu mọi trái tim, mọi nguồn lực, mọi sự sáng tạo của người Việt Nam và người nước ngoài ở Việt Nam dấn thân vào xây dựng một đất nước Việt Nam giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên vươn mình.

Đột phá thể chế, mở rộng không gian phát triển, hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân lớn là một bộ phận không thể tách rời của thể chế phát triển, thể chế kinh tế hiện nay. Đại hội XIV của Đảng đã yêu cầu việc thực hiện đột phá thể chế phải được tiến hành một cách mạnh mẽ, nhanh chóng, quyết liệt và hiệu quả để tạo ra thế và đà phát triển mới cho nền kinh tế. Đại hội XIV của Đảng cũng đã nêu rõ mục tiêu tăng trưởng kinh tế vào năm 2026 và các năm tiếp theo phải đạt 10% trở lên, đưa Việt Nam trở thành một nước giàu mạnh trong kỷ nguyên vươn mình1. Với yêu cầu trên, các tập đoàn kinh tế tư nhân lớn đóng một vai trò có tính quyết định đến sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế.

Tuy nhiên, các tập đoàn kinh tế tư nhân lớn trong nền kinh tế Việt Nam còn khá ít so với quy mô của nền kinh tế, nguyên nhân cơ bản là thiếu vắng thể chế phát triển phù hợp cho kinh tế tư nhân. Với thực tế đó, đòi hỏi cần phải có đột phá thể chế, mở rộng không gian phát triển, hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân lớn dẫn dắt nền kinh tế phát triển trong thời gian tới.  

2. Thực trạng thể chế hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân lớn

Nền kinh tế Việt Nam chuyển từ nền kinh tế kế họach hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, nên thể chế kinh tế, trong đó có thể chế mở rộng không gian phát triển, hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân lớn, không tự nhiên hình thành mà được xây dựng và hoàn thiện cùng với sự đổi mới và phát triển của nền kinh tế. Để hiểu rõ hơn về thực chất thể chế mở rộng không gian phát triển, hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân lớn Việt Nam từ khi nền kinh tế đổi mới (1986) đến nay, có thể khái quát chung một số điểm sau:

Trước năm 1986, không gian phát triển của kinh tế tư nhân hầu như không tồn tại. Giai đoạn 1986 – 1990 là giai đoạn bắt đầu thừa nhận sự tồn tại của kinh tế tư nhân vì trước đó kinh tế tư nhân, doanh nghiệp tư nhân không được tồn tại và hoạt động. Đại hội VI (1986) của Đảng đã mở ra trang sử mới, bắt đầu từ việc xoá bỏ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, từng bước thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần hoạt động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Nhờ đó, kinh tế tư nhân với hình thức kinh tế hộ gia đình, cá thể từng bước hình thành và ra đời, nhưng chưa có doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là không có doanh nghiệp tư nhân lớn.

Năm 1990, thể chế về không gian phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế Việt Nam đã bắt đầu rõ nét hơn khi Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990 được ban hành. Luật này đã cho phép thành lập doanh nghiệp tư nhân, bước đầu ươm mầm cho tập đoàn kinh tế tư nhân ra đời sau này2. Khi Hiến pháp năm 1992 ra đời, quyền tự do kinh doanh của kinh tế tư nhân mới bước đầu được hiến định, cho phép được chọn hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, được thành lập doanh nghiệp không bị hạn chế về quy mô hoạt động trong những ngành, nghề có lợi cho quốc kế dân sinh3.

Đến giai đoạn 2000 – 2011,quá trình đổi mới nền kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả khả quan, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam được hình thành và phát triển, hội nhập ngày một sâu rộng với nền kinh tế thế giới. Cùng với thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN không ngừng được đổi mới và hoàn thiện, thể chế phát triển kinh tế tư nhân cũng có bước tiến lớn. Điểm nổi bật trong thể chế phát triển kinh tế tư nhân được thể hiện khi Luật Doanh nghiệp năm 1999 (có hiệu lực từ 2000)ra đời, đã bước đầuxoá bỏ nhiều giấy phép con và chuyển từ cơ chế “xin – cho” sang “đăng ký kinh doanh”4. Nhờ có đột phá thể chế ở Luật Doanh nghiệp năm 1999, số lượng doanh nghiệp tư nhân đã tăng nhanh trong các năm sau đó.

