Vai trò của quản lý nhà nước đối với du lịch làng nghề Hà Nội trong bối cảnh tổ chức chính quyền địa phương hai cấp

The role of state management in developing Hanoi’s craft village tourism in the context of the two-tier local government model

ThS. Lê Thanh Hà
NCS Trường Đại học Thành Đô

(Quanlynhanuoc.vn) – Hà Nội là địa phương có số lượng làng nghề và làng có nghề lớn nhất cả nước, đồng thời cũng là trung tâm du lịch văn hóa quan trọng của Việt Nam. Trong bối cảnh thực hiện chủ trương đổi mới tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp, yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với du lịch làng nghề ngày càng trở nên cấp thiết nhằm bảo đảm phát triển bền vững, gìn giữ bản sắc văn hóa truyền thống và khai thác hiệu quả nguồn lực kinh tế địa phương. Bài viết tập trung phân tích vai trò của quản lý nhà nước đối với du lịch làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với du lịch làng nghề Hà Nội trong giai đoạn mới.

Từ khóa: Quản lý nhà nước, du lịch làng nghề, Hà Nội, chính quyền địa phương hai cấp, phát triển bền vững.

Abstract: Hanoi is the locality with the largest number of craft villages and villages with traditional crafts in the country, and it is also an important cultural tourism hub in Vietnam. Against the backdrop of implementing the policy to reform local government organization under a two-tier model, the need to enhance the effectiveness and efficiency of state management over craft village tourism has become increasingly urgent in order to ensure sustainable development, preserve traditional cultural identity, and effectively harness local economic resources. This article focuses on analyzing the role of state management in craft village tourism within Hanoi and proposes several solutions to improve the effectiveness of state management of Hanoi’s craft village tourism in this new phase.

Keywords: State management, craft village tourism, Hanoi, two-tier local government, sustainable development.

1. Đặt vấn đề

Trong tiến trình phát triển kinh tế du lịch của Thủ đô Hà Nội, du lịch làng nghề ngày càng giữ vai trò quan trọng không chỉ ở phương diện kinh tế mà còn ở phương diện văn hóa, xã hội và bảo tồn di sản. Hà Nội hiện là địa phương có số lượng làng nghề truyền thống lớn nhất Việt Nam với khoảng 1.350 làng nghề và làng có nghề, trong đó có trên 330 làng nghề, làng nghề truyền thống đã được công nhận1. Các làng nghề nổi tiếng như Bát Tràng, Vạn Phúc, Sơn Đồng, Quất Động, Chuông, Phú Vinh, Hạ Thái hay Đường Lâm không chỉ là trung tâm sản xuất thủ công mỹ nghệ mà còn trở thành điểm đến hấp dẫn đối với khách du lịch trong nước và quốc tế.

Trong những năm gần đây, Hà Nội xác định phát triển công nghiệp văn hóa và du lịch văn hóa là một trong những động lực tăng trưởng mới. Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 22/02/2022 của Thành ủy Hà Nội về phát triển công nghiệp văn hóa giai đoạn 2021 – 2025, định hướng đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045 đã nhấn mạnh yêu cầu khai thác giá trị văn hóa truyền thống gắn với phát triển du lịch. Đồng thời, Luật Du lịch năm 2017, Luật Thủ đô sửa đổi năm 2024 cùng nhiều chương trình, kế hoạch của UBND thành phố Hà Nội đã tạo hành lang pháp lý quan trọng cho phát triển du lịch làng nghề.

Đặc biệt, trong bối cảnh đổi mới tổ chức chính quyền địa phương theo hướng tinh gọn, hiệu lực và hiệu quả, việc thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp đang đặt ra yêu cầu tái cấu trúc hoạt động quản lý nhà nước đối với du lịch làng nghề. Việc phân định chức năng giữa cấp thành phố và cấp cơ sở, tăng cường phân cấp, phân quyền, ứng dụng chuyển đổi số và đổi mới phương thức quản trị địa phương đang tạo ra cả cơ hội lẫn thách thức cho công tác quản lý.

