Innovating training and professional development activities for civil servants at departments under the Ministry of Construction to meet the requirements of building a digital government
ThS. Vũ Minh Thái
Bộ Xây dựng
(Quanlynhanuoc.vn) – Xây dựng chính phủ số đang đặt ra yêu cầu đổi mới toàn diện hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước. Đối với các cục thuộc Bộ Xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng không chỉ nhằm cập nhật kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ mà còn hướng tới phát triển năng lực số, kỹ năng khai thác dữ liệu và khả năng thực thi công vụ trên môi trường số. Trên cơ sở khảo sát 320 công chức tại các cục thuộc Bộ Xây dựng, bài viết phân tích, đánh giá thực trạng đổi mới hoạt động đào tạo, bồi dưỡng theo các phương diện về nội dung, phương thức tổ chức và điều kiện bảo đảm đào tạo. Từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng công chức, đáp ứng yêu cầu xây dựng chính phủ số trong giai đoạn hiện nay.
Từ khóa: Bộ Xây dựng; đổi mới; đào tạo, bồi dưỡng công chức; chính phủ số.
Abstract: The development of digital government has created a pressing need for comprehensive reforms in the training and professional development of civil servants within state administrative agencies. For departments under the Ministry of Construction, training and professional development are no longer limited to updating professional knowledge and technical expertise but are increasingly directed toward enhancing digital competencies, data utilization skills, and the capacity to perform public duties in a digital environment. Based on a survey of 320 civil servants working in departments under the Ministry of Construction, this article analyzes and evaluates the current state of innovation in training and professional development across three dimensions: training content, delivery methods, and enabling conditions for training. On this basis, the article proposes solutions to improve the quality of civil servant training and professional development, thereby meeting the requirements of digital government development in the current context.
Keywords: Ministry of Construction; innovation; civil servant training and professional development; digital government.
1. Đặt vấn đề
Quá trình xây dựng chính phủ số đang làm thay đổi phương thức quản trị nhà nước, từ mô hình quản lý truyền thống sang quản trị dựa trên dữ liệu, công nghệ số và kết nối liên thông. Điều này đặt ra yêu cầu đổi mới toàn diện đối với hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức nhằm hình thành đội ngũ có năng lực số, tư duy đổi mới và khả năng thích ứng với môi trường làm việc điện tử. Những năm gần đây, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực số trong khu vực công, nổi bật là Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW; Nghị quyết số 214/NQ-CP ngày 23/7/2025 về thúc đẩy tạo lập dữ liệu phục vụ chuyển đổi số toàn diện và Quyết định số 2629/QĐ-TTg ngày 01/12/2025 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển Chính phủ số đến năm 2030. Các văn bản này đều xác định phát triển nguồn nhân lực số là điều kiện then chốt để thực hiện thành công chuyển đổi số quốc gia.
Đối với Bộ Xây dựng, yêu cầu đổi mới đào tạo, bồi dưỡng công chức được cụ thể hóa thông qua: Nghị quyết số 11-NQ/ĐU ngày 09/4/2025 của Đảng ủy Bộ Xây dựng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; Quyết định số 462/QĐ-BXD ngày 21/4/2025 ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết số 71/NQ-CP; Quyết định số 1644/QĐ-BXD ngày 30/9/2025 ban hành Chiến lược chuyển đổi số của Bộ Xây dựng giai đoạn 2025 – 2030; Quyết định số 1641/QĐ-BXD ngày 30/9/2025 ban hành chiến lược dữ liệu đến năm 2030 của Bộ xây dựng. Theo đó, đào tạo, bồi dưỡng công chức không chỉ nhằm bổ sung kiến thức chuyên môn mà còn phải trang bị kỹ năng số, năng lực khai thác và phân tích dữ liệu, khả năng sử dụng các nền tảng số và thích ứng với phương thức quản trị hiện đại.
