Năng lực số trong quản lý kinh tế hộ gia đình người H’Mông ở tỉnh Lào Cai: tiếp cận từ vốn sinh kế

Digital capabilities in household economic management among the H’Mong people in Lao Cai Province: a livelihood capital perspective

ThS. Phùng Thị Ngọc Loan
Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong

(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, năng lực số đang trở thành yếu tố then chốt để các hộ gia đình người H’Mông chuyển hóa các nguồn vốn sinh kế thành thu nhập bền vững. Bài viết sử dụng khung phân tích sinh kế bền vững (DFID) để đánh giá thực trạng năng lực số của người H’Mông ở tỉnh Lào Cai trong việc sử dụng các nguồn vốn con người, tự nhiên, vật chất, tài chính, xã hội và văn hóa. Từ kết quả nghiên cứu, bài viết đề xuất giải pháp phát triển năng lực số gắn với quản lý kinh tế hộ, góp phần thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững và phát triển bao trùm vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Từ khóa: Năng lực số; người H’Mông; quản lý kinh tế hộ gia đình; vốn sinh kế; Lào Cai.

Abstract: Against the backdrop of the national digital transformation and the implementation of the National Target Program for Socio-Economic Development in Ethnic Minority and Mountainous Areas, digital capabilities are becoming a key factor for H’Mong households in transforming their livelihood resources into sustainable income. This article uses the Sustainable Livelihoods Framework (DFID) to assess the current state of digital capabilities among the H’Mong in Lao Cai Province, focusing on their use of human, natural, physical, financial, social, and cultural resources. Based on the research findings, the article proposes solutions to develop digital capabilities for household economic management, thereby contributing to sustainable poverty reduction and inclusive development in ethnic minority communities.

Keywords: Digital capabilities; H’Mong people; household economic management; livelihood capital; Lao Cai.

1. Đặt vấn đề

Chuyển đổi số đang trở thành động lực quan trọng cho phát triển kinh tế – xã hội, mở ra những cơ hội mới cho các nhóm dân cư, kể cả vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Ở cấp độ quốc gia, Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030 đặt ra yêu cầu giải quyết đồng bộ các vấn đề hạ tầng, sinh kế, giáo dục, văn hóa, giảm nghèo và phát triển nguồn nhân lực vùng dân tộc thiểu số (Thủ tướng Chính phủ, 2021). Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 xác định chuyển đổi số đồng thời hướng tới phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số và hình thành năng lực số cho người dân, doanh nghiệp (Thủ tướng Chính phủ, 2020). Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu đưa hoạt động kinh tế – xã hội lên môi trường số, phát triển công dân số và thu hẹp khoảng cách số giữa các nhóm dân cư, địa bàn (Thủ tướng Chính phủ, 2022). Đặc biệt, Nghị quyết số 57-NQ/TW coi phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực then chốt để nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh và chất lượng phát triển đất nước (Bộ Chính trị, 2024).

Tỉnh Lào Cai, nơi đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 61,1% dân số, trong đó người H’Mông là cộng đồng đông đảo thứ hai, với 346.013 người (UBND Lào Cai, 2026), đang đứng trước những cơ hội và thách thức trong việc thúc đẩy phát triển sinh kế bền vững dựa trên nền tảng số. Sự mở rộng địa giới hành chính sau hợp nhất với tỉnh Yên Bái cũ đã tạo ra sự đa dạng hóa về điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội và mức độ tiếp cận dịch vụ, đòi hỏi những cách tiếp cận mới trong phát triển kinh tế hộ gia đình.

Bài viết tiếp cận năng lực số như một biểu hiện mới, một thành tố cốt lõi của vốn con người trong thời đại Cách mạng công nghiệp 4.0, đồng thời coi hạ tầng số là một bộ phận quan trọng của vốn vật chất. Cách tiếp cận này cho phép đánh giá thực chất khoảng cách giữa chính sách hỗ trợ, hạ tầng được đầu tư với năng lực sử dụng thực tế của hộ gia đình, từ đó lý giải vì sao hiệu quả giảm nghèo còn hạn chế và đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực quản lý kinh tế hộ cho người H’Mông trong bối cảnh mới.