Thực tiễn cho thấy, mặc dù du lịch làng nghề Hà Nội đã đạt được nhiều kết quả tích cực, song vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, như: quy hoạch thiếu đồng bộ, sản phẩm du lịch chưa chuyên nghiệp, hạ tầng còn yếu, ô nhiễm môi trường tại nhiều làng nghề chưa được xử lý triệt để, thiếu liên kết giữa các chủ thể và năng lực quản trị điểm đến còn hạn chế. Trong bối cảnh đó, quản lý nhà nước giữ vai trò quyết định trong việc định hướng, điều tiết, hỗ trợ và tạo môi trường thuận lợi cho phát triển du lịch làng nghề theo hướng bền vững.

2. Cơ sở lý luận về vai trò của quản lý nhà nước đối với du lịch làng nghề

Du lịch làng nghề là loại hình du lịch khai thác các giá trị văn hóa, lịch sử, nghề thủ công truyền thống, không gian sản xuất và đời sống cộng đồng tại các làng nghề nhằm phục vụ nhu cầu tham quan, trải nghiệm, nghiên cứu và tiêu dùng sản phẩm của khách du lịch. Đây là loại hình du lịch mang tính liên ngành cao, kết hợp giữa kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường.

Quản lý nhà nước đối với du lịch làng nghề được hiểu là sự tác động có tổ chức, bằng quyền lực nhà nước của các cơ quan quản lý nhằm định hướng, điều tiết và kiểm soát các hoạt động phát triển du lịch làng nghề theo mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội và bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống. Hoạt động quản lý nhà nước bao gồm xây dựng chiến lược, quy hoạch, ban hành chính sách, tổ chức thực hiện pháp luật, kiểm tra giám sát, xúc tiến quảng bá và huy động nguồn lực phát triển.

Vai trò của quản lý nhà nước đối với du lịch làng nghề thể hiện trên nhiều phương diện.

Thứ nhất, quản lý nhà nước giữ vai trò định hướng phát triển thông qua chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển du lịch làng nghề. Trong điều kiện thị trường du lịch ngày càng cạnh tranh và biến động, việc thiếu định hướng phát triển có thể dẫn đến khai thác tự phát, thương mại hóa quá mức và làm mai một bản sắc văn hóa truyền thống. Do đó, nhà nước cần xác định rõ các không gian phát triển, sản phẩm ưu tiên, định hướng đầu tư và cơ chế phối hợp giữa các địa phương.

Thứ hai, quản lý nhà nước có vai trò xây dựng môi trường pháp lý và chính sách hỗ trợ phát triển du lịch làng nghề. Thông qua hệ thống pháp luật và chính sách, nhà nước tạo điều kiện cho các chủ thể tham gia hoạt động du lịch, đồng thời, kiểm soát các tác động tiêu cực đến văn hóa, môi trường và xã hội.

Thứ ba, quản lý nhà nước góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống. Du lịch làng nghề không đơn thuần là hoạt động kinh tế mà còn gắn với gìn giữ tri thức dân gian, kỹ năng nghề thủ công, không gian văn hóa và phong tục tập quán địa phương. Nếu thiếu sự quản lý và hỗ trợ của nhà nước, nhiều làng nghề có nguy cơ mai một trước sức ép đô thị hóa và hội nhập kinh tế.

Thứ tư, quản lý nhà nước đóng vai trò điều phối và liên kết các chủ thể tham gia phát triển du lịch làng nghề. Hoạt động du lịch liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp và nhiều chủ thể như cơ quan quản lý, doanh nghiệp, nghệ nhân, hộ sản xuất và cộng đồng dân cư. Nhà nước giữ vai trò trung tâm trong việc điều hòa lợi ích và thúc đẩy liên kết phát triển.

Thứ năm, quản lý nhà nước góp phần bảo đảm phát triển bền vững thông qua kiểm tra, giám sát, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch. Đây là yêu cầu đặc biệt quan trọng đối với Hà Nội khi nhiều làng nghề đang đối mặt với tình trạng ô nhiễm môi trường và quá tải hạ tầng.

