Building a digital society and digital citizenship to safeguard the Party’s ideological foundation in cyberspace
TS. Trương Quốc Việt
ThS. Nguyễn Thị Thúy Vân
Học viện Hành chính và Quản trị công
(Quanlynhanuoc.vn) – Chuyển đổi số đang tác động sâu sắc tới truyền thông xã hội, định hình lại phương thức tiếp nhận thông tin, hình thành dư luận và tổ chức hành vi chính trị – xã hội của công dân trên môi trường số. Những biến đổi này đặt ra yêu cầu khách quan phải nhận diện đầy đủ tác động đa chiều của không gian mạng đối với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Trên cơ sở đó, việc xây dựng xã hội số và hình thành công dân số có ý nghĩa quan trọng nhằm nâng cao “sức đề kháng” trước thông tin xấu, độc; đồng thời chủ động tạo lập, lan tỏa nội dung chính thống, tích cực, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay.
Từ khóa: Xã hội số; công dân số; chuyển đổi số; không gian mạng; bảo vệ nền tảng tư tưởng.
Abstract: Digital transformation is profoundly impacting social media, reshaping the way information is received, shaping public opinion, and organizing the political and social behavior of citizens in the digital environment. These changes create an objective need to fully identify the multifaceted impact of cyberspace on efforts to safeguard the Party’s ideological foundation. Accordingly, building a digital society and fostering digital citizens are crucial for enhancing “resilience” against harmful and toxic information; at the same time, they enable the proactive creation and dissemination of authoritative, positive content, thereby contributing to the firm protection of the Party’s ideological foundation in the current context of digital transformation.
Keywords: Digital society; digital citizens; digital transformation; cyberspace; safeguarding the Party’s ideological foundation.
1. Bối cảnh chuyển đổi số, không gian mạng và yêu cầu cấp thiết về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
1.1. Bối cảnh chuyển đổi số
Theo Luật Chuyển đổi số năm 2025, chuyển đổi số là quá trình chuyển đổi phương thức hoạt động, quản trị và cung cấp dịch vụ dựa trên công nghệ số, dữ liệu số, hệ thống số, nền tảng số, quy trình số nhằm tạo ra giá trị mới, hiệu quả và minh bạch.
Chuyển đổi số là quá trình tái cấu trúc phương thức vận hành của toàn bộ hệ thống kinh tế – xã hội dựa trên bốn trụ cột chủ yếu: (1) Dữ liệu trở thành nguồn lực sản xuất mới; (2) Nền tảng số tạo hiệu ứng mạng lưới và điều phối tương tác; (3) Thuật toán tham gia lựa chọn, phân phối và “ưu tiên hóa” thông tin; (4) Kết nối thời gian thực làm biến đổi nhịp độ lan truyền và chu kỳ hình thành dư luận xã hội. Song song với đó, sự phát triển của nền “kinh tế chú ý” khiến cạnh tranh nội dung không chỉ dựa trên tính đúng đắn mà còn phụ thuộc vào khả năng thu hút, giữ chân và kích hoạt cảm xúc; trong khi các cộng đồng trực tuyến hình thành theo sở thích, niềm tin tạo ra nguy cơ phân mảnh thông tin và buồng vọng âm. Những tác động này làm thay đổi mô hình truyền thông công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng từ một chiều sang môi trường đa trung tâm, đa chủ thể, nơi “tốc độ” và “tính thuyết phục” trở thành biến số quyết định.
Thực tiễn tại Việt Nam cho thấy, chuyển đổi số đang diễn ra đồng thời trên tất cả các lĩnh vực, như: dịch vụ công trực tuyến, dữ liệu dùng chung, thương mại điện tử, thanh toán số, giáo dục, y tế số, truyền thông số… Chuyển đổi số thực sự là một cuộc cách mạng về tư duy và phương thức vận hành, nơi công nghệ đóng vai trò là chất xúc tác mạnh mẽ, định hình lại cấu trúc và động lực của xã hội. Đảng xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu,… coi đây là động lực chính đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới.