Mục tiêu của Bộ Xây dựng trong năm 2026 là “tập trung triển khai hiệu quả các nhiệm vụ chuyển đổi số trong năm 2026, hoàn thiện nền tảng số, dữ liệu số và quy trình nghiệp vụ cốt lõi, làm nền tảng cho chuyển đổi số toàn diện; tăng cường quản lý, điều hành dựa trên dữ liệu; nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp; bảo đảm môi trường làm việc số thống nhất, an toàn, minh bạch”1. Để thực hiện mục tiêu này, đội ngũ công chức tại các cục thuộc Bộ cần được trang bị đầy đủ năng lực số, kỹ năng khai thác và sử dụng dữ liệu, khả năng ứng dụng công nghệ số cũng như thích ứng với phương thức quản trị hiện đại. Do đó, đổi mới hoạt động đào tạo, bồi dưỡng theo hướng phát triển năng lực thực thi công vụ trong môi trường số không chỉ là yêu cầu tất yếu mà còn là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu xây dựng chính phủ số. Từ yêu cầu đó, việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng đổi mới hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức tại các cục thuộc Bộ Xây dựng có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn, góp phần nhận diện những hạn chế, xác định các nội dung cần tiếp tục hoàn thiện và đề xuất các giải pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng trong giai đoạn tới.
2. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng phương pháp thống kê mô tả trên thang đo Likert 5 mức để đánh giá mức độ đổi mới hoạt động đào tạo, bồi dưỡng thông qua tỷ lệ phân bố và giá trị trung bình của các biến khảo sát. Đồng thời, phương pháp so sánh được sử dụng nhằm phân tích sự khác biệt về mức độ đổi mới giữa các nhóm nội dung đào tạo, phương thức tổ chức và điều kiện bảo đảm, từ đó xác định những nội dung cần ưu tiên hoàn thiện. Kết quả phân tích định lượng được đối chiếu với các tài liệu, báo cáo và văn bản chuyên ngành nhằm bổ sung các luận cứ định tính, qua đó, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng công chức tại các cục thuộc Bộ Xây dựng đáp ứng yêu cầu xây dựng chính phủ số.
3. Thực trạng đổi mới hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức tại các cục thuộc Bộ Xây dựng
3.1. Đổi mới nội dung đào tạo, bồi dưỡng công chức nói chung
Bảng 1. Nội dung đào tạo, bồi dưỡng công chức liên quan đến Chính phủ số
| STT | Nhóm nội dung | Năm 2024 | Năm 2025 | Năm 2026 |
| 1 | Đào tạo theo vị trí việc làm | Chủ yếu tập trung vào nghiệp vụ quản lý vận tải, hạ tầng, phương tiện, đăng kiểm và an toàn giao thông | Bắt đầu lồng ghép nội dung ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và khai thác hệ thống thông tin chuyên ngành | Tiếp tục đào tạo theo vị trí việc làm nhưng bổ sung yêu cầu ứng dụng công nghệ số, quản lý trên môi trường số và khai thác hệ thống thông tin chuyên ngành |
| 2 | Đào tạo theo tiêu chuẩn ngạch công chức | Tập trung kiến thức quản lý nhà nước, kỹ năng hành chính theo tiêu chuẩn ngạch | Bổ sung một số chuyên đề về cải cách hành chính số và thực hiện công vụ trên môi trường điện tử | Bổ sung nội dung quản trị số, cải cách hành chính số và thực thi công vụ trên môi trường điện tử |
| 3 | Đào tạo chuyên ngành | Nội dung chuyên môn nghiệp vụ truyền thống theo từng lĩnh vực quản lý | Bắt đầu xuất hiện các chuyên đề về chuyển đổi số trong quản lý chuyên ngành | Bổ sung nội dung chuyển đổi số trong quản lý chuyên ngành, quản lý dữ liệu và ứng dụng công nghệ số trong thực thi nhiệm vụ |
| 4 | Đào tạo kỹ năng số | Chưa có hoặc chỉ lồng ghép trong các chương trình CNTT cơ bản | Triển khai thí điểm một số chuyên đề về kỹ năng số cơ bản | Hình thành nhóm chương trình độc lập về kỹ năng số, công nghệ số cơ bản và ứng dụng công nghệ trong công vụ |
| 5 | Đào tạo về dữ liệu số | Chưa có chương trình chuyên biệt | Bắt đầu giới thiệu các nội dung về cơ sở dữ liệu và khai thác dữ liệu | Bước đầu xuất hiện nội dung quản lý cơ sở dữ liệu, khai thác dữ liệu và sử dụng dữ liệu phục vụ quản lý nhà nước |
| 6 | Đào tạo về đổi mới sáng tạo | Chưa được xác định là nội dung trọng tâm | Được lồng ghép trong một số chương trình về chuyển đổi số và khoa học công nghệ | Được đưa vào chương trình bồi dưỡng về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số |
| 7 | Đào tạo chuyên sâu về lĩnh vực mới | Chưa có | Bước đầu nghiên cứu, xây dựng nội dung đào tạo | Xuất hiện các chương trình về đường sắt hiện đại, chuyển đổi số trong quản lý đường sắt, GIS và hệ thống giám sát thông minh |
Kết quả khảo sát ở Bảng 1 cho thấy, năm 2024, các chương trình đào tạo chủ yếu tập trung vào kiến thức quản lý nhà nước, chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng hành chính cơ bản. Từ năm 2025, các nội dung liên quan đến chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin và khai thác hệ thống thông tin chuyên ngành bắt đầu được tích hợp vào chương trình. Đến năm 2026, các nội dung về quản trị số, cải cách hành chính số và thực thi công vụ trên môi trường điện tử đã từng bước trở thành thành phần tương đối ổn định trong chương trình đào tạo. Điều này cho thấy, hoạt động đào tạo, bồi dưỡng đang từng bước chuyển từ mô hình trang bị kiến thức hành chính truyền thống sang mô hình phát triển năng lực thực thi công vụ trong môi trường số.