Thể chế phát triển cho kinh tế tư nhân được định hình rõ nét hơn khi Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX (2002)ra đời. Đây là lần đầu tiên có Nghị quyết chuyên đề về kinh tế tư nhân trong thời kỳ Đổi mới với việc khẳng định kinh tế tư nhân là “bộ phận cấu thành quan trọng” của nền kinh tế quốc dân5. Năm 2007, Việt Nam chính thức gia nhập WTO đã mở ra thị trường quốc tế, tạo không gian phát triển mới cho kinh tế tư nhân. Nhờ có không gian phát triển mới, kinh tế tư nhân đã bắt đầu có cơ hội tích lũy tư bản lớn hơn, không còn dừng ở kinh doanh dịch vụ và thương mại, mà từng bước lấn sân sang các lĩnh vực kinh doanh mới như: bất động sản, tài chính – ngân hàng và sản xuất công nghiệp. Có thể khẳng định không gian phát triển của kinh tế tư nhân trong giai đoạn 2000 – 2011 đã rộng lớn hơn rất nhiều so với trước đó và thể chế về không gian phát triển này cũng đã được hoàn thiện một bước rõ nét.

Trong giai đoạn 2012 – 2017, thể chế về không gian phát triển cho kinh tế tư nhân được hoàn thiện một bước mới, cụ thể là kinh tế tư nhân được định hình vị thế động lực với việc khẳng định các thành phần kinh tế, trong đó có kinh tế tư nhân đều là bộ phận hợp thành của kinh tế quốc dân trong Hiến pháp năm 2013. Hiến pháp năm 2013 khẳng định tạo môi trường thuận lợi cho kinh tế tư nhân có thể cạnh tranh bình đẳng với kinh tế nhà nước6. Luật Doanh nghiệp năm 2014 ra đời đã đơn giản hóa một bước thủ tục hành chính, ghi nhận kinh tế tư nhân có quyền tự do kinh doanh trong tất cả các ngành nghề mà pháp luật không cấm và quyền lợi được bảo vệ tốt hơn. Trong giai đoạn này, nhờ có sự hình thành rõ nét hơn thể chế mở rộng không gian phát triển, hình thành các tập đoàn kinh tế lớn mà một số doanh nghiệp tư nhân đã phát triển vượt bậc, như: Vingroup, Sungroup, Hòa Phát, Masan… Các tập đoàn đa ngành đã xuất hiện, bước đầu tham gia vào những dự án quy mô lớn về hạ tầng và sản xuất. Từ đây thể chế về không gian phát triển cho kinh tế tư nhân đã được thay đổi, từ thể chế cho phép tồn tại sang thể chế khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân tự do phát triển. Tính đến cuối năm 2016, theo bảng xếp hạng VNR500, có 245doanh nghiệp tư nhân lớn trong danh sách 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam (chiếm khoảng 49%)7.

 Thể chế mở rộng không gian phát triển, hình thành các tập đoàn kinh tế lớn được tiếp tục không ngừng hoàn thiện và phát triển lên một bước mới, từ “khuyến khích” sang “tạo điều kiện” để hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân lớn kể từ sau Nghị quyết số 10-NQ/TW năm 2017 ra đời. Với Nghị quyết này, vị thế kinh tế tư nhân được khẳng định ở mức cao hơn, là động lực quan trọng của nền kinh tế8. Nhờ Nghị quyết này, một số doanh nghiệp tư nhân đã tự tin và được phép đầu tư vào các lĩnh vực trước đây thuộc lĩnh vực cấm hoặc độc quyền của nhà nước như: hạ tầng sân bay, cảng biển, đường cao tốc, năng lượng tái tạo. Các đơn vị kinh tế tư nhân lớn được vinh danh và từng bước được tham gia trực tiếp vào xây dựng thể chế, cơ chế, chính sách phát triển kinh tế – xã hội ở các cấp chính quyền9. Điều này đã tạo ra một môi trường kinh doanh thuận lợi hơn rất nhiều cho kinh tế tư nhân.

