The Party leads the development of human resources in the cultural industry in the new era
ThS. Bùi Trung Dũng
Văn phòng Tỉnh ủy Tuyên Quang
(Quanlynhanuoc.vn) – Đảng luôn xác định cán bộ là nhân tố quyết định sự thành công của cách mạng và sự phát triển của đất nước. Trong bối cảnh công nghiệp văn hóa được xem là động lực phát triển mới, việc xây dựng đội ngũ cán bộ, chuyên gia và nguồn nhân lực chất lượng cao giữ vai trò then chốt. Vì vậy, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với phát triển nguồn nhân lực công nghiệp văn hóa có ý nghĩa quyết định, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Từ khóa: Văn hóa; Công nghiệp văn hóa; nguồn nhân lực.
Abstract: The Communist Party of Vietnam consistently regards cadres as the decisive factor in the success of the revolution and national development. In the context of cultural industries being recognized as a new driver of growth, the development of a high-quality workforce, including cadres and experts, plays a pivotal role. Therefore, strengthening the Party’s leadership in developing human resources for the cultural industries is of critical importance to meeting the requirements of national development in the new era.
Keywords: Culture, Cultural Industries, Human Resources.
1. Quan điểm, chủ trương của Đảng về phát triển nguồn nhân lực công nghiệp văn hóa
Ngay từ Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII (năm 1998), Đảng đã định hướng rằng việc xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc phải gắn liền với việc chăm lo, bồi dưỡng nguồn nhân lực. Đến Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 của Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI), khái niệm “công nghiệp văn hóa” chính thức được đưa vào Văn kiện của Đảng với tư cách là một định hướng chiến lược. Để thực hiện định hướng này, Nghị quyết số 33-NQ/TW nhấn mạnh yêu cầu phải đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là phải xây dựng đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ đông đảo, có chất lượng, có phẩm chất chính trị, đạo đức, có năng lực sáng tạo.
Từ cách tiếp cận coi văn hóa là một mặt trận, Đảng ta đã từng bước nhận thức sâu sắc hơn về khía cạnh kinh tế của văn hóa, từ đó đặt ra những yêu cầu mới đối với các chủ thể tham gia vào lĩnh vực này. Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, một trong những nhiệm vụ trọng tâm là khẩn trương triển khai phát triển có trọng tâm, trọng điểm ngành công nghiệp văn hóa và dịch vụ văn hóa trên cơ sở xác định và phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam. Trong đó, nhấn mạnh tầm quan trọng của nhân tố con người khi đưa ra chủ trương phát hiện, bồi dưỡng, trọng dụng nhân tài; thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là các chuyên gia đầu ngành, trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang tác động sâu sắc đến mọi lĩnh vực, thúc đẩy mạnh mẽ sự chuyển đổi số trong các ngành công nghiệp văn hóa. Nguồn nhân lực công nghiệp văn hóa không chỉ đơn thuần là đội ngũ nghệ sĩ sáng tác mà còn phải là một hệ sinh thái nhân lực đồng bộ gồm: đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý hoạch định chính sách; đội ngũ chuyên gia, doanh nhân văn hóa có năng lực tổ chức sản xuất, kinh doanh sản phẩm văn hóa và đội ngũ lao động sáng tạo trực tiếp ứng dụng công nghệ hiện đại.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, với những định hướng về “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc,” đặt ra yêu cầu phải đột phá về thể chế và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Tập trung đào tạo nhân lực chất lượng cao theo chuẩn quốc tế, đáp ứng yêu cầu phát triển các ngành công nghiệp và công nghệ chiến lược. Đại hội XIV của Đảng xác định phát triển mạnh công nghiệp văn hóa, dịch vụ văn hóa nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân. Vì thế, nâng cao phẩm chất, năng lực của cán bộ lãnh đạo, quản lý về văn hóa và phát triển con người là rất quan trọng. Chăm lo đội ngũ văn nghệ sĩ và những người làm công tác văn hóa, nhất là văn hóa cơ sở, đồng thời coi trọng chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, phát triển hệ thống hạ tầng đồng bộ.
Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam nhấn mạnh: xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, cán bộ cấp chiến lược, phát triển nguồn nhân lực văn hóa; chú trọng công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, công chức, viên chức, người lao động, nhất là cán bộ chủ chốt và những người làm công tác văn hóa, nghệ thuật ở địa phương. Xây dựng và phát triển mạng lưới chuyên gia trong và ngoài nước về văn hóa. Có thể nhận thấy, quan điểm của Đảng về phát triển nguồn nhân lực công nghiệp văn hóa là một hệ thống lý luận nhất quán, mang tính chiến lược, vừa kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của con người trong lịch sử, vừa cập nhật những xu thế tiên tiến của quản trị kinh tế – xã hội hiện đại.