Nội dung đào tạo chuyên ngành cũng có sự đổi mới theo hướng gắn với yêu cầu quản lý hiện đại. Năm 2026, các nội dung về quản lý dữ liệu, ứng dụng công nghệ số và khai thác hệ thống thông tin phục vụ quản lý nhà nước được mở rộng hơn, phản ánh xu hướng quản lý ngày càng dựa trên dữ liệu và các nền tảng số.
Các chương trình đào tạo kỹ năng số cũng được hình thành rõ nét: năm 2024, kỹ năng số chưa được xác định là một nhóm nội dung độc lập mà chủ yếu được lồng ghép trong các chương trình công nghệ thông tin cơ bản. Năm 2025, các chuyên đề này bắt đầu được triển khai thí điểm; đến năm 2026, kỹ năng số đã trở thành một nhóm đào tạo riêng, tập trung vào việc sử dụng nền tảng số, công cụ số và các ứng dụng hỗ trợ thực thi công vụ trên môi trường điện tử.
Bên cạnh đó, đào tạo về dữ liệu số và đổi mới sáng tạo cũng đã được chú trọng. Năm 2026 các nội dung về quản lý cơ sở dữ liệu, khai thác dữ liệu, đổi mới sáng tạo và một số công nghệ mới, như: GIS, hệ thống giám sát thông minh đã từng bước được đưa vào chương trình đào tạo, bồi dưỡng công chức. Xu hướng này phản ánh yêu cầu ngày càng cao về năng lực dữ liệu, năng lực công nghệ và khả năng ứng dụng các công nghệ mới trong hoạt động quản lý nhà nước.
Nhìn chung, kết quả tại Bảng 1 cho thấy, hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức đã chuyển dịch từ mô hình chủ yếu trang bị kiến thức hành chính truyền thống sang mô hình phát triển kỹ năng số, năng lực dữ liệu và khả năng thích ứng với môi trường Chính phủ số. Đây là bước chuyển có ý nghĩa quan trọng, tạo nền tảng cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ công chức trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay tại các cục chuyên ngành tại Bộ Xây dựng.