Đột phá thể chế mở rộng không gian phát triển, hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân lớn còn thể hiện ở việc hình thành thể chế thúc đẩy tích tụ nguồn lực và vốn, cụ thể là mở rộng các quy định về trái phiếu doanh nghiệp, niêm yết chứng khoán. Điều này đã tạo cho một số doanh nghiệp tư nhân lớn huy động được một lượng lớn vốn trong nước và nước ngoài lên đến hàng tỷ USD. Nhờ có đổi mới và hoàn thiện thể chế mở rộng không gian phát triển, nhiều doanh nghiệp tư nhân lớn đã tiếp cận được quỹ đất đai tham gia xây dựng các hệ sinh thái đô thị – dịch vụ – công nghiệp đồng bộ.

Sau Nghị quyết số 10-NQ/TW (năm 2017) ra đời đã khẳng định thể chế mở rộng không gian phát triển, hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân lớn được khẳng định và bước đầu đạt được nhiều kết quả khả quan. Tuy nhiên, qua khảo sát cho thấy, để các tập đoàn kinh tế tư nhân lớn hình thành và cất cánh, vẫn còn tồn tại khá nhiều nút thắt và rào cản, cụ thể là chi phí vốn còn khá cao và thủ tục hành chính vẫn khá phức tạp; sự thiếu tường minh về mặt pháp lý giữa “đột phá” và “vi phạm” trong một số lĩnh vực như bất động sản, trái phiếu. Hơn nữa, cơ chế bảo vệ sự đổi mới trước xu thế phát triển mạnh mẽ của cách mạng công nghiệp 4.0, công nghệ cao và công nghệ số chưa được đồng bộ.

Thể chế mở rộng không gian phát triển, hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân lớn có đổi mới đột phá khi Nghị quyết số 68-NQ/TW (tháng 5/2025) ra đời, là bước ngoặt lớn về khẳng định vị thế của kinh tế tư nhân khi được xác định là “một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế”10. Điểm đột phá thể chế ở đây chính là phá bỏ các rào cản ngành nghề với sự cho phép kinh tế tư nhân được tham gia sâu vào các lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế mà trước đây là độc quyền nhà nước hoặc hạn chế như: hạ tầng truyền tải điện quốc gia, hạ tầng đường sắt tốc độ cao, và khai thác khoáng sản chiến lược. Đột phá thể chế còn thể hiện ở việc xây dựng thành khung pháp lý riêng để hỗ trợ các tập đoàn kinh tế tư nhân Việt Nam lớn, có năng lực dẫn dắt chuỗi cung ứng nội địa, giúp cạnh tranh sòng phẳng với các tập đoàn kinh tế đa quốc gia. Đột phá thể chế còn thể hiện ở việc hình thành pháp lý cho đổi mới sáng tạo với việc được thử nghiệm (Sandbox) đặc thù cho công nghệ cao, bán dẫn và năng lượng xanh, bảo vệ sự dám nghĩ, dám làm, không sợ sai của kinh tế tư nhân Việt Nam. Đây là một đột phá thể chế giúp các tập đoàn, như FPT, Viettel hay VinFast có không gian pháp lý để thử nghiệm các mô hình kinh doanh chưa có tiền lệ.