3. Thực trạng vai trò quản lý nhà nước đối với du lịch làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội

Một là, vai trò định hướng thông qua quy hoạch và chiến lược phát triển

Trong thời gian qua, thành phố Hà Nội đã ban hành nhiều chương trình, kế hoạch và đề án liên quan đến phát triển du lịch làng nghề. Quy hoạch phát triển du lịch Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, Chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa và Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) đã xác định du lịch làng nghề là một trong những sản phẩm du lịch đặc trưng của Thủ đô.

Nhiều tuyến du lịch làng nghề đã được hình thành như tuyến Bát Tràng – Vạn Phúc – Đường Lâm, tuyến làng nghề phía Nam Hà Nội hay các tuyến gắn với du lịch nông nghiệp và du lịch cộng đồng. Thành phố cũng chú trọng xây dựng các cụm không gian văn hóa – du lịch tại khu vực ngoại thành nhằm giảm áp lực cho khu vực nội đô và mở rộng không gian phát triển du lịch.

Sau quá trình sắp xếp, kiện toàn tổ chức chính quyền địa phương theo hướng hai cấp, việc phân cấp quản lý giữa cấp thành phố và cấp cơ sở đã có nhiều chuyển biến. Các địa phương được trao quyền chủ động hơn trong quản lý điểm đến, phát triển sản phẩm du lịch và tổ chức hoạt động xúc tiến quảng bá. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn tình trạng chồng chéo chức năng quản lý giữa các ngành văn hóa, du lịch, nông nghiệp, công thương và chính quyền cơ sở.

Một số quy hoạch phát triển làng nghề còn thiếu tính liên kết vùng và chưa gắn chặt với quy hoạch giao thông, hạ tầng dịch vụ và bảo vệ môi trường. Nhiều làng nghề phát triển du lịch theo hướng tự phát, thiếu sản phẩm trải nghiệm chuyên sâu và chưa hình thành chuỗi giá trị hoàn chỉnh.

Hai là, vai trò xây dựng thể chế và chính sách hỗ trợ

Hà Nội đã triển khai nhiều cơ chế, chính sách nhằm hỗ trợ phát triển làng nghề và du lịch làng nghề, như: chính sách khuyến công, hỗ trợ đào tạo nghề, xúc tiến thương mại, phát triển sản phẩm OCOP và hỗ trợ chuyển đổi số trong quảng bá du lịch.

Thành phố cũng tăng cường hỗ trợ nghệ nhân, làng nghề truyền thống thông qua các chương trình bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể, hỗ trợ thiết kế sản phẩm và tổ chức hội chợ, triển lãm. Một số làng nghề, như Bát Tràng, Vạn Phúc đã từng bước ứng dụng công nghệ số trong quảng bá, bán hàng trực tuyến và quản lý du lịch.

Trong giai đoạn 2022 – 2025, thành phố Hà Nội đã từng bước triển khai các Nghị quyết số 18-NQ/TU, ngày 30/12/2022, của Thành ủy Hà Nội về “Chuyển đổi số, xây dựng thành phố thông minh đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” mang tính định hướng chiến lược, xác định rõ nhiệm vụ cung cấp đầy đủ thông tin và trải nghiệm trực tuyến cho khách theo thời gian thực, trên cơ sở xây dựng và khai thác các nguồn tài nguyên dữ liệu về văn hóa, lịch sử của Thủ đô để phát triển du lịch; Kế hoạch số 287/KH-UBND, ngày 30/11/2023, của UBND TP Hà Nội thực hiện Nghị quyết số 82/NQ-CP, ngày 18/5/2023, của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đẩy nhanh phục hồi, tăng tốc phát triển du lịch hiệu quả, bền vững trên địa bàn thành phố Hà Nội giao Sở Du lịch và các đơn vị liên quan nhiệm vụ đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu số về điểm đến, sản phẩm du lịch, và làng nghề truyền thống giai đoạn 2024 – 2025; Kế hoạch số 169/KH-UBND, ngày 04/6/2024, của UBND thành phố Hà Nội về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TU ngày 26/6/2016 của Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội, giai đoạn 2024 – 2025đặt mục tiêuchuyển đổi số ngành Du lịch: xây dựng hệ sinh thái du lịch thông minh, bền vững, tích hợp đáp ứng nhu cầu du khách, xây dựng bản đồ số du lịch thành phố, nâng cao hiệu quả hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu du lịch là 1 trong 7  nhiệm vụ trọng tâm; Quyết định số 382/QĐ-TTg, ngày 21/2/2025, của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030 (định hướng Hà Nội là một trong những trọng điểm quốc gia) nhấn mạnh việc thực hiện chương trình chuyển đổi số, số hóa điểm đến để hình thành hệ sinh thái du lịch thông minh… đẩy mạnh thực hiện chuyển đổi số ngành du lịch, xây dựng cơ sở dữ liệu số về điểm đến, sản phẩm du lịch và làng nghề truyền thống. Nhiều điểm du lịch làng nghề đã triển khai mã QR, thuyết minh số và thanh toán điện tử nhằm nâng cao trải nghiệm của khách du lịch.