Tuy nhiên, môi trường thông tin trở nên phức tạp hơn bởi: AI tạo sinh hỗ trợ sản xuất nội dung quy mô lớn, làm gia tăng nguy cơ tin giả và nội dung thao túng; deepfake và kỹ thuật chỉnh sửa đa phương tiện làm mờ ranh giới thật – giả; lan truyền xuyên biên giới qua các nền tảng toàn cầu, gây khó khăn cho thực thi pháp luật; tấn công mạng, lộ lọt dữ liệu, lừa đảo trực tuyến đe dọa niềm tin số; cạnh tranh địa chính trị công nghệ khiến không gian mạng được sử dụng như công cụ gây ảnh hưởng. Do đó, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng phải đồng thời đáp ứng hai yêu cầu: bảo vệ (ngăn chặn, xử lý nội dung độc hại theo khuôn khổ pháp luật về an ninh mạng, an toàn thông tin) và xây dựng (tạo hệ sinh thái nội dung chính thống, tích cực, hấp dẫn; phát triển năng lực công dân số).
Theo báo cáo Digital 2025: Vietnam, Việt Nam có khoảng 79,8 triệu người dùng Internet (tương đương 78,8% dân số), khoảng 76,20 triệu người dùng mạng xã hội (tương đương 75,2% dân số) và khoảng 127 triệu thuê bao di động (tương đương 126% dân số). Số lượng người dùng YouTube có 62,3 triệu, Facebook có 76,2 triệu, Messenger có 55,9 triệu, TikTok có 40,9… với mức độ thâm nhập rất cao của các nền tảng xuyên biên giới. Đây vừa là điều kiện thuận lợi để lan tỏa thông tin chính thống, vừa đặt ra yêu cầu cấp thiết về bảo đảm an toàn, an ninh mạng và nâng cao năng lực công dân số.
1.2. Tác động đa chiều của không gian mạng đối với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Không gian mạng mở rộng mạnh mẽ khả năng lan tỏa, đối thoại và huy động xã hội trong truyền thông chính trị, cho phép đưa chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước đến người dân nhanh hơn, đa dạng hơn. Các nền tảng số cũng tạo ra khả năng lắng nghe xã hội theo thời gian thực thông qua dữ liệu phản hồi, từ đó nâng cao hiệu quả nắm bắt dư luận, dự báo điểm nóng. Không gian mạng là môi trường thuận lợi để phát huy vai trò của báo chí, tổ chức chính trị – xã hội và lực lượng nòng cốt trong việc giải thích, thuyết phục, đưa thông tin chính thống đến nơi người dân đang hiện diện. Về phương diện quản trị, các công cụ phân tích dữ liệu, giám sát truyền thông (social listening), nếu được sử dụng đúng pháp luật sẽ hỗ trợ phát hiện sớm chiến dịch thông tin sai lệch và tăng hiệu quả phản ứng.
Tuy nhiên, không gian mạng cũng làm gia tăng nguy cơ sai lệch thông tin, thao túng nhận thức và phân cực dư luận. Thách thức nổi bật là sự gia tăng thông tin sai lệch, thông tin xuyên tạc có chủ đích và các dạng tuyên truyền thao túng dựa trên kỹ thuật số (micro-targeting, bot, tài khoản ảo). Các thế lực thù địch, chống phá thường khai thác “khoảng trống thông tin”, đánh vào vấn đề nhạy cảm, sử dụng ngôn ngữ kích động, cắt ghép, đặt tít giật gân để tạo hiệu ứng lan truyền. Cơ chế phân phối nội dung của nền tảng (ưu tiên tương tác) làm tăng nguy cơ khuếch đại thông tin cực đoan, tạo phân cực, giảm không gian đối thoại lý tính. Bên cạnh đó, tính ẩn danh và xuyên biên giới làm nảy sinh khó khăn trong xử lý pháp lý, trong khi áp lực “phản ứng nhanh” dễ dẫn đến truyền thông bị động nếu thiếu quy trình, dữ liệu và đội ngũ chuyên nghiệp.
1.3. Yêu cầu mới đối với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng trong môi trường số
Sự dịch chuyển từ môi trường thực sang môi trường số đã mở ra những không gian mới cho công tác tư tưởng nhưng cũng đặt ra những thách thức chưa từng có. Không gian mạng đã trở thành “mặt trận” quan trọng đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Với tính chất không biên giới, ẩn danh và tốc độ lan tỏa nhanh chóng, các thế lực thù địch đã triệt để lợi dụng không gian mạng để phát tán tin giả, bôi nhọ lãnh đạo và xuyên tạc lịch sử, nhằm tạo ra sự nghi ngờ và làm suy yếu niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chủ nghĩa Mác – Lênin.