Nhờ có đột phá thể chế, mở rộng không gian phát triển, hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân lớn Việt Nam theo Nghị quyết số 68-NQ/TW (tháng 5/2025) mà nhiều tập đoàn kinh tế tư nhân lớn đã từng bước tiếp cận với các dòng vốn nội và ngoại với chi phí thấp thuận lợi hơn. Hơn nữa, các tập đoàn kinh tế tư nhân lớn cũng thuận lợi hơn tiếp cận với các nguồn tín dụng và trái phiếu liên quan đến chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Năm 2025, nhờ đổi mới thể chế phát triển kinh tế tư nhân mà số lượng doanh nghiệp tư nhân đã tăng nhanh, với hơn 26.000 doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường mỗi tháng11. Theo số liệu thống kê, có gần 297.500 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động trong năm 202512.

Đánh giá toàn diện 40 năm Đổi mới có thể thấy, thể chế mở rộng không gian phát triển cho kinh tế tư nhân đã có nhiều điểm mới, nhiều đột phá, đã tạo ra một môi trường hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế tư nhân lớn ngày một thuận lợi hơn. Tuy nhiên, theo Báo cáo chính trị Đại hội XIV của Đảng: “Hệ thống thể chế phát triển chưa đồng bộ, trở thành “điểm nghẽn của điểm nghẽn”13. Sự yếu kém trong xây dựng và ban hành hệ thống pháp luật thể hiện ở sự thiếu đồng bộ, chất lượng thấp, chồng chéo và mâu thuẫn nhiều, không nhất quán, thiếu ổn định và còn nhiểm điểm chưa phù hợp với các quy luật khách quan, cũng như thông lệ quốc tế. Nguyên nhân quan trọng dẫn đến hiệu quả chưa cao của luật pháp, cơ chế chính sách là do sự yếu kém trong khâu tổ chức và cách thức thực hiện. Tham nhũng và tiêu cực cũng là nguyên nhân làm cho thể chế chưa thực sự phát huy được hiệu lực, hiệu quả cần thiết. Tất cả những điều này làm cho kinh tế tư nhân khó phát triển, các doanh nghiệp tư nhân khó lớn mạnh và khó trở thành các tập đoàn kinh tế tư nhân lớn. Tình trạng các doanh nghiệp tư nhân thiếu tin tưởng, không dám đầu tư, không muốn đầu tư lớn, lâu dài là những điểm nghẽn cần thảo gỡ.

3. Một số giải pháp

Đột phá thể chế, mở rộng không gian phát triển, hình thành các tập đoàn kinh tế lớn đã được Đại hội XIV của Đảng xem là một nhiệm vụ chiến lược có tính dẫn dắt nền kinh tế đạt mục tiêu tăng trưởng cao14, đưa Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và là nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045. Với tinh thần làm ngay, nói đi đôi mới làm và làm hiệu quả, để trong thời gian ngắn có nhiều tập đoàn kinh tế tư nhân lớn Việt Nam ra đời và phát triển. Điều này đòi hỏi phải đột phá toàn diện các loại thể chế, đi liền với xây dựng và hoàn thiện, phải đẩy mạnh đột phá việc thực thi thể chế, tháo gỡ mọi điểm nghẽn đang cản trở sự phát triển nói chung, và cản trở các tập đoàn kinh tế tư nhân lớn mạnh nói riêng.

Để các doanh nghiệp tư nhân nhanh chóng lớn mạnh thành các tập đoàn kinh tế tư nhân lớn cần phải tiến hành ngay, nhanh chóng và quyết liệt một số giải pháp đột phá thể chế, như:

Một là, đột phá thể chế, mở rộng không gian phát triển, hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân lớn cần được bắt đầu từ sự thống nhất nhận thức trong toàn Đảng, toàn dân, từ trung ương đến địa phương về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của kinh tế tư nhân là một động quan trọng nhất của nền kinh tế. Đồng thời, cần nhận thức về việc chỉ có phát triển nhanh, nhiều tập đoàn kinh tế tư nhân lớn thì nền kinh tế Việt Nam mới có khả năng trở thành giàu mạnh trong kỷ nguyên vươn mình. Toàn Đảng, toàn dân cần quyết liệt xóa bỏ triệt để mọi tư duy bảo thủ, định kiến, nhận thức không phù hợp cản trở kinh tế tư nhân phát triển và cản trở các tập đoàn kinh tế tư nhân lớn mạnh. Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm cho các cấp chính quyền địa phương thúc đẩy sự phát triển của kinh tế tư nhân, gắn với cơ chế giải trình trách nhiệm của các cấp chính quyền về thực tế phát triển của kinh tế tư nhân ở các địa phương. 