Tuy nhiên, hệ thống chính sách hiện nay vẫn còn phân tán và thiếu tính đồng bộ. Các chính sách hỗ trợ du lịch làng nghề chủ yếu lồng ghép trong chính sách phát triển du lịch hoặc phát triển làng nghề nói chung, chưa hình thành cơ chế riêng đủ mạnh cho loại hình du lịch đặc thù này. Việc tiếp cận nguồn vốn ưu đãi của các hộ sản xuất và doanh nghiệp nhỏ còn gặp khó khăn.

Ba là, vai trò tổ chức bộ máy và điều phối liên ngành.

Quản lý nhà nước đối với du lịch làng nghề tại Hà Nội liên quan đến nhiều cơ quan, như: Sở Du lịch, Sở Nông nghiệp và Môi trường, Sở Công Thương, Sở Văn hóa và Thể thao cùng chính quyền địa phương. Trong thời gian qua, thành phố đã từng bước tăng cường phối hợp liên ngành trong phát triển du lịch làng nghề.

Một số mô hình phối hợp hiệu quả đã được triển khai như liên kết giữa doanh nghiệp lữ hành với nghệ nhân và chính quyền địa phương tại Bát Tràng, Vạn Phúc hay Đường Lâm. Thành phố cũng tổ chức nhiều sự kiện văn hóa – du lịch nhằm quảng bá sản phẩm làng nghề gắn với lễ hội truyền thống. Tuy nhiên, cơ chế phối hợp liên ngành vẫn chưa thực sự chặt chẽ. Nhiều địa phương còn thiếu đội ngũ cán bộ chuyên trách về du lịch, đặc biệt ở cấp cơ sở sau quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy. Công tác quản lý còn mang tính hành chính, thiếu tư duy quản trị điểm đến và chưa phát huy hiệu quả sự tham gia của cộng đồng dân cư.

Bốn là, vai trò đầu tư hạ tầng và bảo vệ môi trường.

Trong những năm gần đây, thành phố Hà Nội đã tăng cường đầu tư hạ tầng giao thông kết nối tới các khu vực làng nghề trọng điểm nhằm mở rộng không gian du lịch ngoại thành và giảm áp lực cho khu vực nội đô. Nhiều tuyến đường được cải tạo, nâng cấp đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động vận chuyển khách du lịch và lưu thông hàng hóa. Các địa phương có làng nghề nổi tiếng như Gia Lâm, Hà Đông, Sơn Tây, Thường Tín hay Chương Mỹ từng bước được kết nối tốt hơn với trung tâm thành phố thông qua hệ thống đường vành đai, quốc lộ và các tuyến giao thông liên vùng.