Công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng cần chuyển từ tư duy “quản lý theo kênh” sang “quản trị theo hệ sinh thái”: kết hợp đồng bộ nội dung – công nghệ – pháp lý – tổ chức lực lượng. Trọng tâm là truyền thông kịp thời, dựa trên dữ liệu, lập luận khoa học, sắc bén, chắc chắn, thuyết phục, phù hợp với ngôn ngữ số. Cần coi trọng nâng cao năng lực miễn dịch xã hội trước tin giả thông qua giáo dục truyền thông, năng lực số và hình thành chuẩn mực văn hóa ứng xử trên không gian mạng. Bảo vệ nền tảng tư tưởng trên không gian mạng vì vậy không tách rời nhiệm vụ xây dựng xã hội số và phát triển công dân số.
2. “Xã hội số” và “Công dân số” trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng
2.1. Khái niệm “Xã hội số” và “Công dân số”
Xã hội số là một trong ba trụ cột chính, cùng với chính phủ số và Kinh tế số cấu thành nên Quốc gia số5. Theo Luật Chuyển đổi số năm 2025, xã hội số là xã hội trong đó cá nhân, tổ chức chủ yếu hoạt động, tương tác thông qua dịch vụ số, hệ thống số, nền tảng số và môi trường số.
Xã hội số là hình thái xã hội trong đó quan hệ xã hội, cấu trúc cộng đồng và cơ chế vận hành được số hóa và nền tảng hóa; dữ liệu trở thành “hạ tầng mềm” cho ra quyết định; thuật toán tham gia điều phối tương tác và không gian mạng trở thành môi trường đồng tồn tại với không gian vật lý. Đặc điểm cốt lõi của xã hội số gồm: tính kết nối cao và đa trung tâm; tính thời gian thực; phụ thuộc vào dữ liệu và thuật toán; mức độ cá nhân hóa sâu; khả năng mở rộng không giới hạn bởi biên giới địa lý; rủi ro mới về an toàn, riêng tư, niềm tin và phân cực.
Công dân số theo Luật Chuyển đổi số năm 2025 là cá nhân có khả năng truy cập, sử dụng, tham gia các hoạt động trên môi trường số một cách an toàn, hiệu quả theo quy định của pháp luật.
Công dân số là chủ thể xã hội có năng lực số để truy cập, đánh giá, sử dụng, sáng tạo và chia sẻ thông tin trong môi trường số một cách an toàn, có trách nhiệm; có đạo đức và văn hóa số tôn trọng sự thật, pháp luật, quyền riêng tư và phẩm giá con người; có khả năng tham gia vào đời sống chính trị – xã hội trực tuyến với tinh thần xây dựng. Các đặc điểm bao gồm: năng lực nhận diện – kiểm chứng thông tin; khả năng tự bảo vệ (an toàn thông tin, bảo mật tài khoản, quản trị dữ liệu cá nhân); năng lực giao tiếp – cộng tác số; năng lực sáng tạo nội dung; ý thức pháp lý và trách nhiệm xã hội trong phát ngôn, chia sẻ và tương tác.
Xã hội số và công dân số tồn tại trong quan hệ điều kiện – chủ thể và tác động ngược. Một mặt, xã hội số tạo ra môi trường, điều kiện và hạ tầng để công dân số hình thành và phát triển. Mức độ phát triển của hạ tầng số, thể chế số và các nền tảng số quyết định khả năng tham gia và chất lượng hoạt động của công dân số. Mặt khác, công dân số là chủ thể trung tâm kiến tạo và vận hành xã hội số. Thông qua các hành vi tương tác, sáng tạo và lan tỏa thông tin, công dân số góp phần định hình các chuẩn mực, giá trị và cấu trúc của xã hội số.
Từ góc độ bảo vệ nền tảng tư tưởng, mối quan hệ này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Một xã hội số phát triển lành mạnh đòi hỏi một cộng đồng công dân số có năng lực, trách nhiệm và bản lĩnh chính trị. Ngược lại, chính chất lượng của công dân số sẽ quyết định mức độ an ninh, an toàn, lành mạnh, văn minh của không gian mạng. Mối quan hệ này như một mô hình hai chiều: xã hội số cung cấp “hạ tầng và thể chế”, trong khi công dân số cung cấp “nội dung và hành vi”. Sự tương tác giữa hai yếu tố này tạo nên chất lượng tổng thể của không gian mạng và ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh chuyển đổi số.