3.2. Kết quả đổi mới hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức tại các cục thuộc Bộ Xây dựng
Bảng 2: Đánh giá kết quả hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức tại các cục thuộc Bộ Xây dựng
| Tiêu chí đánh giá | Đánh giá hiệu quả trên thang điểm 5 | Kiểm định mối liên hệ | Ý nghĩa thống kê |
| Sự phù hợp nội dung đào tạo, bồi dưỡng với yêu cầu thực hiện công vụ trong bối cảnh Chính phủ số | 3,63 | (1) Asymp, Sig, (2-sided): 0, 05 (2) Goodman and Kruskal’s tau: 0, 039 | Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các cục; mức độ liên hệ yếu |
| Việc đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng khai thác, sử dụng dữ liệu chuyên ngành giao thông vận tải phù hợp với yêu cầu xây dựng Chính phủ số | 3,62 | (1) Asymp, Sig, (2-sided): 0,1 | Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các cục |
| Việc đào tạo, bồi dưỡng về sử dụng các hệ thống thông tin, nền tảng số và công nghệ phục vụ quản lý chuyên ngành đã đáp ứng được yêu cầu xây dựng Chính phủ số | 3,62 | (1) Asymp, Sig, (2-sided): 0,06 | Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các cục |
| Việc đào tạo, bồi dưỡng năng lực ứng dụng công nghệ trong quản lý kết cấu hạ tầng, phương tiện, vận tải và an toàn giao thông đã đáp ứng được yêu cầu xây dựng chính phủ số | 3,63 | (1) Asymp, Sig, (2-sided): 0, 038 (2) Goodman and Kruskal’s tau: 0, 041 | Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các cục; mức độ liên hệ yếu |
| Khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng được đào tạo, bồi dưỡng vào thực tiễn quản lý nhà nước chuyên ngành giao thông vận tải trong môi trường số đã đáp ứng được yêu cầu xây dựng Chính phủ số | 3,62 | (1) Asymp, Sig, (2-sided): 0,05 (2) Goodman and Kruskal’s tau: 0, 039 | Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các cục; mức độ liên hệ yếu |
Kết quả khảo sát công chức tại các cục thuộc Bộ Xây dựng năm 2026 cho thấy, hoạt động đào tạo, bồi dưỡng đã bước đầu tạo ra những chuyển biến tích cực đối với việc thực thi công vụ trong môi trường số. Các tiêu chí khảo sát đều đạt mức từ 3,62 đến 3,63 điểm trên thang đo 5 mức, phản ánh xu hướng đánh giá tương đối tích cực của công chức đối với hiệu quả của hoạt động đào tạo, bồi dưỡng.
Nổi bật nhất là tiêu chí sự phù hợp của nội dung đào tạo, bồi dưỡng với yêu cầu thực hiện công vụ trong bối cảnh chính phủ số và đào tạo, bồi dưỡng năng lực ứng dụng công nghệ trong quản lý kết cấu hạ tầng, phương tiện, vận tải và an toàn giao thông đáp ứng yêu cầu xây dựng chính phủ số, đều đạt 3,63 điểm. Kết quả này phản ánh công chức ghi nhận những chuyển biến tích cực trong việc điều chỉnh nội dung đào tạo theo yêu cầu chuyển đổi số của ngành. Trong giai đoạn 2024 -2026, các cục thuộc Bộ Xây dựng đã tăng cường tổ chức các lớp bồi dưỡng về chuyển đổi số, chính phủ số, an toàn thông tin, trí tuệ nhân tạo, kỹ năng sử dụng các nền tảng số và các hệ thống thông tin chuyên ngành. Đồng thời, nhiều chương trình đào tạo được thiết kế gắn với yêu cầu thực hiện nhiệm vụ của từng lĩnh vực quản lý như quản lý kết cấu hạ tầng giao thông, đăng kiểm, hàng hải, đường thủy, đường sắt và hàng không. Điều này cho thấy hoạt động đào tạo đã từng bước gắn kết giữa yêu cầu của chuyển đổi số với yêu cầu chuyên môn của từng lĩnh vực quản lý nhà nước.
Tiêu chí về đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng khai thác, sử dụng dữ liệu chuyên ngành giao thông vận tải đạt 3,62 điểm. Kết quả này phản ánh công chức đã được tiếp cận nhiều hơn với các hoạt động đào tạo liên quan đến quản trị, khai thác và sử dụng dữ liệu phục vụ công tác quản lý nhà nước. Trong quá trình triển khai các cơ sở dữ liệu chuyên ngành và kết nối, chia sẻ dữ liệu với các hệ thống dùng chung của Bộ và Chính phủ, nhiều đơn vị đã tổ chức tập huấn về chuẩn hóa dữ liệu, cập nhật dữ liệu và khai thác dữ liệu trên các hệ thống chuyên ngành. Những hoạt động này góp phần nâng cao nhận thức và từng bước hình thành kỹ năng sử dụng dữ liệu trong quá trình thực hiện công vụ của đội ngũ công chức.
Đối với nội dung đào tạo về sử dụng các hệ thống thông tin, nền tảng số và công nghệ phục vụ quản lý chuyên ngành, mức điểm trung bình 3,62 cho thấy công chức đánh giá tích cực đối với hiệu quả của các chương trình bồi dưỡng trong việc nâng cao năng lực sử dụng công nghệ. Bên cạnh các khóa đào tạo tập trung, nhiều cục còn tổ chức hướng dẫn trực tiếp khi triển khai các phần mềm quản lý, hệ thống điều hành điện tử, dịch vụ công trực tuyến và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành. Việc kết hợp giữa đào tạo tập trung và hướng dẫn trong quá trình triển khai thực tế đã tạo điều kiện để công chức nhanh chóng tiếp cận, sử dụng thành thạo hơn các nền tảng số phục vụ công việc hằng ngày.