2. Thực trạng năng lực số của người H’Mông trong sử dụng vốn sinh kế

2.1. Khái quát về năng lực số và vốn sinh kế của hộ gia đình người H’Mông

Năng lực số trong phạm vi bài viết được hiểu là khả năng tiếp cận, sử dụng và vận dụng công nghệ số một cách an toàn, hiệu quả, có trách nhiệm để phục vụ học tập, lao động, sản xuất, kinh doanh, giao tiếp, tiếp cận chính sách và quản lý sinh kế hộ gia đình. Với người H’Mông, năng lực số không nên được định nghĩa theo chuẩn đô thị hoặc chuẩn kỹ thuật cao, mà cần được hiểu theo hướng phù hợp thực tiễn, với điều kiện vùng cao, trình độ học vấn, ngôn ngữ, tập quán sản xuất, quan hệ cộng đồng và nhu cầu sinh kế.

Năng lực số của hộ gia đình được hiểu là khả năng tập thể của các thành viên trong hộ trong việc tiếp cận, hiểu, vận hành, đánh giá và sử dụng có mục đích các công cụ, nền tảng, ứng dụng và nội dung số nhằm phục vụ trực tiếp cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh, quản lý tài chính, học tập, sử dụng dịch vụ công và quản lý rủi ro. Dựa trên tổng hợp lý thuyết và kế thừa các nghiên cứu trước (Nam, 2023), năng lực số của hộ gia đình người H’Mông được cấu thành bởi bảy nhóm năng lực chính: (1) tiếp cận thiết bị và kết nối số; (2) tìm kiếm, xử lý và đánh giá thông tin số; (3) giao dịch và thanh toán số; (4) kinh doanh số và quảng bá sản phẩm; (5) học tập số và đổi mới sản xuất; (6) an toàn số; và (7) chuyển hóa kết quả kinh tế từ ứng dụng số.

Đánh giá thực trạng năng lực số được đặt trong bối cảnh các nguồn vốn sinh kế của hộ. Người H’Mông ở Lào Cai sở hữu các nguồn vốn quan trọng: vốn con người với tri thức bản địa phong phú nhưng hạn chế về học vấn (chỉ 68,5% người từ 15 tuổi trở lên biết đọc, biết viết tiếng phổ thông) (TCTK, 2024); vốn tự nhiên với diện tích đất nông nghiệp bình quân khá nhưng chất lượng đất xấu và chịu tác động của biến đổi khí hậu; vốn vật chất bao gồm hạ tầng số đã được đầu tư nhưng chất lượng chưa đồng đều; vốn tài chính với thu nhập thấp (chỉ bằng 62% mức trung bình tỉnh) (UBND tỉnh Lào Cai, 2026) và khả năng tiếp cận tín dụng hạn chế; vốn xã hội chặt chẽ nhưng đôi khi tạo áp lực chi tiêu; và vốn văn hóa đặc sắc có tiềm năng phát triển kinh tế số. Năng lực số được xem là “chất xúc tác” để kết nối và chuyển hóa hiệu quả các nguồn vốn này thành thu nhập bền vững.

2.2. Thực trạng và phân hóa năng lực số theo các nhóm chỉ báo

Kết quả tổng hợp từ các báo cáo chính thức và khảo sát thực địa cho thấy năng lực số của hộ gia đình người H’Mông ở Lào Cai đã có những chuyển biến nhất định nhưng còn nhiều hạn chế và phân hóa sâu sắc.

Thứ nhất, về tiếp cận thiết bị và kết nối số: Điều kiện tiếp cận thiết bị và kết nối số ở Lào Cai đã có bước cải thiện so với trước, nhưng mức độ thụ hưởng còn khác nhau giữa các vùng. Theo thông tin công bố của tỉnh, trước thời điểm sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, Lào Cai có 161.102/171.984 hộ gia đình có điện thoại thông minh, đạt gần 94%; toàn tỉnh có 362.174 máy điện thoại thông minh, đồng thời 98,7% thôn, tổ dân phố được phủ sóng thông tin di động và 96,67% thôn, tổ dân phố có hạ tầng truy nhập internet băng rộng di động 3G, 4G tại khu vực trung tâm, khu dân cư (Cổng Thông tin điện tử tỉnh Lào Cai, 2023).