2.2. Vai trò của xã hội số và công dân số trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng
(1) Xã hội số là nền tảng điều kiện để củng cố và lan tỏa thông tin chính thống.
Xã hội số với hệ sinh thái dữ liệu, dịch vụ công trực tuyến và thiết chế quản trị số tạo điều kiện nâng cao hiệu lực – hiệu quả quản trị, qua đó củng cố niềm tin xã hội dựa trên trải nghiệm thực tế của người dân. Khi người dân được phục vụ nhanh hơn, minh bạch hơn, có kênh phản hồi thuận tiện, “niềm tin số” trở thành một dạng vốn xã hội quan trọng, hỗ trợ lan tỏa thông tin chính thống. Xã hội số tạo điều kiện để xây dựng hạ tầng truyền thông chính trị hiện đại (nền tảng nội dung chính thống, dữ liệu mở, kênh tương tác hai chiều), giúp chuyển từ truyền đạt sang đối thoại, giải trình; từ đó tăng sức thuyết phục của thông tin.
(2) Công dân số là chủ thể tham gia “tự bảo vệ” và “đồng kiến tạo” không gian thông tin.
Trong môi trường số, mỗi cá nhân vừa là người tiếp nhận vừa là người phát tán, lan tỏa thông tin. Vì vậy, công dân số trở thành “tuyến phòng thủ đầu tiên” trước tin giả và luận điệu xuyên tạc thông qua năng lực kiểm chứng, thói quen sàng lọc, tiếp nhận thông tin, bản lĩnh chính trị trên không gian mạng. Công dân số tích cực còn là lực lượng “đồng kiến tạo” nội dung: chia sẻ câu chuyện thật, lan tỏa giá trị tích cực, tham gia phản biện xã hội, trên tinh thần tôn trọng và thượng tôn pháp luật. Khi được trang bị năng lực số và bản lĩnh chính trị, công dân số tham gia lực lượng truyền thông chủ động, chuyển từ “đa số im lặng” thành “đa số chủ động”, tạo sức mạnh cộng hưởng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng trên mạng.
Sự đa chiều, đa dạng thông tin là đặc trưng khách quan của xã hội số. Chất lượng thông tin trên mạng phụ thuộc vào năng lực định hướng, phân biệt và lựa chọn của công dân; ở khả năng cung cấp thông tin chính thống kịp thời và thiết lập chuẩn mực để hạn chế thao túng. Do đó, vai trò chiến lược của xã hội số và công dân số thể hiện ở việc tạo ra tính bền vững tư tưởng: kết hợp “xây” (tăng chất lượng thông tin, củng cố niềm tin, nâng năng lực công dân) với “chống” (ngăn chặn, xử lý vi phạm), kết hợp công tác tư tưởng – truyền thông – giáo dục – công nghệ – pháp luật trong một chỉnh thể thống nhất.
3. Giải pháp xây dựng xã hội số và phát triển công dân số góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Các giải pháp cần đáp ứng nguyên tắc: đồng bộ giữa “xây” và “chống”; lấy người dân làm trung tâm, công dân số là chủ thể; kết hợp quản trị nhà nước với tự quản xã hội; bảo đảm quyền con người, quyền công dân theo hiến định đi đôi với thượng tôn pháp luật; dựa trên dữ liệu và bằng chứng, có cơ chế đánh giá hiệu quả.
3.1. Hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực quản trị không gian mạng
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về không gian mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu phát triển với kiểm soát quyền lực thông tin, giữa quyền tự do thông tin và yêu cầu bảo vệ an ninh tư tưởng. Cần cụ thể hóa các quy định liên quan đến trách nhiệm của các nền tảng số, bảo vệ dữ liệu cá nhân và xử lý thông tin sai lệch.
Thứ hai, phát triển năng lực quản trị không gian mạng theo hướng hiện đại, chuyển từ “quản lý hành chính” sang “quản trị số”. Điều này đòi hỏi xây dựng các công cụ giám sát, phân tích dữ liệu lớn (Big data), trí tuệ nhân tạo (AI) nhằm phát hiện sớm và xử lý hiệu quả các rủi ro thông tin. Một yêu cầu quan trọng là chuyển từ cách tiếp cận “quản lý nội dung” sang “quản trị nền tảng”, trong đó Nhà nước không chỉ kiểm soát thông tin vi phạm, mà còn thiết lập các quy tắc vận hành đối với các nền tảng số, đặc biệt là các nền tảng xuyên biên giới.
