Kiểm soát quyền lực trong tổ chức thực hiện các quyết sách chiến lược của Đảng hiện nay

Power control in implementing the Party’s strategic decisions

TS. Đới Văn Tặng
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

(Quanlynhanuoc.vn) – Kiểm soát quyền lực trong tổ chức thực hiện các quyết sách chiến lược của Đảng là yêu cầu quan trọng nhằm bảo đảm quyền lực được thực thi đúng mục tiêu, thẩm quyền và trách nhiệm. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn, những yêu cầu đặt ra và đề xuất các giải pháp tăng cường kiểm soát quyền lực trong tổ chức thực hiện quyết sách chiến lược của Đảng hiện nay. Qua đó, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi quyết sách, phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực và tăng cường năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.

Từ khóa: Kiểm soát quyền lực; quyết sách chiến lược; tổ chức thực hiện quyết sách; thực thi quyền lực; giám sát xã hội.

Abstract: Controlling power within the organizations responsible for implementing the Party’s strategic policies is a critical requirement for ensuring that power is exercised in accordance with its intended objectives, authority, and responsibilities. This article clarifies the theoretical and practical foundations, identifies the requirements, and proposes solutions to strengthen the control of power within the organizations currently responsible for implementing the Party’s strategic policies. In doing so, it contributes to enhancing the effectiveness and efficiency of policy implementation, preventing corruption and malpractice, and strengthening the Party’s leadership and governance capabilities.

Keywords: Control of power; strategic policies; organizations implementing policies; exercise of power; social oversight.

1. Đặt vấn đề

Tổ chức thực hiện quyết sách chiến lược là khâu có ý nghĩa quyết định trong quá trình hiện thực hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành kết quả phát triển cụ thể. Đây không chỉ là giai đoạn triển khai các mục tiêu chiến lược vào thực tiễn mà còn là môi trường trực tiếp diễn ra quá trình thực thi quyền lực, nơi tiềm ẩn nguy cơ sai lệch mục tiêu, lạm quyền, lợi ích nhóm, tham nhũng, tiêu cực và những biểu hiện suy giảm hiệu lực kiểm soát quyền lực. Vì vậy, kiểm soát quyền lực trong tổ chức thực hiện quyết sách chiến lược không chỉ là yêu cầu khách quan của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng mà còn là điều kiện quan trọng bảo đảm hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong giai đoạn hiện nay.

Trong những năm qua, vấn đề kiểm soát quyền lực đã được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, như: kiểm soát quyền lực trong Đảng cầm quyền, kiểm soát quyền lực nhà nước, thực thi chính sách công và công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Tuy nhiên, vẫn còn khoảng trống nghiên cứu liên quan đến cơ chế kiểm soát quyền lực trong tổ chức thực hiện các quyết sách chiến lược của Đảng. Trong khi đó, hiệu quả của quyết sách không chỉ phụ thuộc vào tính đúng đắn của chủ trương, đường lối mà còn phụ thuộc trực tiếp vào cơ chế tổ chức thực hiện và khả năng kiểm soát quyền lực trong quá trình thực thi. Kiểm soát quyền lực trong lĩnh vực này thực chất là quá trình thiết lập các cơ chế ràng buộc, giám sát, điều chỉnh và quy trách nhiệm đối với việc sử dụng quyền lực, nhằm bảo đảm quyền lực được thực thi đúng mục tiêu, đúng thẩm quyền, đúng trách nhiệm và chịu sự kiểm tra, giám sát thường xuyên. Thực tiễn cho thấy, một quyết sách chiến lược dù được hoạch định đúng đắn vẫn có thể không đạt được mục tiêu đề ra nếu quyền lực trong tổ chức thực hiện không được kiểm soát hiệu quả.

2. Cơ sở lý luận và thực tiễn về kiểm soát quyền lực trong tổ chức thực hiện quyết sách chiến lược của Đảng

2.1. Cơ sở lý luận

Quyền lực (quyền lực chính trị, quyền lãnh đạo, cầm quyền) là khả năng của chủ thể chính trị trong việc định hướng, hoạch định và tổ chức thực hiện các quyết định nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Trong điều kiện Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền, quyền lực được tổ chức theo nguyên tắc tập trung, thống nhất nhưng luôn tiềm ẩn nguy cơ lạm quyền hoặc tha hóa nếu thiếu cơ chế kiểm soát hiệu quả.