2. Thực trạng Đảng lãnh đạo phát triển nguồn nhân lực ngành công nghiệp văn hóa thời gian qua
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý, điều hành của Nhà nước, việc phát triển đội ngũ cán bộ, chuyên gia và lực lượng lao động trong các ngành công nghiệp văn hoá thời gian qua đã đạt được những thành tựu bước đầu rất đáng ghi nhận, tạo xung lực mới cho nền kinh tế quốc dân.
Thứ nhất, quy mô lực lượng lao động tăng trưởng nhanh, bước đầu hình thành đội ngũ nhân lực trẻ, năng động.
Thể chế hóa chủ trương của Đảng, Nhà nước đã ban hành Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hoá ở Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Điều này đã thúc đẩy sự chuyển dịch tích cực trong cơ cấu lao động. Theo số liệu thống kê, quy mô lực lượng lao động trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa đã tăng từ khoảng 1,7 triệu người năm 2018 lên 2,3 triệu người năm 2022. Tỷ lệ lao động trong lĩnh vực này trong tổng lực lượng lao động của nền kinh tế tăng từ 3,10% (năm 2018) lên 4,42% (năm 2022), với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 7,44%/năm trong giai đoạn 5 năm. Đây là một tín hiệu cho thấy các chính sách thu hút lao động của Đảng và Nhà nước đang đi đúng hướng, đáp ứng sự dịch chuyển của cơ cấu kinh tế.
Thứ hai, công tác đào tạo, bồi dưỡng được cấp ủy, chính quyền quan tâm, từng bước chuẩn hóa.
Hệ thống các cơ sở đào tạo chuyên nghiệp về văn hóa, nghệ thuật được sắp xếp và đầu tư. Hiện nay trên cả nước có 54 cơ sở đào tạo trung cấp, cao đẳng, đại học văn hóa nghệ thuật chuyên nghiệp2. Việc cụ thể hóa các đề án lớn của Chính phủ như, đào tạo tài năng lĩnh vực văn hoá nghệ thuật đến năm 2025, tầm nhìn 2030 hay đào tạo, bồi dưỡng văn hoá nghệ thuật ở nước ngoài đến năm 2030 đã giúp tuyển chọn, bồi dưỡng được nhiều sinh viên, cán bộ đi học tập nâng cao trình độ ở các quốc gia có nền công nghiệp văn hóa phát triển như Mỹ, Nga, Australia… Đặc biệt, trong bối cảnh toàn cầu hóa, lực lượng lao động như lập trình viên mảng phần mềm giải trí, thiết kế trò chơi (game) của Việt Nam đang được thế giới đánh giá cao.
Thứ ba, công tác cán bộ trong quản lý văn hóa có nhiều chuyển biến.
Thời gian qua, các địa phương trên cả nước đã đầu tư, chú trọng hơn công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ văn hóa nói chung và cán bộ chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở nói riêng. Theo Cục Văn hóa cơ sở, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, số lượng cán bộ, công chức, viên chức hiện nay đang làm việc tại các thiết chế văn hóa cấp tỉnh có trình độ đại học, cao đẳng trở lên chiếm khoảng 60%; cán bộ có trình độ trung cấp chiếm khoảng 32%. Ở cấp huyện, cán bộ, công chức, viên chức có trình độ đại học, cao đẳng chiếm khoảng 49%, trình độ trung cấp chiếm khoảng 37%; ở cấp xã, cán bộ, công chức, viên chức có trình độ đại học, cao đẳng chiếm khoảng 16%, trình độ trung cấp chiếm khoảng 71%3. Cấp ủy các cấp đã chú trọng hơn trong việc quy hoạch, luân chuyển và bổ nhiệm những cán bộ có chuyên môn, am hiểu sâu sắc về lĩnh vực văn hóa – nghệ thuật vào các vị trí lãnh đạo quản lý. Việc chuyển đổi tư duy từ “quản lý văn hóa đơn thuần” sang “quản lý kinh tế trong văn hóa” bước đầu được manh nha ở những đô thị lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, qua đó, kiến tạo môi trường thuận lợi để hình thành gần 200 không gian văn hóa sáng tạo trên cả nước4.
Bên cạnh những kết quả đạt được, sự lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với nguồn nhân lực công nghiệp văn hoá vẫn còn bộc lộ những hạn chế so với yêu cầu hội nhập và phát triển:
Một là, sự thiếu hụt về chất lượng và mất cân đối trong cơ cấu nguồn nhân lực.