Hai là, cải cách mạnh mẽ bộ máy của hệ thống chính trị, bảo đảm sự vận hành của bộ máy được thông suốt, đồng bộ và hiệu quả, loại bỏ các bộ phận không hiệu quả, không thực sự cần thiết trong bộ máy công quyền. Cần đổi mới căn bản cách thức và năng lực quản trị, chuyển mạnh từ quản lý sang kiến tạo, hỗ trợ phát triển. Quyết liệt và nhanh chóng hoàn thiện hành lang pháp lý, thúc đầy hình thành và phát triển các mô hình kinh tế mới, chuyển đổi số, công nghệ cao, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn. Thực hiện cơ chế, chính sách bảo vệ tốt sự đổi mới, sáng tạo, sự dấn thân của các doanh nghiệp tư nhân vào phát triển các mô hình kinh tế mới, khi chưa có tiền lệ và bảo đảm không hình sự hóa các hoạt động kinh tế, đặc biệt là các lĩnh vực kinh tế mới chưa có tiền lệ ở Việt Nam như tài sản số, tài sản mã hóa, kinh tế dựa trên nền tảng số.

Ba là, đột phá thể chế, tạo môi trường kinh doanh minh bạch, bình đẳng cho các tập đoàn kinh tế tư nhân, bảo đảm các đơn vị này có được đóng góp tốt nhất vào tăng trưởng kinh tế. Xây dựng hành lang pháp lý hiện đại, rõ ràng, theo thông lệ quốc tế, bảo đảm cho các tập đoàn kinh tế tư nhân Việt Nam không chỉ phát triển trên mọi lĩnh vực trong nền kinh tế Việt Nam, mà còn được phép mở rộng đầu tư ra thị trường thế giới ở mọi lĩnh vực.

Bốn là, khuyến khích và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho các tập đoàn kinh tế tư nhân Việt Nam tiến vào các ngành nghề, lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ mũi nhọn, đặc biệt là công nghệ lưỡng dụng quân sự – dân sự. Thực hiện nhiều giải pháp giảm, miễn thuế, giảm chi phí trung gian và đơn giản hóa các thủ tục hành chính, đẩy mạnh số hóa để các tập đoàn kinh tế tư nhân có thể phát triển. Áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật thống nhất theo thông lệ quốc tế để các tập đoàn kinh tế tư nhân có thể nhanh chóng tiến mạnh vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh công nghệ cao, chưa có tiền lệ ở Việt Nam. Loại bỏ mọi hành vi cấm đoán đối với các mô hình kinh doanh mới; khuyến khích thử nghiệm trong phạm vi có kiểm soát, bảo vệ và cho phép sai sót đối với các vấn đề mới. Đột phá thể chế khuyến khích mạnh mẽ các tập đoàn kinh tế tư nhân xây dựng các tổ chức nghiên cứu, phát triển (R&D) và thử nghiệm công nghệ mới trong sản xuất, kinh doanh.

Năm là, đột phá thể chế tiếp cận thông tin số, dữ liệu số cho các doanh nghiệp kinh tế tư nhân, bảo đảm các doanh nghiệp tư nhân được tiếp cận mọi thông tin về phát triển kinh tế – xã hội, các yêu cầu của sự phát triển, các tiêu chuẩn cần thiết về chương trình, kế hoạch, quy hoạch, chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong thời gian dài để làm cơ sở cho việc hoạch định chiến lược đầu tư kinh doanh của từng doanh nghiệp được thuận lợi và đúng đắn. Hỗ trợ mạnh mẽ các doanh nghiệp tư nhân tiếp cận kinh doanh trực tuyến, tìm kiếm thông tin thị trường, ngành hàng trên thị trường trong nước và thế giới.  