Bên cạnh giao thông, hệ thống điện, nước, thông tin liên lạc và các công trình hạ tầng phục vụ khách du lịch cũng được chú trọng đầu tư. Thành phố đã hỗ trợ nhiều địa phương xây dựng trung tâm giới thiệu sản phẩm OCOP, khu trải nghiệm nghề thủ công, điểm dừng chân cho khách du lịch và hệ thống chiếu sáng tại các tuyến du lịch làng nghề. Một số địa phương còn triển khai chỉnh trang cảnh quan, cải tạo cổng làng, tuyến phố nghề và không gian công cộng nhằm nâng cao tính hấp dẫn của điểm đến. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy đầu tư hạ tầng cho du lịch làng nghề tại Hà Nội vẫn chưa đồng đều và còn nhiều hạn chế. Phần lớn các làng nghề ngoại thành vẫn thiếu bãi đỗ xe, nhà vệ sinh công cộng, hệ thống biển chỉ dẫn du lịch và không gian tổ chức hoạt động trải nghiệm quy mô lớn. Nhiều tuyến đường vào làng nghề còn nhỏ hẹp, xuống cấp hoặc không đáp ứng được lưu lượng phương tiện vào mùa cao điểm du lịch.

Một số làng nghề phát triển nhanh nhưng thiếu quy hoạch đồng bộ dẫn đến tình trạng quá tải hạ tầng và xung đột giữa không gian sản xuất với không gian du lịch. Tại Bát Tràng và Vạn Phúc, vào các dịp lễ hoặc cuối tuần thường xảy ra ùn tắc giao thông, thiếu điểm đỗ xe và quá tải dịch vụ. Điều này cho thấy việc đầu tư hạ tầng hiện nay vẫn chưa theo kịp tốc độ gia tăng khách du lịch và nhu cầu phát triển dịch vụ trải nghiệm.

Bên cạnh hạ tầng, vấn đề môi trường đang trở thành thách thức lớn đối với phát triển du lịch làng nghề Hà Nội. Nhiều làng nghề truyền thống phát sinh lượng lớn chất thải từ hoạt động sản xuất như nước thải dệt nhuộm, khí thải từ lò nung, chất thải tái chế và tiếng ồn công nghiệp. Tình trạng ô nhiễm môi trường kéo dài không chỉ ảnh hưởng đến đời sống cư dân mà còn làm suy giảm hình ảnh và chất lượng điểm đến du lịch.

Một số làng nghề tại Thường Tín, Phú Xuyên hay khu vực phía Nam Hà Nội vẫn chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung; hoạt động sản xuất còn xen kẽ trong khu dân cư và khu phục vụ khách du lịch. Điều này tạo ra áp lực lớn đối với công tác quản lý môi trường và kiểm soát phát triển du lịch bền vững.

4. Đánh giá chung

4.1. Kết quả đạt được

Qua phân tích thực trạng có thể nhận thấy, công tác quản lý nhà nước đã đóng vai trò trung tâm trong quá trình phát triển du lịch làng nghề Hà Nội. Thông qua hoạt động quy hoạch, ban hành chính sách, đầu tư hạ tầng, xúc tiến quảng bá và bảo tồn giá trị văn hóa, thành phố đã từng bước hình thành mạng lưới điểm du lịch làng nghề có sức hấp dẫn đối với khách du lịch trong nước và quốc tế.

Một trong những kết quả nổi bật là nhận thức của chính quyền các cấp về vai trò của du lịch làng nghề đã có sự chuyển biến rõ rệt. Nếu trước đây các làng nghề chủ yếu được nhìn nhận dưới góc độ sản xuất thủ công truyền thống thì hiện nay đã được xem như nguồn lực quan trọng của công nghiệp văn hóa và kinh tế du lịch. Việc lồng ghép phát triển làng nghề với Chương trình OCOP, chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa và chuyển đổi số du lịch đã tạo ra động lực mới cho nhiều địa phương ngoại thành Hà Nội.