Thứ ba, tăng cường bảo đảm chủ quyền số quốc gia, thông qua việc phát triển các nền tảng số nội địa có năng lực cạnh tranh, xây dựng cơ chế hợp tác quốc tế trong quản lý không gian mạng.
Thứ tư, thiết lập cơ chế phối hợp đa chủ thể giữa cơ quan nhà nước, cơ quan báo chí, doanh nghiệp công nghệ, nhà trường và tổ chức xã hội trong giáo dục truyền thông, cảnh báo rủi ro, xác minh thông tin và xử lý vi phạm.
Nâng cao năng lực thực thi pháp luật và hợp tác quốc tế về điều tra, dẫn độ, chia sẻ dữ liệu theo thỏa thuận; chú trọng giải pháp “mềm” (khuyến nghị, chuẩn mực cộng đồng) kết hợp giải pháp “cứng” (chế tài) để vừa bảo đảm trật tự mạng vừa bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp.
3.2. Phát triển nguồn nhân lực số, công dân số có bản lĩnh, trách nhiệm và năng lực số
(1) Đẩy mạnh giáo dục và đào tạo kỹ năng số, đặc biệt là năng lực nhận thức và phản biện thông tin trong hệ thống giáo dục quốc dân. Nội dung giáo dục cần bao gồm kỹ năng phân tích, đánh giá thông tin và nhận diện tin giả. Cần tích hợp giáo dục công dân số vào chương trình giáo dục quốc dân, từ bậc phổ thông đến đại học, với các nội dung như kỹ năng thông tin, an toàn mạng, trách nhiệm xã hội trong môi trường số. Đồng thời, cần phát triển các chương trình đào tạo cộng đồng, đặc biệt hướng tới các nhóm yếu thế về năng lực số.
(2) Hình thành và phát triển năng lực miễn dịch thông tin xấu, độc… cho công dân, thông qua các chương trình nâng cao nhận thức và kỹ năng truyền thông số.
(3) Xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ lực lượng nòng cốt trên không gian mạng, bao gồm cán bộ tuyên giáo, báo chí – truyền thông, đoàn thể, cộng tác viên dư luận xã hội, quản trị cộng đồng số theo hướng liên ngành: chính trị học – truyền thông – dữ liệu – an ninh mạng – tâm lý học xã hội. Những chủ thể này có trách nhiệm, tham gia tích cực vào việc lan tỏa thông tin chính thống và phản bác quan điểm sai trái.
(4) Phát triển năng lực sáng tạo nội dung tích cực cho thanh niên, sinh viên, nhà báo công dân, KOL/KOC có uy tín: kể chuyện dữ liệu, thiết kế thông điệp, sản xuất đa phương tiện, tương tác cộng đồng, xử lý khủng hoảng truyền thông ở cấp cơ sở.
(5) Thúc đẩy trách nhiệm xã hội và đạo đức số, thông qua việc xây dựng các chuẩn mực hành vi trong môi trường số và cơ chế khuyến khích, tôn vinh các hành vi tích cực.
(6) Khuyến khích hình thành văn hóa tranh luận lành mạnh: tôn trọng khác biệt, lập luận dựa trên bằng chứng, không công kích cá nhân; coi đây là nền tảng để “đa chiều, đa dạng thông tin” trở thành nguồn lực tri thức kiếm tìm giải pháp giải quyết vấn đề.
3.3. Đổi mới công tác truyền thông chính trị theo hướng dữ liệu hóa và tương tác
Một là, chuyển từ truyền thông một chiều sang truyền thông tương tác, lấy người dùng làm trung tâm. Chuyển từ “thông báo” sang “giải thích – đối thoại – giải trình”: tăng nội dung hỏi-đáp, đồ họa dữ liệu, sản phẩm ngắn gọn phù hợp thói quen tiếp nhận trên nền tảng số. Nội dung chính trị cần được thiết kế phù hợp với đặc điểm của môi trường số, bảo đảm tính hấp dẫn, dễ tiếp cận và có khả năng lan tỏa cao. Xây dựng chiến lược nội dung theo nhóm công chúng: người trẻ, công nhân, nông dân, trí thức, doanh nghiệp…; thiết kế thông điệp bằng ngôn ngữ đời sống nhưng bảo đảm chuẩn mực chính trị và tính khoa học.