Tiêu chí về khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng được đào tạo vào thực tiễn quản lý nhà nước chuyên ngành giao thông vận tải trong môi trường số đạt 3,62 điểm. Kết quả này cho thấy hoạt động đào tạo không chỉ dừng lại ở việc trang bị kiến thức mà đã bước đầu hỗ trợ công chức áp dụng các kỹ năng số vào quá trình thực hiện nhiệm vụ. Sau các chương trình đào tạo, công chức có điều kiện vận dụng kiến thức trong khai thác cơ sở dữ liệu chuyên ngành, xử lý hồ sơ điện tử, sử dụng chữ ký số, thực hiện quy trình giải quyết thủ tục hành chính trên môi trường điện tử và vận hành các hệ thống quản lý chuyên ngành. Đây là cơ sở quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả thực thi công vụ và thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong các cơ quan thuộc Bộ Xây dựng.
Đối với tiêu chí đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng khai thác, sử dụng dữ liệu chuyên ngành giao thông vận tải (Sig = 0,10) và đào tạo, bồi dưỡng về sử dụng các hệ thống thông tin, nền tảng số và công nghệ phục vụ quản lý chuyên ngành (Sig. = 0,06), kết quả kiểm định cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các cục thuộc Bộ Xây dựng. Trong khi đó, các tiêu chí về sự phù hợp của nội dung đào tạo, năng lực ứng dụng công nghệ và khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng vào thực tiễn có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (Sig ≤ 0,05), nhưng hệ số Goodman and Kruskal’s Tau chỉ từ 0,039 – 0,041, phản ánh mức độ liên hệ rất yếu. Nhìn chung, hoạt động đào tạo, bồi dưỡng được triển khai tương đối đồng đều giữa các cục thuộc Bộ Xây dựng.
Nhìn chung, kết quả khảo sát cho thấy hoạt động đào tạo, bồi dưỡng đối với công chức tại các cục thuộc Bộ Xây dựng trong giai đoạn 2024 – 2026 được đánh giá khá tích cực. Điều này phản ánh các chương trình đào tạo đã từng bước đáp ứng yêu cầu thực hiện công vụ trong bối cảnh Chính phủ số, góp phần nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ, khai thác và sử dụng dữ liệu chuyên ngành, sử dụng các hệ thống thông tin phục vụ quản lý, cũng như tăng cường khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng vào thực tiễn công vụ. Tuy nhiên, trước yêu cầu ngày càng cao của chuyển đổi số và quản trị dựa trên dữ liệu, hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cần tiếp tục được đổi mới theo hướng tăng cường tính thực tiễn, cập nhật công nghệ và dữ liệu mới, đồng thời gắn chặt hơn với yêu cầu của vị trí việc làm và thực tiễn quản lý nhà nước.
4. Một số giải pháp
Một là, xây dựng khung năng lực số và bản đồ năng lực theo vị trí việc làm làm cơ sở xác định nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng. Thay vì tổ chức đào tạo theo kế hoạch chung hoặc theo tiêu chuẩn ngạch, Bộ Xây dựng cần xây dựng khung năng lực số dành riêng cho công chức các cục chuyên ngành, trong đó xác định rõ các nhóm năng lực cốt lõi, như: năng lực khai thác dữ liệu, sử dụng hệ thống thông tin chuyên ngành, bảo đảm an toàn thông tin, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và năng lực phối hợp trên môi trường số. Trên cơ sở đó, tiến hành đánh giá khoảng cách giữa năng lực hiện có và năng lực yêu cầu của từng vị trí việc làm để xây dựng lộ trình đào tạo cá nhân hóa. Cách tiếp cận này giúp sử dụng hiệu quả nguồn lực đào tạo, khắc phục tình trạng đào tạo dàn trải và bảo đảm mỗi công chức được bồi dưỡng đúng với yêu cầu thực thi nhiệm vụ trong bối cảnh chính phủ số.