Sáu là, xây dựng cơ chế, chính sách để đào tạo nhanh, đáp ứng tốt về nguồn nhân lực chất lượng cao cho các doanh nghiệp tư nhân. Tạo điều kiện tốt nhất cho các tập đoàn kinh tế tư nhân tham gia đầu tư vào đào tạo, vào xây dựng và phát triển các trường cao đẳng, đại học công nghệ cao đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao. Hơn nữa, cần tạo thuận lợi tối đa để các đơn vị kinh tế tư nhân có thể đẩy nhanh thu hút nhân tài công nghệ cao, các chuyên gia trên các lĩnh vực công nghệ số, công nghệ tự động, chip, bán dẫn ở trong nước và nước ngoài để đẩy mạnh sản xuất kinh doanh.

Bảy là, cần tiến tới xóa bỏ các lĩnh vực độc quyền nhà nước, cụ thể là khuyến khích kinh tế tư nhân tham gia sâu vào các lĩnh vực hạ tầng chiến lược, các công trình giao thông lớn, các dự án năng lượng, dầu khí, các ngành nghề lưỡng dụng, như sản xuất Robot, UAV, Chip, vũ khí, viễn thông… Nhà nước chủ động đặt hàng đối với các doanh nghiệp tư nhân lớn trong việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển lớn của đất nước như xây dựng đường bộ, đường sắt cao tốc, cầu, hầm xuyên núi, sân bay, bến cảng…

Tám là, xây dựng văn hóa kinh doanh, khen thưởng xứng đáng cho các doanh nghiệp tư nhân có đóng góp to lớn về phát triển kinh tế, về tạo việc làm, về an sinh xã hội và bảo đảm an toàn, an ninh trật tự, gương mẫu, tiên phong, đột phá đầu tư sản xuất kinh doanh trong các lĩnh vực quan trọng thiết yếu của nền kinh tế. Đi liền với điều trên cần đẩy mạnh xây dựng môi trường đầu tư kinh doanh an toàn, ổn định, thuận lợi phù hợp với nền kinh tế thị trường đồng bộ, hiện đại và hội nhập theo thông lệ quốc tế.

Chín là, tăng cường hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và quyền làm chủ của Nhân dân, bảo đảm cho mọi chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng, chính sách của Nhà nước nhanh chóng đi vào cuộc sống, tạo thuận lợi tối đa, dẫn dắt và mở đường cho các tập đoàn kinh tế tư nhân lớn mạnh, đưa kinh tế tư nhân không chỉ là một động lực quan trọng nhất trong nền kinh tế mà còn là lực lượng trụ cột, cốt lõi đưa nền kinh tế Việt Nam trở nên hùng cường.

4. Kết luận

Hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân lớn là một yêu cầu cấp thiết, là điều kiện cần bảo đảm cho nền kinh tế có thể đạt được tốc độ tăng trưởng 2 con số trong năm 2026 và các năm tiếp theo. Để điều này trở thành hiện thực, yêu cầu tiên quyết là phải đột phá thể chế “điểm nghẽn của điểm nghẽn”, nhằm dẫn dắt, mở đường, huy động mọi nguồn lực và sức sản xuất trong xã hội, mở rộng không gian phát triển, hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân lớn của Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình.  

Chú thích:
1, 13, 14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr 25; 70; 84.
2. Quốc hội (1990). Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990.
3. Quốc hội (1992). Hiến pháp năm 1992.
4. Quốc hội (1999). Luật Doanh nghiệp năm 1999
5. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2002). Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 18/3/2002, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể.
6. Quốc hội (2013). Hiến pháp năm 2013
7. Công bố 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam 2016. https://vietnamnet.vn/cong-bo-500-doanh-nghiep-lon-nhat-viet-nam-2016-346419.html, ngày 14/12/2016.
8, 9.  Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2017). Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 03/6/2017 về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
10. Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
11, 12. Cục Thống kê, Bộ Tài chính (2025). Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội quý IV/2025 và năm 2025.