Hai là, xây dựng hệ sinh thái truyền thông chính thống trên không gian mạng, trong đó các cơ quan báo chí, tổ chức chính trị – xã hội và các nền tảng số phối hợp chặt chẽ nhằm tạo ra dòng chảy thông tin tích cực, có sức cạnh tranh với các nguồn thông tin khác. Phối hợp báo chí – truyền thông số – truyền thông cơ sở để tạo hiệu ứng cộng hưởng; phát huy các kênh chính thống của cơ quan Đảng, Nhà nước đồng thời thúc đẩy lan tỏa qua cộng đồng công dân số tích cực.
Ba là, tăng “tốc độ phản ứng” có kiểm soát thông qua quy trình tác nghiệp chuẩn: phát hiện, cảnh báo sớm – xác minh – cung cấp thông tin chính thống – phản bác bằng luận cứ khoa học, thực tiễn – theo dõi dư luận; hạn chế khoảng trống thông tin.
Bốn là, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số trong truyền thông chính trị, bao gồm phân tích dữ liệu người dùng, cá thể hóa nội dung và sử dụng các hình thức truyền thông đa phương tiện.
3.4. Đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật và bảo đảm an toàn, an ninh mạng
Hạ tầng số là nền tảng vật chất của xã hội số, và cũng là điều kiện bảo đảm cho việc kiểm soát và định hướng không gian thông tin. Do đó, cần ưu tiên phát triển các nền tảng số quốc gia, đặc biệt là các nền tảng mạng xã hội, công cụ tìm kiếm, hệ thống phân phối nội dung mang tính “Make in Vietnam”. Tiếp tục đầu tư phát triển hạ tầng số đồng bộ, bảo đảm khả năng kết nối rộng khắp và an toàn thông tin. Đây là điều kiện nền tảng để phát triển xã hội số và triển khai các giải pháp khác. Phát triển hạ tầng số tin cậy (băng thông, trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây) gắn với tiêu chuẩn an toàn thông tin; ưu tiên các hệ thống phục vụ truyền thông chính trị, cung cấp thông tin công.
Đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và các công nghệ mới trong quản lý và truyền thông, nhằm nâng cao hiệu quả phát hiện, phân tích và xử lý thông tin. Xây dựng các hệ thống cảnh báo sớm đối với thông tin sai lệch, kết hợp giữa công nghệ và sự tham gia của cộng đồng. Tăng cường năng lực giám sát và ứng cứu: thiết lập trung tâm điều hành an toàn thông tin, cơ chế chia sẻ cảnh báo sớm giữa cơ quan quản lý – doanh nghiệp – đơn vị vận hành nền tảng. Giảm bất bình đẳng số bằng việc mở rộng phủ sóng, hỗ trợ kỹ năng số cho nhóm yếu thế; vì khoảng cách số có thể trở thành khoảng trống thông tin, tạo điều kiện cho tin giả lây lan.
3.5. Ứng dụng công nghệ hiện đại để phát hiện, ngăn chặn và phản bác thông tin sai trái
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), học máy (Machine Learning, ML), chương trình phần mềm tự động (Bot) để phát hiện bất thường lan truyền, chủ đề thao túng; kết hợp thẩm định của chuyên gia để tránh thiên lệch thuật toán và bảo đảm tính chính xác. Triển khai công cụ kiểm chứng số (fact-checking) cho báo chí và cộng đồng: xác thực hình ảnh/video, truy vết nguồn, đối chiếu dữ liệu mở; hình thành mạng lưới cộng tác viên kiểm chứng. Ban hành hướng dẫn sử dụng AI tạo sinh trong cơ quan, báo chí, trường học; quy định về minh bạch nguồn gốc nội dung, chống lạm dụng deepfake. Phát triển kho tri thức và dữ liệu phục vụ phản bác: cơ sở dữ liệu câu hỏi-trả lời, luận cứ, số liệu chính thống, tài liệu lịch sử – pháp lý; cung cấp API/nội dung dùng lại cho truyền thông cơ sở.
Các giải pháp nêu trên cần được triển khai một cách đồng bộ, có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị, doanh nghiệp công nghệ và toàn xã hội. Đồng thời, cần có cơ chế giám sát, đánh giá hiệu quả thực hiện, bảo đảm các giải pháp không chỉ mang tính định hướng mà còn có khả năng triển khai thực tế. Việc xây dựng xã hội số và phát triển công dân số do đó cần được nhìn nhận như một quá trình lâu dài, đòi hỏi sự kiên trì, nhất quán và đổi mới liên tục, nhằm đáp ứng yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh chuyển đổi số ngày càng sâu rộng.