Báo cáo kinh tế – xã hội năm 2025 của tỉnh Lào Cai mới cho thấy tỷ lệ thôn, bản, tổ dân phố có cáp quang băng rộng đạt 98,2%; tỷ lệ phủ sóng 4G đạt 99,5%; tỷ lệ thuê bao di động sử dụng điện thoại thông minh đạt 98%; tỷ lệ hộ gia đình có kết nối internet băng rộng cố định đạt 72% (Văn phòng UBND tỉnh Lào Cai, 2026). Các số liệu này là căn cứ chính thức để thay thế các nhận định chung, như “hạ tầng số được cải thiện” hoặc “điện thoại thông minh tăng nhanh”, đồng thời cho thấy, nền tảng kỹ thuật đã tương đối thuận lợi để thúc đẩy sử dụng số trong sinh kế.

Tuy vậy, khoảng cách giữa “có hạ tầng số” và “sử dụng hạ tầng số hiệu quả” vẫn còn lớn. Hạ tầng số tạo điều kiện ban đầu, nhưng năng lực số thực chất phụ thuộc vào khả năng đọc hiểu, thao tác, đánh giá thông tin, quản lý giao dịch, bảo vệ tài khoản, kết nối thị trường và biến thông tin thành quyết định kinh tế. Trong thực tế, nhiều hộ H’Mông có điện thoại thông minh và internet nhưng chưa biết khai thác để lập kế hoạch sản xuất, ghi chép chi phí, tính lãi lỗ, theo dõi biến động giá, quảng bá sản phẩm hoặc quản lý đơn hàng. Năng lực số vì vậy đang ở giai đoạn chuyển tiếp: công cụ số đã hiện diện khá phổ biến, nhưng chưa chuyển hóa đồng đều thành năng lực quản lý kinh tế hộ.

Hạ tầng số đã được phủ rộng với 96,4% thôn vùng dân tộc thiểu số có sóng di động băng rộng. Tỷ lệ hộ H’Mông có điện thoại thông minh đạt 69,2%, có kết nối internet đạt 78,2% (Sở TT&TT Lào Cai, 2025). Tuy nhiên, chất lượng sóng và tốc độ kết nối không đồng đều giữa các vùng, tạo ra sự phân hóa rõ rệt.

Thứ hai, về tìm kiếm, xử lý và đánh giá thông tin số: khoảng 48% hộ có thành viên biết tra cứu thời tiết, giá nông sản trên Google/YouTube, nhưng chỉ 22% có thể đánh giá độ tin cậy của thông tin. Nhiều hộ gặp khó khăn trong việc kiểm chứng nguồn tin và áp dụng thông tin phù hợp với điều kiện địa phương. Rào cản ngôn ngữ là trở ngại lớn khi phần lớn nội dung số bằng tiếng Việt, trong khi 32% phụ nữ H’Mông trên 40 tuổi không đọc thông thạo tiếng Việt (Tổng cục Thống kê, 2024).

Thứ ba, về giao dịch và thanh toán số: đến cuối 2025, khoảng 55% hộ người H’Mông đã có tài khoản ngân hàng, nhưng chỉ 40% trong số đó sử dụng thường xuyên (NHCSXH, 2025). Thói quen sử dụng tiền mặt vẫn phổ biến, tâm lý e ngại và thiếu hiểu biết về bảo mật là rào cản lớn. Tỷ lệ sử dụng thanh toán không dùng tiền mặt tại chợ phiên chỉ đạt dưới 15%.

Thứ tư, về kinh doanh số và quảng bá sản phẩm: khoảng 18% hộ đã từng đăng bán sản phẩm trên Facebook hoặc Zalo. Doanh thu từ kênh số chiếm trung bình 9% tổng doanh thu hộ, riêng hộ homestay vùng du lịch là 24%. Tuy nhiên, đa số hộ chưa biết livestream, chạy quảng cáo hay xây dựng chiến lược nội dung.

Thứ năm, về học tập số và đổi mới sản xuất: 42% hộ có thanh niên xem video kỹ thuật trên YouTube. Trung tâm Khuyến nông tỉnh đã sản xuất 15 video hướng dẫn bằng tiếng H’Mông, nhưng tỷ lệ nội dung được bản địa hóa còn thấp.

Thứ sáu, về an toàn số: Đây là nhóm năng lực yếu nhất. Khoảng 70-75% người được hỏi không biết OTP là gì. Đã ghi nhận nhiều vụ lừa đảo qua mạng và tín dụng đen, gây thiệt hại cho người dân và tạo tâm lý e ngại đối với giao dịch số.

Thứ bảy, về chuyển hóa kết quả kinh tế: các hộ có năng lực số cao có thu nhập bình quân cao gấp 1,7 lần so với nhóm thấp nhất. Tuy nhiên, đóng góp trực tiếp của kênh số vào thu nhập còn khiêm tốn (dưới 15% đối với đa số hộ).