Dù số lượng tăng nhanh, chất lượng lao động vẫn chưa đáp ứng yêu cầu của chuỗi giá trị toàn cầu. Báo cáo tổng hợp Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hoá Việt Nam chỉ rõ, nguồn nhân lực trong các ngành công nghiệp văn hóa còn thiếu về số lượng và có những lĩnh vực còn hạn chế về chất lượng. Thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao… ở các tỉnh vẫn thiếu nhân sự chuyên môn sâu trong lĩnh vực quản lý, sáng tạo và kinh doanh văn hóa5. Mặc dù quy mô lao động trong các ngành công nghiệp văn hóa tăng nhanh, song chất lượng nguồn nhân lực vẫn chưa đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế sáng tạo và chuyển đổi số.
Phần lớn lao động được đào tạo theo chuyên môn truyền thống, trong khi kỹ năng số, năng lực khai thác dữ liệu, vận hành nền tảng trực tuyến và phát triển sản phẩm văn hóa trên môi trường số còn hạn chế. Năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong sáng tạo nội dung, quản lý dữ liệu văn hóa và phát triển các sản phẩm truyền thông số còn ở mức thấp, làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp văn hóa trong nước. Bên cạnh đó, nguồn nhân lực chuyên sâu về quản trị quyền tác giả, quyền liên quan và tài sản trí tuệ còn thiếu hụt, trong khi đây là yếu tố quan trọng tạo ra giá trị gia tăng trong nền kinh tế sáng tạo. Nhân lực làm công tác marketing văn hóa, phát triển thị trường và xây dựng thương hiệu văn hóa cũng chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn. Đặc biệt, Việt Nam còn thiếu đội ngũ quản trị nghệ thuật và công nghiệp văn hóa chuyên nghiệp như nhà sản xuất, giám đốc sáng tạo, quản lý dự án văn hóa và chuyên gia phát triển sản phẩm văn hóa. Sự thiếu hụt này khiến nhiều sản phẩm sáng tạo có giá trị chuyên môn nhưng chưa được thương mại hóa hiệu quả, chưa chuyển hóa tương xứng thành giá trị kinh tế.
Hai là, bất cập trong cơ chế chính sách tuyển dụng, đãi ngộ và trọng dụng nhân tài.
Dưới góc độ đáp ứng yêu cầu phát triển công nghiệp văn hoá và chuyển đổi số, chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý văn hóa vẫn còn những hạn chế. Mặc dù tỷ lệ cán bộ có trình độ đại học, cao đẳng ngày càng tăng, song trình độ chuyên môn chưa đồng đều giữa các cấp, đặc biệt ở cấp xã, phường. Nhiều cán bộ được đào tạo theo hướng quản lý hành chính truyền thống, trong khi kiến thức về kinh tế sáng tạo, quản trị công nghiệp văn hóa, quản lý tài sản trí tuệ, phát triển thị trường văn hóa và chuyển đổi số còn hạn chế. Không ít địa phương vẫn thiếu đội ngũ cán bộ có khả năng tham mưu, hoạch định chính sách và tổ chức triển khai các chương trình phát triển công nghiệp văn hóa theo hướng hiện đại. Bên cạnh đó, năng lực kết nối giữa quản lý nhà nước với doanh nghiệp, nghệ sĩ, nhà sáng tạo và các chủ thể của thị trường văn hóa chưa thực sự hiệu quả. Tư duy quản lý ở một số nơi vẫn thiên về bảo tồn và tổ chức hoạt động văn hóa theo cơ chế hành chính, chưa chú trọng đầy đủ đến việc phát huy giá trị kinh tế của các nguồn lực văn hóa. Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, những hạn chế về năng lực quản trị, khả năng ứng dụng công nghệ và tư duy thị trường đang trở thành rào cản đối với việc xây dựng đội ngũ cán bộ văn hóa đáp ứng yêu cầu phát triển công nghiệp văn hóa trong giai đoạn mới.
Chính sách đãi ngộ, thu hút người làm văn hóa, nghệ thuật và các chuyên gia hiện nay chưa thực sự phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Cơ chế tiền lương, chế độ nhuận bút, bồi dưỡng biểu diễn đối với viên chức hoạt động nghệ thuật trong các đơn vị sự nghiệp công lập vẫn còn nặng tính cào bằng, chưa phản ánh đúng giá trị của sức lao động sáng tạo. Điều này dẫn đến tình trạng “chảy máu chất xám”, khi nhiều tài năng nghệ thuật và chuyên gia giỏi rời bỏ khu vực nhà nước để làm việc cho các tập đoàn giải trí nước ngoài hoặc các công ty tư nhân.