4. Kết luận và hàm ý chính sách
Thực tiễn quản trị không gian mạng đặt ra một số thách thức cần xử lý hài hòa.
Thứ nhất, tốc độ lan truyền thông tin trên nền tảng số thường vượt quá tốc độ xác minh và phản hồi chính thống, dẫn tới khoảng trống thông tin-điểm tựa cho tin giả và luận điệu xuyên tạc.
Thứ hai, quản trị nội dung cần cân bằng giữa yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội với yêu cầu bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân trong môi trường số, trong đó quyền riêng tư và bảo vệ dữ liệu cá nhân nổi lên như nền tảng của “niềm tin số”.
Thứ ba, cơ chế phân phối thông tin do nền tảng chi phối khiến nhà nước và xã hội phải vừa tăng năng lực quản trị, vừa thúc đẩy trách nhiệm nền tảng và minh bạch thuật toán ở mức phù hợp, tránh để “kinh tế chú ý” lấn át tiêu chuẩn sự thật.
Thứ tư, trong bối cảnh nội dung xuyên biên giới, hiệu quả quản trị phụ thuộc đáng kể vào hợp tác giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp nền tảng và cộng đồng người dùng, thay vì dựa thuần túy vào các biện pháp hành chính.
Để tránh tình trạng triển khai giải pháp theo phong trào, cần hình thành khung đánh giá dựa trên dữ liệu với một số nhóm chỉ số gợi ý: (1) Chỉ số tiếp cận và độ tin cậy của kênh chính thống (lượt tiếp cận, tỷ lệ tương tác tích cực, mức độ lan tỏa theo mạng lưới); (2) Chỉ số phản ứng (thời gian phát hiện – xác minh – cung cấp thông tin; tỷ lệ thu hẹp khoảng trống thông tin); (3) Chỉ số “miễn dịch” công dân số (năng lực kiểm chứng, nhận diện tin giả, thực hành an toàn số; mức độ sẵn sàng báo cáo nội dung vi phạm); (4) Chỉ số an toàn – niềm tin số (sự cố lộ lọt dữ liệu, mức độ tuân thủ bảo vệ dữ liệu cá nhân, mức độ hài lòng và tin tưởng của người dùng); (5) Chỉ số hợp tác nền tảng (tỷ lệ xử lý yêu cầu hợp lệ, tốc độ gỡ bỏ nội dung vi phạm, mức độ minh bạch báo cáo). Ở cấp chính sách, các chỉ số này cần được “neo” vào mục tiêu chuyển đổi số quốc gia và các chương trình phát triển xã hội số để tạo tính thống nhất trong điều hành.
Chuyển đổi số làm xuất hiện những điều kiện mới của đời sống chính trị – xã hội, trong đó không gian mạng vừa mở rộng năng lực lan tỏa thông tin chính thống, vừa làm gia tăng rủi ro sai lệch thông tin và thao túng nhận thức. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng không chỉ là nhiệm vụ xử lý “phần ngọn” của thông tin độc hại mà là quá trình xây dựng “nền” về thể chế, hạ tầng, văn hóa và năng lực công dân. Xã hội số tạo điều kiện hệ thống; công dân số là chủ thể trực tiếp tham gia tự bảo vệ và đồng kiến tạo không gian thông tin. Xây dựng xã hội số tin cậy, an toàn và phát triển đội ngũ công dân số có bản lĩnh chính trị, có năng lực số và trách nhiệm xã hội, là giải pháp căn cơ, lâu dài để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng trong bối cảnh chuyển đổi số ngày càng sâu rộng”.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2019). Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
2. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
4. Quốc hội (2025). Luật Chuyển đổi số năm 2025.
5. Quốc hội (2025). Luật An ninh mạng năm 2025.
6. Quốc hội (2023). Luật Giao dịch điện tử số năm 2023.
7. Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 759/QĐ-TTg ngày 03/6/2020, phê duyệt Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
8. Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 411/QĐ-TTg ngày 31/3/2022 phê duyệt Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
9. Trí tuệ nhân tạo được sử dụng để tạo ra hình ảnh, video và bản ghi âm giả mạo có sức thuyết phục. https://datareportal.com/reports/digital-2025-vietnam.