Kiểm soát quyền lực là tổng thể các nguyên tắc, cơ chế và phương thức nhằm bảo đảm việc sử dụng quyền lực đúng mục tiêu, đúng thẩm quyền và đúng trách nhiệm; đồng thời, phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi lạm quyền, lợi dụng quyền lực hoặc làm tha hóa quyền lực. Trong hệ thống chính trị, kiểm soát quyền lực không chỉ nhằm ngăn ngừa sai phạm mà còn bảo đảm hiệu lực, hiệu quả vận hành của bộ máy và quá trình thực thi các mục tiêu chiến lược.

Quyết sách chiến lược của Đảng là những quyết định chính trị mang tính định hướng đối với các vấn đề cơ bản, trọng yếu và lâu dài của quốc gia, được thể hiện thông qua cương lĩnh, nghị quyết, chiến lược và các văn kiện lãnh đạo của Đảng. Tổ chức thực hiện quyết sách chiến lược là quá trình chuyển hóa các mục tiêu và định hướng đó thành các chương trình, kế hoạch và hoạt động cụ thể trong thực tiễn; là khâu trực tiếp biến “quyết sách chính trị” thành “kết quả thực tiễn”, giữ vai trò quyết định đối với hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng.

Từ cách tiếp cận trên, kiểm soát quyền lực trong tổ chức thực hiện quyết sách chiến lược của Đảng được hiểu là tổng thể các cơ chế, phương thức và biện pháp nhằm bảo đảm quá trình triển khai các quyết sách chiến lược diễn ra đúng mục tiêu, đúng thẩm quyền, đúng trách nhiệm; đồng thời, phòng ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời các biểu hiện lạm quyền, lợi ích nhóm, tham nhũng, tiêu cực và các sai lệch trong quá trình thực hiện.

Cơ sở lý luận của vấn đề này được hình thành trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và kiểm soát quyền lực trong hệ thống chính trị. C.Mác và Ph. Ăng ghen khẳng định: “Quyền lực nhà nước nếu không được kiểm soát sẽ trở thành công cụ áp bức xã hội”1. Và, theo V.I.Lênin, “Phải kiểm tra công việc và kiểm tra người thực hiện công việc một cách nghiêm ngặt”2, không có kiểm tra thì mọi sắc lệnh “đều chỉ là giấy lộn”. Theo đó, quyền lực phải được ràng buộc bằng trách nhiệm, đặt dưới sự kiểm tra, giám sát thường xuyên và chịu sự giám sát của nhân dân nhằm bảo đảm mọi hoạt động thực thi quyền lực đều hướng tới lợi ích của đất nước và nhân dân. “Kiểm soát quyền lực là việc sử dụng cơ chế, biện pháp nhằm phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, xử lý hành vi lạm dụng quyền lực…”3. Và, phải “Nhốt quyền lực vào trong lồng cơ chế”4.

Kiểm soát quyền lực trong tổ chức thực hiện quyết sách chiến lược của Đảng có một số đặc điểm cơ bản, như: đối tượng kiểm soát là quá trình vận hành quyền lực trong thực thi các mục tiêu chiến lược; quyền lực được thực hiện thông qua nhiều cấp, nhiều ngành và nhiều chủ thể nên dễ phát sinh tình trạng phân tán hoặc hòa tan trách nhiệm; quá trình thực hiện luôn tiềm ẩn nguy cơ sai lệch mục tiêu, lợi ích cục bộ hoặc tha hóa quyền lực; việc kiểm soát đòi hỏi cơ chế đồng bộ, liên thông và phối hợp chặt chẽ giữa các chủ thể; hiệu quả kiểm soát phụ thuộc lớn vào tính chủ động, trách nhiệm và năng lực của các chủ thể thực thi quyền lực.

2.2. Cơ sở thực tiễn

Thứ nhất, thể chế kiểm soát quyền lực trong hệ thống chính trị từng bước được hoàn thiện. Nhiều quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được ban hành và thực hiện ngày càng đồng bộ. Việc phân cấp, phân quyền gắn với công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và tăng cường kiểm tra, giám sát đã góp phần nâng cao hiệu lực quản lý, điều hành và hiệu quả kiểm soát quyền lực trong hệ thống chính trị.

Thứ hai, công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ngày càng đi vào thực chất, gắn chặt hơn với quá trình tổ chức thực hiện các quyết sách chiến lược. Sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng được tăng cường, góp phần phát hiện, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, hạn chế nguy cơ lạm quyền, tha hóa quyền lực và sai lệch trong quá trình thực thi quyết sách.