Nhiều làng nghề đã từng bước xây dựng được thương hiệu du lịch tương đối ổn định. Bát Tràng trở thành điểm đến trải nghiệm gốm sứ tiêu biểu của Việt Nam; Vạn Phúc phát triển mạnh mô hình du lịch gắn với không gian văn hóa lụa truyền thống; Đường Lâm hình thành mô hình du lịch di sản kết hợp trải nghiệm đời sống làng cổ. Các hoạt động lễ hội, trình diễn nghề thủ công, trải nghiệm sản xuất và tiêu dùng sản phẩm địa phương đã góp phần nâng cao giá trị kinh tế của sản phẩm làng nghề và tạo thêm việc làm cho người dân.

Theo số liệu của Sở Du lịch Hà Nội, năm 2024, thành phố đã đón gần 28 triệu lượt khách du lịch, tăng 12,7% so với năm 2023, tăng mạnh so với giai đoạn phục hồi sau đại dịch Covid-19; tổng thu từ khách du lịch đạt trên 110 nghìn tỷ đồng2. Năm 2025, du lịch Hà Nội tiếp tục phát triển bứt phá với những con số ấn tượng. Đặc biệt, chỉ sau 10 tháng trong năm 2025, tổng lượng khách du lịch đến Hà Nội đã vượt cả năm 2024 với 28,22 triệu lượt, tăng 21,9% so với cùng kỳ năm 2024; trong đó, khách quốc tế đạt 6,17 triệu lượt (tăng 23,6%), khách nội địa đạt 22,05 triệu lượt (tăng 21,4%); tổng thu từ khách du lịch của Hà Nội trong 10 tháng đã đạt khoảng 108,22 nghìn tỷ đồng, tăng gần 20% so với cùng kỳ và tăng hơn cả năm 2024 cộng lại3. Trong đó, nhóm sản phẩm du lịch văn hóa và trải nghiệm làng nghề tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu tour tuyến của khách quốc tế.

4.2. Những hạn chế và bất cập

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý nhà nước đối với du lịch làng nghề Hà Nội vẫn còn nhiều hạn chế mang tính hệ thống.

Trước hết, quy hoạch phát triển du lịch làng nghề còn thiếu đồng bộ và chưa thực sự gắn với quy hoạch không gian đô thị, giao thông và môi trường. Nhiều làng nghề phát triển theo hướng tự phát, thiếu sản phẩm du lịch đặc trưng và chưa tạo được chuỗi liên kết dịch vụ hoàn chỉnh. Một số địa phương tập trung vào bán hàng lưu niệm mà chưa chú trọng xây dựng trải nghiệm văn hóa chiều sâu.

Thứ hai, cơ chế phối hợp liên ngành và liên cấp còn bất cập. Hoạt động quản lý du lịch làng nghề liên quan đến nhiều cơ quan như văn hóa, du lịch, nông nghiệp, công thương, tài nguyên môi trường và chính quyền cơ sở. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn tồn tại tình trạng phân tán trách nhiệm, thiếu cơ chế điều phối thống nhất và chưa hình thành mô hình quản trị điểm đến hiệu quả.

Thứ ba, hạ tầng du lịch và môi trường tại nhiều làng nghề chưa đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững. Tình trạng ô nhiễm không khí, nước thải và chất thải rắn tại các làng nghề tái chế, dệt nhuộm, chế biến nông sản vẫn diễn ra phổ biến. Nhiều điểm du lịch thiếu bãi đỗ xe, nhà vệ sinh công cộng, trung tâm hướng dẫn du khách và không gian trải nghiệm đạt chuẩn.

Thứ tư, chất lượng nguồn nhân lực du lịch làng nghề còn hạn chế. Phần lớn lao động tại các làng nghề chưa được đào tạo bài bản về kỹ năng du lịch, ngoại ngữ, marketing số và quản trị dịch vụ. Năng lực ứng dụng công nghệ số giữa các làng nghề còn chênh lệch lớn.

Ngoài ra, quá trình tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp cũng đặt ra nhiều yêu cầu mới cho công tác quản lý. Việc phân cấp mạnh hơn cho cơ sở tạo điều kiện nâng cao tính chủ động địa phương, nhưng đồng thời cũng đòi hỏi đội ngũ cán bộ phải có năng lực quản trị hiện đại, khả năng điều phối liên ngành và tư duy phát triển bền vững.