Bảng 1: Điểm năng lực số trung bình của hộ H’Mông theo địa bàn (thang điểm 100)

Địa bànTiếp cận TB & KNTìm kiếm TTGiao dịch sốKinh doanh sốHọc tập sốAn toàn sốChuyển hóa KTTổng
Sa Pa18/2012/1510/159/158/104/106/1567/100
Bắc Hà16/2010/158/157/157/103/105/1556/100
Bát Xát13/207/155/153/155/102/103/1538/100
Mường Khương11/206/154/152/154/102/102/1531/100
Si Ma Cai9/204/153/151/153/101/101/1522/100
Nguồn: Tổng hợp từ kết quả khảo sát của tác giả (2025, 2026) và các báo cáo của Sở TT&TT Lào Cai (2025). Ghi chú: Điểm số mang tính tương đối, phản ánh xu hướng.

Sự phân hóa năng lực số theo không gian địa lý là rất rõ rệt, từ 22/100 tại Si Ma Cai đến 67/100 tại Sa Pa. Điều này phản ánh sự khác biệt về điều kiện hạ tầng, mức độ tiếp xúc với thị trường và cơ hội phát triển du lịch dịch vụ. Sự phân hóa còn biểu hiện theo nhóm tuổi, giới tính và loại hình sinh kế, với thanh niên và hộ làm du lịch/dịch vụ có năng lực số cao hơn, trong khi phụ nữ, người cao tuổi và hộ thuần nông, sản xuất nhỏ lẻ có nguy cơ bị bỏ lại phía sau.

2.3. Thực trạng năng lực số trong sử dụng các nguồn vốn sinh kế cụ thể

Thứ nhất, vốn con người.

Năng lực số giúp nâng cao vốn con người thông qua tiếp cận tri thức mới, học nghề, cập nhật kỹ thuật sản xuất và cải thiện năng lực quản lý. Tuy nhiên, hạn chế về học vấn và tiếng phổ thông là rào cản lớn. Nhiều hộ chưa có thói quen ghi chép thu – chi (90% hộ không có sổ ghi chép), chưa tách bạch chi phí sản xuất với chi tiêu sinh hoạt (82% hộ không biết lợi nhuận ròng từ từng loại sản phẩm).

Hạn chế nổi bật là trình độ học vấn, khả năng sử dụng tiếng phổ thông và kỹ năng tiếp nhận thông tin chưa đồng đều. Một bộ phận người H’Mông, nhất là phụ nữ, người cao tuổi và hộ ở địa bàn xa trung tâm, còn gặp khó khăn khi đọc hiểu tài liệu kỹ thuật, hướng dẫn dịch vụ công, quy trình vay vốn, hợp đồng liên kết, điều kiện truy xuất nguồn gốc hoặc giao diện ứng dụng. Trong khi đó, phần lớn nền tảng số, biểu mẫu trực tuyến, hướng dẫn tài chính và nội dung đào tạo hiện nay được thiết kế bằng tiếng Việt phổ thông, sử dụng nhiều thuật ngữ kỹ thuật. Vì vậy, người dân có thể “xem” được thông tin nhưng chưa chắc “hiểu đúng”; có thể được hỗ trợ mở tài khoản nhưng chưa tự tin sử dụng; có thể tham gia lớp tập huấn nhưng sau đó không duy trì thực hành. Đây là rào cản căn bản làm cho năng lực số khó phát triển bền vững nếu thiếu phương pháp đào tạo phù hợp văn hóa và ngôn ngữ. Việc sử dụng các công cụ số quản lý kinh tế gần như chưa có, phản ánh khoảng cách lớn giữa năng lực số và năng lực quản lý kinh tế hộ thực chất.

Thứ hai, vốn tự nhiên.