Thứ ba, kỷ luật, kỷ cương trong thực thi quyền lực được tăng cường; trách nhiệm của người đứng đầu và trách nhiệm giải trình từng bước được đề cao. Việc kết hợp giữa kỷ luật Đảng, kỷ luật hành chính và xử lý theo pháp luật đã nâng cao tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa vi phạm.

Thứ tư, hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành và sự phối hợp giữa các cấp, các ngành trong triển khai các nhiệm vụ chiến lược được nâng cao. Cải cách hành chính, chuyển đổi số và đẩy mạnh công khai, minh bạch đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động giám sát và kiểm soát quyền lực, góp phần chuyển hóa các quyết sách của Đảng thành kết quả thực tiễn.

Những kết quả trên bắt nguồn từ sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt của Đảng; yêu cầu khách quan của quá trình phát triển đất nước và hội nhập quốc tế; nhận thức ngày càng đầy đủ về vai trò của kiểm soát quyền lực trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng; cùng với sự tham gia ngày càng tích cực của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội, báo chí và Nhân dân.

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác kiểm soát quyền lực trong tổ chức thực hiện các quyết sách chiến lược vẫn còn một số hạn chế, như:

(1) Việc kiểm soát quyền lực ở nhiều nơi chưa bao quát toàn bộ quá trình thực thi quyết sách, còn thiên về phát hiện và xử lý vi phạm sau khi xảy ra. Sự phối hợp giữa các chủ thể kiểm tra, giám sát có lúc, có nơi chưa thật hiệu quả, còn chồng chéo hoặc bỏ sót trách nhiệm.

(2) Trách nhiệm giải trình ở một số lĩnh vực chưa rõ ràng; tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, sợ sai, sợ trách nhiệm vẫn còn diễn ra. Khả năng dự báo, phát hiện sớm và ngăn ngừa các biểu hiện lạm quyền còn hạn chế; ở một số nơi vẫn xuất hiện tình trạng “trên nóng, dưới lạnh” trong tổ chức thực hiện quyết sách.

(3) Việc ứng dụng công nghệ số và các nền tảng quản trị thông minh trong kiểm soát quyền lực chưa đồng bộ; mức độ công khai, minh bạch và hiệu quả giám sát xã hội còn hạn chế. Vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, doanh nghiệp và người dân chưa được phát huy đầy đủ; cơ chế tiếp nhận, phản hồi và xử lý kiến nghị còn chậm.

Những hạn chế trên chủ yếu xuất phát từ việc thể chế kiểm soát quyền lực chưa thật đồng bộ; năng lực tổ chức thực thi của một bộ phận cán bộ còn hạn chế; cơ chế phối hợp giữa các chủ thể giám sát chưa chặt chẽ; văn hóa trách nhiệm, tính công khai, minh bạch ở một số cơ quan, đơn vị chưa đáp ứng yêu cầu; đồng thời nguồn lực và điều kiện bảo đảm cho hoạt động kiểm tra, giám sát và chuyển đổi số còn nhiều khó khăn.

3. Những yêu cầu đặt ra

Trong bối cảnh đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chuyển đổi số quốc gia, kiểm soát quyền lực trong tổ chức thực hiện các quyết sách chiến lược của Đảng ngày càng trở thành yêu cầu cấp thiết. Đây không chỉ là yêu cầu của công tác xây dựng Đảng mà còn là điều kiện quan trọng bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia, phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực và củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Đó là:

Một là, tiếp tục hoàn thiện thể chế kiểm soát quyền lực trong hệ thống chính trị. Làm rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm của từng chủ thể; khắc phục tình trạng chồng chéo hoặc bỏ trống trách nhiệm; bảo đảm phân cấp, phân quyền gắn với cơ chế kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực tương ứng. Đồng thời, thiết lập cơ chế kiểm soát xuyên suốt toàn bộ quá trình tổ chức thực hiện quyết sách, từ cụ thể hóa chủ trương, phân bổ nguồn lực, tổ chức thực hiện đến kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết và đánh giá kết quả; lấy hiệu quả thực hiện quyết sách làm một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá việc thực thi quyền lực.