Hai là, đổi mới phương thức đào tạo theo mô hình học tập gắn với công việc và giải quyết các bài toán thực tiễn của ngành xây dựng. Nội dung đào tạo cần chuyển từ truyền thụ kiến thức sang phát triển năng lực thông qua các tình huống thực tế phát sinh trong quá trình quản lý nhà nước. Các chương trình bồi dưỡng nên sử dụng dữ liệu thật, hồ sơ điện tử, hệ thống thông tin chuyên ngành, cơ sở dữ liệu của Bộ Xây dựng và các bài toán thực tiễn, như: quản lý quy hoạch, cấp phép xây dựng, vật liệu xây dựng, hạ tầng kỹ thuật, vận tải và đăng kiểm để tổ chức học tập theo dự án (Project-based Learning) hoặc học tập theo tình huống (Case-based Learning). Sau mỗi khóa học, công chức cần xây dựng sản phẩm ứng dụng hoặc đề xuất sáng kiến cải tiến quy trình công tác tại đơn vị. Đây vừa là hình thức đánh giá kết quả đào tạo, vừa góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ngay trong hoạt động chuyên môn của các cục.
Ba là, ứng dụng AI và phân tích dữ liệu trong quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức. Bộ Xây dựng cần xây dựng hệ thống quản trị đào tạo thông minh trên nền tảng số, tích hợp hồ sơ học tập điện tử của từng công chức, kết quả đánh giá năng lực, nhu cầu đào tạo và quá trình phát triển nghề nghiệp. Trên cơ sở dữ liệu này, trí tuệ nhân tạo có thể hỗ trợ phân tích khoảng trống năng lực, tự động gợi ý khóa học phù hợp, cá thể hóa lộ trình học tập và theo dõi mức độ tiến bộ của người học. Đồng thời, việc khai thác dữ liệu đào tạo theo thời gian thực sẽ giúp các đơn vị quản lý đánh giá hiệu quả đầu tư cho đào tạo, dự báo nhu cầu nguồn nhân lực số và kịp thời điều chỉnh chương trình theo yêu cầu phát triển của chính phủ số và Chiến lược dữ liệu của Bộ Xây dựng.
Bốn là, hoàn thiện cơ chế đánh giá hiệu quả đào tạo theo kết quả đầu ra và mức độ chuyển đổi trong thực thi công vụ. Hiệu quả đào tạo cần được đánh giá không chỉ thông qua mức độ hoàn thành khóa học mà còn dựa trên khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng vào thực tiễn công việc. Bộ Xây dựng cần xây dựng bộ chỉ số đánh giá sau đào tạo gắn với các tiêu chí, như: mức độ sử dụng các nền tảng số, tỷ lệ xử lý hồ sơ trên môi trường điện tử, khả năng khai thác dữ liệu phục vụ tham mưu, số lượng sáng kiến cải tiến quy trình và mức độ tham gia các nhiệm vụ chuyển đổi số của từng công chức. Kết quả đánh giá cần được kết nối với công tác quy hoạch, bổ nhiệm, đánh giá, xếp loại và phát triển nguồn nhân lực nhằm tạo động lực học tập thường xuyên, đồng thời hình thành cơ chế khuyến khích công chức không ngừng nâng cao năng lực số và thích ứng với yêu cầu quản trị hiện đại.
Năm là, tăng cường liên kết giữa cơ quan quản lý nhà nước, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp công nghệ trong xây dựng và tổ chức các chương trình đào tạo, bồi dưỡng công chức. Sự tham gia của doanh nghiệp và các tổ chức nghiên cứu không chỉ giúp cập nhật công nghệ mới mà còn góp phần nâng cao tính thực tiễn của chương trình đào tạo, đặc biệt đối với các nội dung liên quan đến dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và chuyển đổi số2.
Chú thích:
1. Bộ Xây dựng (2026). Khoản 1 Mục I Kế hoạch kèm theo Quyết định số 2518/QĐ-BXD ngày 31/12/2026 về việc ban hành Kế hoạch chuyển đổi số của Bộ Xây dựng năm 2026.
2. Trần Thị Tâm (2026). Nâng cao hiệu quả đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành giao thông thông minh ở Việt Nam. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Giao thông. Tập 6. Số 2, tr. 175 – 185.
Tài liệu tham khảo:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
2. Hoàng Mai (2024). Yêu cầu của chính phủ số đối với bồi dưỡng công chức hành chính. Tạp chí Quản lý nhà nước, (340), 92 – 97.
3. Dương Thị Hòa (2025). Yêu cầu đối với bồi dưỡng công chức tại bộ ở Việt Nam hiện nay. Tạp chí Quản lý nhà nước, (354). https://doi.org/10.59394/qlnn.354.2025.1220