5. Một số giải pháp

Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống quy hoạch phát triển du lịch làng nghề theo hướng tích hợp, liên ngành và bền vững. Thành phố cần rà soát, cập nhật quy hoạch phát triển du lịch gắn với Quy hoạch Thủ đô Hà Nội thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050; đồng thời, bảo đảm sự kết nối giữa quy hoạch du lịch, giao thông, môi trường, nông thôn mới và công nghiệp văn hóa. Các làng nghề cần được phân loại theo chức năng và tiềm năng phát triển để có định hướng đầu tư phù hợp.

Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện cơ chế phân cấp, phân quyền trong quản lý du lịch làng nghề phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Cần xác định rõ trách nhiệm giữa cấp thành phố và cấp cơ sở trong quản lý điểm đến, bảo tồn di sản, bảo vệ môi trường và xúc tiến du lịch. Đồng thời, phải xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành hiệu quả nhằm hạn chế chồng chéo trong thực thi nhiệm vụ.

Thứ ba, xây dựng chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển du lịch làng nghề. Thành phố cần có cơ chế ưu đãi về tín dụng, thuế, đất đai và hỗ trợ đổi mới sáng tạo cho các hộ sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp và nghệ nhân tham gia phát triển du lịch. Việc hỗ trợ không chỉ tập trung vào sản xuất sản phẩm thủ công mà cần mở rộng sang phát triển dịch vụ trải nghiệm, lưu trú, ẩm thực và không gian văn hóa.

Thứ tư, tăng cường đầu tư hạ tầng và xử lý môi trường tại các làng nghề. Đây là điều kiện tiên quyết để nâng cao chất lượng điểm đến và năng lực cạnh tranh du lịch. Thành phố cần ưu tiên đầu tư giao thông kết nối, bãi đỗ xe, hệ thống chỉ dẫn, trung tâm thông tin du lịch, nhà vệ sinh công cộng và hệ thống xử lý nước thải tập trung. Mặt khác, cần thúc đẩy mô hình làng nghề xanh, kinh tế tuần hoàn và sản xuất thân thiện môi trường.

Thứ năm, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý và quảng bá du lịch làng nghề. Hà Nội cần xây dựng cơ sở dữ liệu số dùng chung về làng nghề, nghệ nhân, sản phẩm OCOP và điểm du lịch; phát triển bản đồ số du lịch làng nghề; ứng dụng trí tuệ nhân tạo, mã QR và nền tảng số trong quảng bá và quản trị điểm đến. Đây là xu hướng tất yếu nhằm nâng cao trải nghiệm du khách và hiệu quả quản lý nhà nước trong bối cảnh kinh tế số.

Thứ sáu, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và phát huy vai trò cộng đồng địa phương. Thành phố cần tăng cường đào tạo kỹ năng du lịch, ngoại ngữ, chuyển đổi số và quản trị dịch vụ cho người dân làng nghề. Đồng thời, phải bảo đảm cộng đồng được tham gia thực chất vào quá trình xây dựng chính sách và hưởng lợi từ hoạt động du lịch để tạo động lực phát triển bền vững.

Thứ bảy, tăng cường liên kết vùng và hợp tác công – tư trong phát triển du lịch làng nghề. Hà Nội cần mở rộng liên kết với các địa phương vùng đồng bằng sông Hồng nhằm hình thành các tuyến du lịch văn hóa – làng nghề liên tỉnh, kết nối với hệ thống di sản văn hóa và các trung tâm du lịch lớn. Đồng thời, cần khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào các sản phẩm du lịch trải nghiệm chất lượng cao và xây dựng thương hiệu du lịch làng nghề Hà Nội trên thị trường quốc tế.

6. Kết luận

Du lịch làng nghề đang trở thành một trong những sản phẩm du lịch văn hóa đặc trưng của Thủ đô Hà Nội, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm, bảo tồn di sản văn hóa và phát triển công nghiệp văn hóa. Trong quá trình đó, quản lý nhà nước giữ vai trò nền tảng và mang tính quyết định đối với định hướng phát triển, huy động nguồn lực, điều tiết hoạt động thị trường và bảo đảm phát triển bền vững.

Việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với du lịch làng nghề Hà Nội cần được thực hiện đồng bộ từ hoàn thiện thể chế, đổi mới quy hoạch, tăng cường phân cấp quản lý, đầu tư hạ tầng, bảo vệ môi trường đến phát triển nguồn nhân lực và chuyển đổi số. Đây là điều kiện quan trọng để Hà Nội khai thác hiệu quả tiềm năng hệ thống làng nghề truyền thống, xây dựng thương hiệu du lịch văn hóa đặc sắc và nâng cao năng lực cạnh tranh của Thủ đô trong giai đoạn phát triển mới.

Chú thích:
1. UBND thành phố Hà Nội (2025). Đề án tổng thể phát triển làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2025 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
2. Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng bộ Sở Du lịch Hà Nội lần thứ II, nhiệm kỳ 2025 – 2030. https://hanoi.gov.vn/tin-tuc-su-kien-noi-bat/dai-hoi-dang-bo-so-du-lich-ha-noi-lan-thu-ii-nhiem-ky-2025-2030-thanh-cong-tot-dep-4250624173913818.htm, ngày 24/6/2025.
3. Du lịch Hà Nội khẳng định là ngành kinh tế có tốc độ tăng trưởng ổn định, tiếp tục phát triển. https://nguoihanoi.vn/du-lich-ha-noi-khang-dinh-la-nganh-kinh-te-co-toc-do-tang-truong-on-dinh-tiep-tuc-phat-trien-95092.html, ngày 18/11/2025.
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2022). Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 05/5/2022 về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
2. Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Hà Nội (2022). Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 22/02/2022 về phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô giai đoạn 2021 – 2025, định hướng đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045.
3. Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Hà Nội (2022). Nghị quyết số 18-NQ/TU, ngày 30/12/2022 về chuyển đổi số, xây dựng thành phố thông minh đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
4. Quốc hội (2017). Luật Du lịch năm 2017.
5. Quốc hội (2024). Luật Thủ đô (sửa đổi) năm 2024.
6. Sở Du lịch Hà Nội (2025). Báo cáo tổng hợp hoạt động du lịch Hà Nội và định hướng phát triển du lịch làng nghề.
7. Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội (2025). Báo cáo phát triển làng nghề và sản phẩm OCOP trên địa bàn thành phố Hà Nội.
8. Thủ tướng Chính phủ (2025). Quyết định số 382/QĐ-TTg, ngày 21/2/2025, phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030.
9. Tổng cục Thống kê (2025). Niên giám thống kê Việt Nam 2024. H. NXB Thống kê.
10. UBND thành phố Hà Nội (2019). Quyết định số 23/2019/QĐ-UBND ngày 24/10/2019 quy định chi tiết về công tác bảo vệ môi trường làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội.
11. UBND thành phố Hà Nội (2021). Kế hoạch 307/KH-UBND ngày 27/12/2021 tăng cường quản lý, kiểm tra, giám sát và ngăn ngừa ô nhiễm môi trường tại các làng nghề, khu và cụm công nghiệp giai đoạn 2021 – 2025.
12. UBND thành phố Hà Nội (2023). Quyết định 2546/QĐ-UBND ngày 28/4/2023 ban hành Danh mục, lộ trình và kế hoạch xử lý ô nhiễm môi trường đối với các làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
13. UBND Thành phố Hà Nội (2024). Kế hoạch số 287/KH-UBND, ngày 30/11/2023, thực hiện Nghị quyết số 82/NQ-CP, ngày 18/5/2023, của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đẩy nhanh phục hồi, tăng tốc phát triển du lịch hiệu quả, bền vững trên địa bàn thành phố Hà Nội.
14. UBND Thành phố Hà Nội (2024). Kế hoạch số 169/KH-UBND ngày 04/6/2024, về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TU ngày 26/6/2016 của Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội, giai đoạn 2024 – 2025.