Hai là, bảo đảm công khai, minh bạch và tăng cường trách nhiệm giải trình trong thực thi quyền lực. Công khai đầy đủ, kịp thời các thông tin liên quan đến quản lý, điều hành, sử dụng nguồn lực công và thực hiện chính sách; tạo điều kiện để các chủ thể giám sát tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động công quyền. Quyền lực phải gắn chặt với trách nhiệm, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu; mọi quyết định và kết quả thực hiện nhiệm vụ đều phải được giải trình rõ ràng, qua đó hạn chế tình trạng lạm quyền, né tránh hoặc đùn đẩy trách nhiệm.

Ba là, nâng cao năng lực, đạo đức công vụ và tính chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ. Tăng cường năng lực quản trị, năng lực tổ chức thực hiện chính sách và khả năng thích ứng với yêu cầu chuyển đổi số, hội nhập quốc tế. Đồng thời, xây dựng văn hóa liêm chính, tinh thần trách nhiệm và ý thức tự kiểm soát quyền lực trong mỗi cán bộ, đảng viên; kết hợp chặt chẽ giữa kỷ luật, kỷ cương với cơ chế khuyến khích đổi mới sáng tạo, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Bốn là, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong kiểm soát quyền lực. Xây dựng cơ sở dữ liệu liên thông, số hóa quy trình quản lý và tổ chức thực hiện quyết sách; tăng cường ứng dụng dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo và các nền tảng quản trị số nhằm nâng cao khả năng giám sát, truy vết trách nhiệm, phát hiện sớm sai phạm và hỗ trợ ra quyết định. Đồng thời, phát triển các nền tảng tương tác số để mở rộng sự tham gia của người dân và xã hội vào hoạt động giám sát.

Năm là, tăng cường cơ chế phối hợp giữa các chủ thể kiểm soát quyền lực. Bảo đảm sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan đảng, nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội và nhân dân; hoàn thiện cơ chế liên thông giữa kiểm tra của Đảng, thanh tra nhà nước, kiểm toán, giám sát của cơ quan dân cử, giám sát xã hội và hoạt động tư pháp. Trên cơ sở đó, nâng cao hiệu quả phòng ngừa, phát hiện và xử lý sai phạm ngay từ sớm, từ xa.

Sáu là, phát huy vai trò giám sát của Nhân dân, báo chí và xã hội. Mở rộng dân chủ, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin và tạo điều kiện để nhân dân tham gia giám sát hoạt động công quyền, nhất là trong các lĩnh vực nhạy cảm. Đồng thời, phát huy vai trò của báo chí, truyền thông và các nền tảng số trong phát hiện, phản ánh và cảnh báo các biểu hiện lạm quyền, tham nhũng, tiêu cực; xây dựng cơ chế tiếp nhận, xử lý và bảo vệ hiệu quả các phản ánh, tố giác sai phạm.

Bảy là, tăng cường kiểm soát quyền lực gắn với phòng ngừa rủi ro và lợi ích nhóm trong điều kiện mới. Chuyển mạnh từ tư duy xử lý vi phạm sang chủ động phòng ngừa rủi ro quyền lực; đẩy mạnh nhận diện và kiểm soát xung đột lợi ích, tăng cường cơ chế cảnh báo sớm và đánh giá rủi ro trong quá trình thực hiện quyết sách. Đồng thời, bảo đảm sự chủ động, linh hoạt và thích ứng của hoạt động quản lý, điều hành nhưng vẫn đặt trong khuôn khổ kiểm soát chặt chẽ; chú trọng kiểm soát quyền lực trong các lĩnh vực mới như dữ liệu số, trí tuệ nhân tạo, kinh tế số và các mô hình quản trị hiện đại nhằm hạn chế nguy cơ lợi dụng khoảng trống thể chế để trục lợi hoặc thao túng chính sách.

4. Một số nhóm giải pháp

4.1. Hoàn thiện thể chế kiểm soát quyền lực

Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế phân công, phân cấp gắn với kiểm soát quyền lực. Tiếp tục rà soát, đồng bộ hóa các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước về phân công, phân cấp, ủy quyền theo hướng rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm, rõ quy trình và rõ kết quả. Phân cấp phải đi đôi với cơ chế kiểm soát tương ứng, bảo đảm nguyên tắc “trao quyền đến đâu, kiểm soát đến đó”, “ai quyết định, người đó chịu trách nhiệm”. Đồng thời, thiết lập cơ chế kiểm soát đa tầng gồm kiểm soát theo chiều dọc, chiều ngang và kiểm soát nội bộ, bảo đảm quyền lực được vận hành trong khuôn khổ thể chế chặt chẽ, cân bằng và có giám sát thường xuyên.