Công nghệ số hỗ trợ tra cứu thời tiết, kỹ thuật canh tác bền vững, nhưng tỷ lệ hộ sử dụng thường xuyên các ứng dụng này chưa cao (dưới 20%). Tri thức bản địa phong phú có thể trở thành lợi thế cho phát triển sản phẩm OCOP và du lịch cộng đồng trên nền tảng số. Tuy nhiên, việc khai thác thông tin số phục vụ quản lý vốn tự nhiên còn hạn chế. Không ít hộ vẫn dựa chủ yếu vào kinh nghiệm truyền thống hoặc thông tin truyền miệng. Tri thức bản địa là nguồn lực quý, nhưng trong điều kiện biến đổi khí hậu, biến động thị trường và yêu cầu sản xuất hàng hóa, tri thức này cần được bổ sung bằng thông tin khoa học, khuyến nông, cảnh báo thiên tai và dữ liệu thị trường. Một rủi ro khác là người dân có thể xem mô hình trên mạng nhưng áp dụng máy móc, không phù hợp với đất đai, khí hậu, vốn, lao động và tập quán sản xuất của địa phương. Nhiều hộ chưa biết cách số hóa và kể câu chuyện văn hóa một cách hấp dẫn. Nguy cơ áp dụng máy móc các mô hình từ mạng xã hội, không phù hợp với điều kiện địa phương, cũng cần được lưu ý.

Thứ ba, vốn vật chất.

Hạ tầng số đã được cải thiện, nhưng khoảng cách giữa “có hạ tầng” và “sử dụng hiệu quả” còn rất lớn. Nhiều hộ có smartphone nhưng chủ yếu dùng cho giải trí và liên lạc cơ bản. Ở các vùng sâu, chất lượng sóng kém và chi phí kết nối cao là rào cản. Sự thiếu hụt nội dung số bản địa hóa cũng làm giảm giá trị của hạ tầng số như một nguồn vốn vật chất.

Thứ tư, vốn tài chính.

Vốn tài chính, tài chính số đã bắt đầu xuất hiện trong đời sống của một bộ phận hộ H’Mông, nhất là hộ làm du lịch, bán hàng, có con em đi làm xa hoặc sống gần trung tâm. Việc nhận chuyển khoản, sử dụng mã QR, dùng tài khoản ngân hàng đã trở nên quen thuộc hơn ở các nhóm hộ có giao dịch với khách du lịch, doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc khách hàng ngoài địa phương. Tuy nhiên, thói quen sử dụng tiền mặt vẫn phổ biến. Nhiều hộ lo mất tiền trong tài khoản, không nhớ mật khẩu, không hiểu mã OTP, không phân biệt được đường link thật – giả, không biết kiểm tra lịch sử giao dịch và chưa có kỹ năng xử lý khi nghi ngờ bị lừa đảo. Vì vậy, tài chính số mới dừng ở bước tiếp cận ở nhiều nơi, chưa trở thành năng lực quản trị tài chính hộ.

Tài chính số mở ra cơ hội mới, nhưng tâm lý ưa tiền mặt, lo ngại bị lừa đảo và thiếu hiểu biết về bảo mật khiến nhiều hộ chưa mạnh dạn sử dụng. Tín dụng đen qua ứng dụng số là rủi ro mới, đặc biệt với thanh niên H’Mông. Năng lực quản lý tài chính hộ yếu kém cản trở việc sử dụng hiệu quả các dịch vụ tài chính số.

Thứ năm, vốn xã hội và văn hóa.

Người H’Mông có lợi thế lớn từ quan hệ dòng họ, cộng đồng, người có uy tín, trưởng thôn, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên, tổ công nghệ số cộng đồng và hợp tác xã. Đây là nền tảng thuận lợi để lan tỏa kỹ năng số bằng cách học qua người quen, học qua thực hành và học từ mô hình gần gũi. Vốn xã hội truyền thống, đặc biệt là vai trò của người có uy tín, trưởng thôn và các hội đoàn, là nền tảng quan trọng để lan tỏa kỹ năng số. Thực tế cho thấy nơi nào có thanh niên biết công nghệ, phụ nữ năng động kinh doanh, cán bộ thôn bản nhiệt tình hoặc hộ điển hình làm du lịch, việc hướng dẫn người dân sử dụng Zalo, dịch vụ công trực tuyến, tài khoản ngân hàng, mã QR hoặc bán hàng qua mạng thuận lợi hơn.  Các mô hình như “Người bản số” đã phát huy hiệu quả tại một số xã điểm, giúp tăng tỷ lệ hồ sơ thủ tục hành chính trực tuyến (VietNamNet, 2025). Hội Phụ nữ tỉnh đã tổ chức nhiều lớp tập huấn kỹ năng số cho phụ nữ DTTS.