Ba là, công tác đào tạo chưa gắn liền với nhu cầu của thị trường công nghiệp văn hóa.
Tư duy của nhiều cơ sở đào tạo vẫn nặng về lý thuyết học thuật truyền thống, thiếu gắn kết với doanh nghiệp và thị trường. Trong số lao động lĩnh vực xuất bản, có tới 40% là lao động sơ cấp nghề hoặc chưa qua đào tạo; số lao động có trình độ trên đại học chỉ chiếm chưa tới 1%. Việc chưa kịp thời xây dựng các mã ngành đào tạo mới như Quản trị tài sản trí tuệ, Kinh tế số văn hóa, Kinh doanh nghệ thuật khiến nguồn cung lao động luôn trong tình trạng “vừa thừa vừa thiếu”. Bên cạnh đó, vẫn còn tình trạng cấp ủy, chính quyền địa phương xem văn hóa thuần túy là lĩnh vực tiêu tốn ngân sách, mang tính phong trào, giải trí đơn thuần, chứ chưa nhìn nhận dưới góc độ là một ngành công nghiệp có giá trị kinh tế. Sự yếu kém trong nhận thức này dẫn đến việc bố trí cán bộ lãnh đạo văn hóa thiếu năng lực kiến tạo thị trường, làm chậm nhịp độ triển khai các đề án và chiến lược đã được phê duyệt.
3. Một số giải pháp
Thứ nhất, đổi mới mạnh mẽ tư duy của các cấp ủy Đảng về công tác cán bộ trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa.
Đảng cần xác định rõ cán bộ quản lý công nghiệp văn hóa là một loại cán bộ đặc thù. Do đó, tiêu chuẩn đánh giá và quy hoạch cán bộ lãnh đạo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, lãnh đạo các tập đoàn, tổng công ty văn hóa, truyền thông của Nhà nước cần được điều chỉnh. Cấp ủy các cấp cần mạnh dạn phát hiện, luân chuyển và bổ nhiệm những cán bộ không chỉ có bản lĩnh chính trị vững vàng mà còn phải có tư duy kinh tế, am hiểu thị trường, nhạy bén với công nghệ số và có khả năng hội nhập quốc tế sâu rộng. Xóa bỏ tư duy bổ nhiệm cán bộ “trái ngành” quản lý văn hóa theo kiểu sắp xếp chỗ ngồi, mà phải đặt đúng người, đúng năng lực kiến tạo hệ sinh thái sáng tạo.
Thứ hai, lãnh đạo Nhà nước thể chế hóa các chính sách đột phá nhằm thu hút, trọng dụng nhân tài và các chuyên gia đầu ngành.
Đảng ủy Chính phủ lãnh đạo Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành liên quan khẩn trương rà soát, bổ sung cơ chế, chính sách hỗ trợ đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, nghệ nhân và người làm sáng tạo. Cần sớm ban hành các quy định đặc thù về chế độ tiền lương, phụ cấp, định mức khoán, nhuận bút và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với các chuyên gia, nhà sản xuất phim, đạo diễn, biên kịch và kỹ sư phần mềm. Bên cạnh đó, các cấp ủy đảng cần cụ thể hóa Kết luận số 12-KL/TW ngày 12/8/2021 để tăng cường các chính sách thu hút kiều bào, trí thức người Việt Nam ở nước ngoài có chuyên môn sâu về công nghiệp văn hóa giải trí, nghệ thuật biểu diễn về nước cống hiến, chuyển giao công nghệ và dẫn dắt các dự án tầm cỡ quốc gia.
Đặc biệt, xây dựng khung năng lực đối với cán bộ quản lý văn hóa các cấp theo hướng kết hợp giữa năng lực quản lý nhà nước và năng lực quản trị công tác văn hóa. Trong đó, chú trọng các tiêu chí về tư duy thị trường, năng lực chuyển đổi số, khả năng huy động nguồn lực xã hội, hợp tác công – tư và phát triển hệ sinh thái sáng tạo. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ văn hóa cần chuyển từ việc trang bị kiến thức hành chính đơn thuần sang nâng cao năng lực hoạch định chính sách và quản trị phát triển.
Thứ ba, lãnh đạo, định hướng công tác giáo dục – đào tạo, đẩy mạnh xã hội hóa nhằm nâng cao chất lượng nguồn lao động.