Thứ hai, thể chế hóa trách nhiệm giải trình trong thực thi quyền lực. Xác định trách nhiệm giải trình là nguyên tắc bắt buộc trong hoạt động công vụ và tổ chức thực hiện quyết sách. Nội dung giải trình phải bao quát căn cứ ra quyết định, quá trình triển khai và kết quả thực hiện. Đồng thời, phân định rõ trách nhiệm giải trình trong nội bộ, trước cơ quan giám sát và trước nhân dân; gắn trách nhiệm giải trình với đánh giá cán bộ, công tác kiểm tra, giám sát và xử lý trách nhiệm. Việc giải trình cần hướng tới đánh giá hiệu quả thực chất của quá trình thực hiện, bảo đảm các quyết sách chiến lược được chuyển hóa thành những kết quả phát triển cụ thể, có thể đo lường và kiểm chứng.

Thứ ba, tăng cường minh bạch hóa và số hóa trong vận hành quyền lực. Đẩy mạnh công khai, minh bạch thông tin và chuyển đổi số trong quản lý, điều hành nhằm nâng cao hiệu lực kiểm soát quyền lực. Xây dựng hệ thống dữ liệu dùng chung, liên thông giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị, bảo đảm khả năng theo dõi, giám sát và đánh giá quá trình thực hiện quyết sách theo thời gian thực; qua đó hạn chế tình trạng bất cân xứng thông tin và thu hẹp “vùng mờ” trong vận hành quyền lực.

4.2. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng

Một là, nâng cao hiệu lực kiểm tra, giám sát theo hướng chủ động và dựa trên quản trị rủi ro. Chuyển mạnh từ kiểm tra, giám sát mang tính bị động sang chủ động phòng ngừa; lấy phát hiện sớm và ngăn ngừa vi phạm làm trọng tâm. Tập trung giám sát các lĩnh vực, khâu và vị trí có nguy cơ phát sinh tham nhũng, tiêu cực hoặc lạm quyền; đồng thời chuẩn hóa các tiêu chí giám sát theo hướng định lượng, có khả năng đo lường và so sánh. Kiểm tra, giám sát không chỉ nhằm phát hiện và xử lý vi phạm mà còn góp phần phòng ngừa từ sớm, từ xa nguy cơ tha hóa quyền lực và lợi ích nhóm.

Hai là, thiết lập cơ chế giám sát liên thông trong hệ thống chính trị. Tăng cường phối hợp giữa Ủy ban Kiểm tra các cấp với các cơ quan thanh tra, kiểm toán, điều tra, tư pháp và các cơ quan giám sát của Quốc hội. Cơ chế liên thông cần bảo đảm sự thống nhất về dữ liệu, quy trình và trách nhiệm. Trên nền tảng chuyển đổi số, từng bước hình thành hệ thống giám sát tích hợp, cho phép theo dõi và cảnh báo kịp thời các sai lệch trong quá trình thực hiện quyết sách.

Ba là, thể chế hóa cơ chế thực thi và phản hồi sau giám sát. Thiết lập cơ chế bắt buộc thực hiện các kết luận, kiến nghị sau kiểm tra, giám sát; đồng thời thực hiện kiểm tra lại nhằm đánh giá mức độ khắc phục sai phạm và hiệu quả của các biện pháp xử lý. Qua đó hình thành chu trình giám sát khép kín, gồm: phát hiện – kết luận – thực hiện – kiểm tra lại – hoàn thiện cơ chế.

Bốn là, kết hợp giám sát tổ chức với giám sát cá nhân. Công tác giám sát cần đồng thời hướng tới tổ chức và người đứng đầu, khắc phục tình trạng phân tán hoặc hòa tan trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ. Qua đó tăng cường trách nhiệm cá nhân, nâng cao tính ràng buộc trong thực thi quyền lực và bảo đảm quyền lực được vận hành đúng mục tiêu, đúng định hướng và có hiệu quả.

4.3. Kiểm soát quyền lực theo chu trình chính sách

Thứ nhất, kiểm soát quyền lực ngay từ khâu hoạch định quyết sách. Tăng cường kiểm soát tiền kiểm đối với các quyết sách chiến lược, bảo đảm đánh giá đầy đủ cơ sở chính trị, pháp lý, thực tiễn và tác động dài hạn của chính sách. Đồng thời, thể chế hóa cơ chế phản biện đa chiều nhằm nâng cao chất lượng quyết định và hạn chế các biểu hiện chủ quan trong hoạch định chính sách.