Tuy nhiên, hệ sinh thái hỗ trợ còn thiếu đồng bộ; tổ công nghệ số cộng đồng hoạt động cầm chừng ở nhiều nơi do thiếu kinh phí và năng lực. Vốn văn hóa H’Mông có tiềm năng lớn cho phát triển nội dung số và du lịch cộng đồng, nhưng nếu thiếu định hướng và năng lực sáng tạo, việc số hóa văn hóa có thể dẫn đến thương mại hóa thô ráp hoặc làm sai lệch bản sắc. Vốn văn hóa, người H’Mông có nhiều giá trị có thể chuyển hóa thành sinh kế số như trang phục, thổ cẩm, khèn, lễ hội, chợ phiên, ẩm thực, tri thức dược liệu, kinh nghiệm canh tác vùng cao, ruộng bậc thang và du lịch cộng đồng. Các video ngắn, hình ảnh sản phẩm, câu chuyện nghề, câu chuyện văn hóa và trải nghiệm bản địa có thể giúp thu hút khách du lịch, quảng bá sản phẩm và xây dựng niềm tin của thị trường. Một số hộ trẻ làm homestay hoặc bán hàng thủ công đã biết khai thác Facebook, Zalo, TikTok hoặc YouTube để giới thiệu sản phẩm, nhận đặt hàng và giữ liên hệ với khách. Tuy nhiên, năng lực sáng tạo nội dung số còn hạn chế; nhiều hộ chưa biết chụp ảnh, quay video, viết mô tả, định giá sản phẩm, phản hồi khách hàng hoặc bảo vệ quyền lợi văn hóa. Nếu thiếu định hướng, việc số hóa văn hóa có thể dẫn đến thương mại hóa thô ráp, trình diễn sai lệch bản sắc hoặc để người ngoài khai thác giá trị văn hóa mà cộng đồng không được hưởng lợi tương xứng.

2.4. Nguyên nhân, rào cản và thách thức

Những hạn chế trên bắt nguồn từ nhiều rào cản đan xen, tạo thành một hệ thống phức hợp kìm hãm sự phát triển năng lực số trong quản lý kinh tế hộ.

(1) Rào cản về học vấn và ngôn ngữ: Trình độ học vấn và khả năng sử dụng tiếng phổ thông chưa đồng đều, nhất là ở nhóm phụ nữ và người cao tuổi, là trở ngại lớn khi các nền tảng số và nội dung hướng dẫn chủ yếu bằng tiếng Việt.

(2) Rào cản về tâm lý và niềm tin: Tâm lý e ngại công nghệ mới, “sợ bị lừa”, “sợ mất tiền trong tài khoản”, thói quen sử dụng tiền mặt ăn sâu, cùng các vụ lừa đảo tài chính gây mất niềm tin vào giao dịch số.

(3) Rào cản về cấu trúc hộ và giới: Nghịch lý “quyền lực – năng lực” trong nội bộ hộ gia đình: thanh niên thành thạo công nghệ nhưng ít quyền quyết định kinh tế, trong khi người có quyền quyết định (thường là nam giới lớn tuổi) lại ít sử dụng công nghệ. Phụ nữ tham gia nhiều vào kinh tế hộ nhưng có ít cơ hội học kỹ năng số.

(4) Rào cản về thể chế và tổ chức thực hiện: Các chính sách hỗ trợ còn dàn trải, manh mún, thiếu cơ chế phối hợp liên ngành. Nhiều địa phương chạy theo chỉ tiêu số lượng (“mở tài khoản”, “cài ứng dụng”) mà chưa quan tâm đến chất lượng sử dụng thực chất. Tổ công nghệ số cộng đồng thiếu kinh phí và kỹ năng hoạt động hiệu quả.

(5) Rào cản từ thị trường và sản phẩm: Sản phẩm nông sản, thổ cẩm chưa chuẩn hóa, thiếu tem nhãn, truy xuất nguồn gốc, chi phí logistics vùng cao cao, làm giảm sức cạnh tranh trên thị trường số.

Những rào cản này tạo ra một thách thức lớn: làm thế nào để chuyển từ “số hóa hình thức” sang “chuyển đổi số thực chất”, từ việc có thiết bị sang sử dụng hiệu quả để tạo ra giá trị kinh tế, từ hỗ trợ rời rạc sang phát triển hệ sinh thái đồng bộ, lấy hộ gia đình làm trung tâm.