Đảng lãnh đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch khẩn trương hoàn thiện hệ thống mã ngành đào tạo, xây dựng chuẩn đầu ra theo khung trình độ quốc gia cho các lĩnh vực công nghiệp văn hoá. Phải đổi mới cơ cấu chương trình, tăng cường đào tạo các kỹ năng về kinh doanh, thương mại quốc tế, bản quyền và pháp luật quốc tế cho sinh viên nghệ thuật. Đồng thời, cấp ủy, chính quyền cần khuyến khích, tạo hành lang pháp lý thông thoáng để các hội, hiệp hội và các tập đoàn tư nhân tham gia sâu vào quá trình đào tạo nguồn nhân lực thông qua mô hình “đào tạo kép”, kết nối nhà trường với không gian sáng tạo và doanh nghiệp. Đẩy mạnh việc cử các cán bộ quản lý, văn nghệ sĩ tài năng đi đào tạo thực tế tại các quốc gia có nền công nghiệp giải trí hàng đầu như Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ…
Tiếp tục đẩy mạnh đào tạo và bồi dưỡng kỹ năng số cho đội ngũ cán bộ quản lý văn hóa, văn nghệ sĩ và người lao động trong các ngành công nghiệp văn hoá. Chú trọng xây dựng các chương trình đào tạo về trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn, truyền thông số, sản xuất nội dung số, quản trị nền tảng trực tuyến và kinh doanh sản phẩm văn hóa trên môi trường số theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Từng bước hình thành đội ngũ nhân lực có khả năng kết hợp giữa sáng tạo văn hóa và công nghệ hiện đại, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Cần ưu tiên phát triển các ngành đào tạo và bồi dưỡng mới như quản trị nghệ thuật, quản lý dự án văn hóa, marketing văn hóa, kinh doanh nghệ thuật, phát triển thương hiệu văn hóa và quản trị tài sản trí tuệ. Đây là những lĩnh vực còn thiếu hụt nhân lực nhưng vẫn giữ vai trò quan trọng trong chuỗi giá trị của công nghiệp văn hóa hiện đại.
Thứ tư, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đối với việc thực hiện các chiến lược, chính sách phát triển nhân lực văn hóa.
Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đóng vai trò bảo đảm chủ trương phát triển công nghiệp văn hoá đi đúng quỹ đạo xã hội chủ nghĩa. Ủy ban kiểm tra các cấp cần thường xuyên giám sát việc thực hiện Quyết định số 2486/QĐ-TTg ngày 14/11/2025 và các nghị quyết của cấp ủy về phát triển văn hoá. Giám sát chặt chẽ việc bố trí ngân sách và việc giải ngân các dự án đầu tư cho nhân lực văn hoá, nhằm ngăn ngừa thất thoát và lãng phí. Đồng thời, giám sát đạo đức nghề nghiệp, bản lĩnh chính trị của đội ngũ văn nghệ sĩ, chuyên gia, bảo đảm họ có trách nhiệm xã hội cao, không bị các thế lực thù địch lợi dụng; chính họ là những người sẽ tạo ra những sản phẩm văn hoá lành mạnh, góp phần xây dựng hệ giá trị con người Việt Nam tiến bộ; khẳng định vị thế văn hoá của quốc gia phát triển có thu nhập cao, định hướng xã hội chủ nghĩa.
4. Kết luận
Nguồn nhân lực chất lượng cao, đội ngũ cán bộ, chuyên gia giỏi chính là “chìa khóa” mở ra cánh cửa phát triển rực rỡ cho các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, việc không ngừng đổi mới công tác cán bộ, hoàn thiện thể chế đãi ngộ, thu hút nhân tài và đẩy mạnh công tác đào tạo sẽ tạo ra một lực lượng sản xuất văn hóa hùng mạnh. Lực lượng ấy không chỉ làm chủ công nghệ, nhạy bén với kinh tế thị trường mà còn mang trong mình khát vọng cống hiến, tự hào dân tộc, đưa công nghiệp văn hóa trở thành một trụ cột vững chắc, đóng góp to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Chú thích:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập 1. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 145.
2, 4. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2025). Báo cáo tổng hợp Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
3. Về nguồn lực xây dựng quản lý sử dụng thiết chế văn hóa thể thao ở cơ sở. https://hungyen.dcs.vn/ve-nguon-luc-xay-dung-quan-ly-su-dung-thiet-che-van-hoa-the-thao-o-co-so.
5. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2024). Báo cáo về phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam giai đoạn 2018-2022.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2014). Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập 1. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
3. Thủ tướng Chính phủ (2016). Quyết định số 1755/QĐ-TTg ngày 08/9/2016 phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa ở Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
4. Thủ tướng Chính phủ (2025). Quyết định số 2486/QĐ-TTg ngày 14/11/2025 phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.