Thứ hai, kiểm soát chặt chẽ trong quá trình tổ chức thực hiện. Bảo đảm phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm và quy trình thực hiện; gắn quyền hạn với trách nhiệm giải trình và cơ chế giám sát tương ứng. Đồng thời, đẩy mạnh công khai, minh bạch và ứng dụng công nghệ số để theo dõi, đánh giá tiến độ và kết quả thực hiện quyết sách.

Thứ ba, xác định giám sát là trung tâm điều phối của chu trình chính sách. Kết hợp chặt chẽ giữa giám sát của Đảng, Nhà nước và xã hội; chuyển dần từ giám sát định kỳ sang giám sát dựa trên dữ liệu và theo thời gian thực, qua đó nâng cao khả năng phát hiện sớm và xử lý kịp thời các sai lệch trong quá trình thực hiện.

Thứ tư, thiết lập cơ chế phản hồi chính sách hai chiều. Bảo đảm các thông tin từ thực tiễn thực hiện được phản hồi đầy đủ trở lại quá trình hoạch định và điều chỉnh chính sách; hình thành cơ chế học tập chính sách liên tục, khắc phục tình trạng tách rời giữa quyết sách và thực tiễn triển khai.

Thứ năm, bảo đảm tính thích ứng có kiểm soát của chính sách. Kiểm soát quyền lực không đồng nghĩa với cứng nhắc hóa hoạt động quản lý, điều hành mà phải tạo điều kiện cho sự chủ động, sáng tạo trong khuôn khổ thể chế. Việc điều chỉnh chính sách cần được thực hiện linh hoạt nhưng có kiểm soát, bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu ổn định thể chế và khả năng thích ứng trước những biến động của thực tiễn phát triển.

4.4. Chuyển đổi số trong kiểm soát quyền lực

Một là, xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất, liên thông trong toàn hệ thống chính trị. Cần tích hợp thông tin từ các khâu hoạch định, tổ chức thực hiện, giám sát và đánh giá chính sách, bảo đảm khả năng truy cập, khai thác và đối chiếu thông tin kịp thời, chính xác. Đồng thời, khắc phục tình trạng phân tán thông tin, tạo nền tảng cho việc phân tích tổng thể quá trình vận hành quyền lực, qua đó nâng cao tính minh bạch và giảm thiểu “vùng mờ thông tin” trong quản trị.

Hai là, triển khai giám sát quyền lực theo thời gian thực dựa trên dữ liệu số. Cần chuyển đổi phương thức giám sát từ định kỳ sang liên tục, từ giám sát thủ công sang giám sát dựa trên dữ liệu (data-driven monitoring). Thông qua các nền tảng số, quá trình thực hiện quyết sách được theo dõi theo thời gian thực, giúp các cơ quan kiểm soát kịp thời phát hiện những dấu hiệu bất thường hoặc sai lệch trong thực thi quyền lực. Qua đó, rút ngắn độ trễ trong giám sát, nâng cao khả năng phản ứng chính sách và giảm thiểu nguy cơ sai phạm kéo dài không được phát hiện.

Ba là, thiết lập cơ chế cảnh báo sớm sai phạm trong vận hành quyền lực. Cần xây dựng hệ thống cảnh báo sớm dựa trên phân tích dữ liệu và các chỉ số rủi ro nhằm nhận diện các xu hướng bất thường, điểm nghẽn hoặc dấu hiệu vi phạm tiềm ẩn trong quá trình thực hiện quyết sách. Cơ chế cảnh báo sớm cần được thiết kế theo hướng tự động hóa một phần, kết hợp giữa phân tích dữ liệu lớn và đánh giá chuyên gia, qua đó hỗ trợ cơ quan kiểm soát đưa ra quyết định kịp thời, hạn chế nguy cơ sai phạm nghiêm trọng.

Bốn là, tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình thông qua nền tảng số. Chuyển đổi số không chỉ phục vụ giám sát nội bộ mà còn góp phần nâng cao tính minh bạch trong toàn bộ quá trình vận hành quyền lực. Việc công khai hóa dữ liệu liên quan đến thực hiện quyết sách giúp tăng cường khả năng giám sát của xã hội, thúc đẩy trách nhiệm giải trình của các chủ thể có thẩm quyền. Đồng thời, tạo động lực thể chế tích cực, hạn chế hành vi lạm quyền và nâng cao chất lượng quản trị công.