Từ thực trạng đó, thách thức lớn nhất không chỉ là thiếu hạ tầng, mà là thiếu năng lực số thực chất gắn với quản lý kinh tế hộ. Nếu chuyển đổi số chỉ dừng ở cài ứng dụng, lập nhóm Zalo, mở tài khoản, hỗ trợ điện thoại, tổ chức lớp tập huấn hoặc đăng vài hình ảnh sản phẩm, quá trình này dễ rơi vào tình trạng hình thức. Thách thức đặt ra là phải chuyển từ tiếp cận thiết bị sang năng lực sử dụng; từ sử dụng công nghệ cho giao tiếp và giải trí sang sử dụng công nghệ để học tập, sản xuất, bán hàng, quản lý tài chính và phòng tránh rủi ro; từ đào tạo kỹ năng rời rạc sang hỗ trợ theo chuỗi sinh kế; từ hỗ trợ cá nhân sang phát triển năng lực số của cả hộ gia đình và cộng đồng; từ đầu tư hạ tầng sang đồng bộ hạ tầng, kỹ năng, niềm tin, thị trường và an toàn số.

3. Giải pháp phát triển năng lực số cho người H’Mông trong quản lý kinh tế hộ gia đình

Trên cơ sở phân tích thực trạng và rào cản, bài viết đề xuất sáu nhóm giải pháp trọng tâm, có tính hệ thống và khả thi, nhằm phát triển năng lực số gắn với quản lý kinh tế hộ cho người H’Mông ở tỉnh Lào Cai.

Một là, phân tổ nhóm đối tượng và thiết kế can thiệp chuyên biệt.

Không thể áp dụng một chương trình đào tạo năng lực số chung cho tất cả. Cần phân tổ chi tiết các nhóm hộ dựa trên các tiêu chí: (1) thế hệ (người cao tuổi, trung niên, thanh niên); (2) giới tính; (3) loại hình sinh kế (du lịch, nông nghiệp hàng hóa, sản xuất nhỏ lẻ, hộ OCOP, hộ tham gia hợp tác xã); và (4) không gian kinh tế (vùng du lịch trọng điểm, vùng thuần nông, vùng đặc biệt khó khăn). Trên cơ sở đó, thiết kế các mô hình tập huấn và hỗ trợ chuyên biệt: với người cao tuổi và hộ khó khăn – ưu tiên kỹ năng an toàn số cơ bản và dịch vụ công; với phụ nữ trung niên – ưu tiên kỹ năng bán hàng online và quản lý tài chính hộ; với thanh niên – ưu tiên kỹ năng livestream, quảng cáo, sáng tạo nội dung; với hộ có sản phẩm hàng hóa – ưu tiên truy xuất nguồn gốc, bao bì, thương mại điện tử.

Hai là, xây dựng bộ tiêu chí đánh giá mức độ trưởng thành số của hộ gia đình (DHMI).

Để đánh giá đúng tiến trình và kết quả, cần chuyển từ tư duy thống kê số lượng sang kiểm soát chất lượng thực chất. Cần khẩn trương xây dựng và ban hành Bộ tiêu chí đánh giá mức độ trưởng thành số của hộ gia đình (Digital Household Maturity Index – DHMI), bao gồm các chỉ báo định lượng và định tính về: (1) khả năng tự tìm kiếm và đánh giá thông tin phục vụ sản xuất – kinh doanh; (2) mức độ sử dụng dịch vụ công trực tuyến và thanh toán số; (3) khả năng quản lý đơn hàng và phản hồi khách hàng; (4) thói quen ghi chép thu – chi bằng công cụ số và tính toán hiệu quả kinh tế; (5) năng lực nhận diện và phòng tránh rủi ro số; (6) mức độ tham gia của phụ nữ và thanh niên vào hoạt động sinh kế số. Việc áp dụng DHMI giúp định hướng hỗ trợ và đo lường kết quả một cách thực chất.

Ba là, chuẩn hóa sản phẩm và xây dựng logistics gắn với số hóa.

Số hóa sinh kế không thể tách rời nền kinh tế thực. Cần xây dựng tiêu chuẩn tối thiểu cho sản phẩm OCOP và đặc sản địa phương, hướng dẫn hộ thiết kế bao bì, tem truy xuất nguồn gốc (QR code) và xây dựng câu chuyện sản phẩm. Đặc biệt, cần phát triển các điểm thu gom sản phẩm tập trung tại cấp xã, kết nối với hợp tác xã và doanh nghiệp để giảm chi phí logistics, một rào cản lớn cho thương mại điện tử vùng cao. Sự kết nối đồng bộ giữa quản trị chất lượng tại chỗ và mạng lưới phân phối là yếu tố then chốt để duy trì uy tín và cạnh tranh trên thị trường số.