4.5. Phát huy giám sát xã hội trong kiểm soát quyền lực

Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện cơ chế để Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên thực hiện đầy đủ quyền giám sát đối với việc triển khai các quyết sách chiến lược của Đảng. Nội dung giám sát cần tập trung vào việc thực hiện mục tiêu, tiến độ, hiệu quả và trách nhiệm của các chủ thể được giao quyền. Đồng thời, nâng cao chất lượng phản biện xã hội đối với các chương trình, kế hoạch và phương án tổ chức thực hiện nhằm kịp thời phát hiện những bất cập, hạn chế nguy cơ sai lệch ngay từ giai đoạn đầu triển khai.

Thứ hai, phát huy vai trò chủ thể giám sát của nhân dân. Cần mở rộng các kênh tiếp nhận ý kiến, kiến nghị, phản ánh và đánh giá của người dân, bảo đảm mọi phản ánh chính đáng đều được xem xét, xử lý và phản hồi kịp thời. Phát huy dân chủ ở cơ sở, tạo điều kiện để người dân tham gia giám sát trực tiếp hoạt động quản lý, điều hành và thực thi quyền lực của các cơ quan, tổ chức và cán bộ có thẩm quyền. Thông qua giám sát xã hội, góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm, đạo đức công vụ và tinh thần phục vụ nhân dân của đội ngũ cán bộ, xây dựng hình ảnh người cán bộ vì dân, gần dân, trọng dân.

Thứ ba, đẩy mạnh công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình. Cần xác định minh bạch thông tin là điều kiện tiên quyết để giám sát xã hội được thực hiện thực chất và hiệu quả. Các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm thực hiện quyết sách phải công khai đầy đủ mục tiêu, nhiệm vụ, nguồn lực, tiến độ, kết quả thực hiện và trách nhiệm của từng chủ thể liên quan. Đồng thời, thực hiện nghiêm cơ chế giải trình đối với những vấn đề xã hội quan tâm, nhất là việc sử dụng nguồn lực công, hiệu quả thực hiện quyết sách và các dấu hiệu vi phạm trong thực thi quyền lực.

Thứ tư, phát huy vai trò của báo chí, truyền thông và nền tảng số trong giám sát xã hội. Báo chí và truyền thông là kênh quan trọng trong phát hiện, phản ánh các bất cập, hạn chế và tạo áp lực xã hội nhằm nâng cao trách nhiệm của các chủ thể thực thi quyền lực. Cần khai thác hiệu quả các nền tảng số, hệ thống phản ánh hiện trường, cổng dữ liệu mở và các công cụ tương tác trực tuyến nhằm mở rộng sự tham gia của người dân vào hoạt động giám sát. Từng bước hình thành cơ chế giám sát xã hội theo thời gian thực, góp phần nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực.

5. Kết luận

Kiểm soát quyền lực trong tổ chức thực hiện các quyết sách chiến lược của Đảng là yêu cầu khách quan nhằm bảo đảm quyền lực được vận hành đúng mục tiêu, đúng thẩm quyền, đúng trách nhiệm và đạt hiệu quả thực tiễn. Đây không chỉ là cơ chế phòng ngừa, phát hiện và xử lý các biểu hiện lạm quyền, tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm mà còn là điều kiện quan trọng để nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi các quyết sách chiến lược của Đảng.

Kiểm soát quyền lực hiệu quả không làm hạn chế quyền lực mà góp phần bảo đảm quyền lực được sử dụng đúng đắn, minh bạch và có trách nhiệm, qua đó nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, hiệu lực quản trị quốc gia và tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước.

Chú thích:
1. C.Mác, Ph Ăng ghen Toàn tập (2026). Tập 17. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
2. V.I.Lênin Toàn tập (1978). Tập 44. NXB Tiến bộ, Mát-xcơ-va, tr. 44.
3. Bộ Chính trị (2019). Quy định số 205-QĐ/TW ngày 23/9/2019 về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền.
4. Nguyễn Phú Trọng (2021). Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2023). Quy định số 114-QĐ/TW ngày 11/7/2023 về kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I, Tập II. H. NXB. Chính trị quốc gia Sự thật.
3. Quốc hội (2018). Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.
4. Nguyễn Phú Trọng (2023). Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh. H. NXB. Chính trị quốc gia Sự thật.