Bốn là, phát triển năng lực số gắn liền với nâng cao năng lực quản lý kinh tế hộ.

Đổi mới phương thức đào tạo theo hướng “học để làm được việc”. Đào tạo năng lực số cho người H’Mông không nên nặng lý thuyết, xa nơi cư trú, dùng nhiều thuật ngữ kỹ thuật hoặc tách khỏi nhu cầu sinh kế. Cách phù hợp hơn là đào tạo ngắn gọn, trực quan, thực hành nhiều, cầm tay chỉ việc, tổ chức ngay tại thôn bản, nhà văn hóa, chợ phiên, hợp tác xã, điểm du lịch cộng đồng hoặc mô hình sản xuất. Người dân cần được học trên chính điện thoại, sản phẩm, tài khoản, đơn hàng và công việc thật của mình. Thay vì giảng chung về thương mại điện tử, người hướng dẫn có thể giúp một hộ chụp ảnh sản phẩm thổ cẩm, viết lời giới thiệu, đăng bài bán hàng, trả lời khách, nhận chuyển khoản, ghi doanh thu và bảo vệ tài khoản. Các chương trình đào tạo phải được tích hợp sâu cấu phần “mềm” về quản trị kinh tế, bao gồm: kỹ năng hạch toán và quản lý tài chính số; phương pháp lập kế hoạch sản xuất, tính toán chi phí – lợi nhuận dựa trên dữ liệu số; năng lực khai thác thông tin thị trường để ra quyết định; kỹ năng quản lý rủi ro và lập kế hoạch dự phòng tài chính. Cần thiết kế các khóa đào tạo cụ thể, thực hành “cầm tay chỉ việc” như: “Cách ghi sổ thu chi trên ứng dụng di động”, “Cách tính lãi/lỗ cho từng loại cây trồng/vật nuôi”, “Cách sử dụng Zalo/Facebook để bán hàng và chăm sóc khách hàng”, “Cách nhận diện và phòng tránh lừa đảo trên môi trường số”. Mục tiêu cốt lõi là giúp các chủ hộ chuyển hóa công nghệ số thành công cụ ra quyết định kinh tế thông minh.

Phát triển mô hình cộng đồng học tập số trong thôn bản H’Mông. Đối với người H’Mông, học tập thường hiệu quả thông qua quan sát, làm theo, học từ người quen, học qua cộng đồng và học bằng thực hành. Vì vậy, cần hình thành các nhóm học tập số tại thôn bản, nhóm phụ nữ, nhóm thanh niên, tổ du lịch cộng đồng, tổ hợp tác, hợp tác xã và tổ công nghệ số cộng đồng. Trong mô hình này, hộ làm tốt hướng dẫn hộ chưa làm được; thanh niên hỗ trợ người lớn tuổi; phụ nữ chia sẻ kinh nghiệm bán hàng; cán bộ xã, đoàn thể và tổ công nghệ số cộng đồng hỗ trợ kỹ thuật; hợp tác xã hỗ trợ sản phẩm và thị trường. Cộng đồng học tập số không chỉ là nơi truyền đạt kiến thức, mà còn là điểm hỗ trợ thường xuyên khi người dân gặp khó khăn trong chuyển khoản, tạo mã QR, đăng sản phẩm, tra cứu chính sách, sử dụng dịch vụ công hoặc nghi ngờ bị lừa đảo. Đây là cách biến năng lực số từ kỹ năng cá nhân thành tài sản chung của cộng đồng.

Tuy nhiên, nếu chỉ có thiết bị mà không có người hướng dẫn, thiết bị dễ được sử dụng chủ yếu cho giải trí hoặc liên lạc, chưa tạo giá trị sinh kế. Vì vậy, phát triển hạ tầng cần đồng thời phát triển đội ngũ hướng dẫn tại chỗ, tài liệu đơn giản, video song ngữ khi cần thiết và cơ chế bảo trì, hỗ trợ kỹ thuật thường xuyên.

Năm là, tổ chức lại hệ sinh thái hỗ trợ lấy hộ gia đình làm trung tâm.

Cần xóa bỏ tình trạng cắt khúc trong quản lý, thiết lập một đầu mối điều phối thống nhất tại cấp xã (có thể là công chức văn hóa – xã hội hoặc cán bộ dân tộc) để kết nối và điều phối các nguồn lực từ chính quyền, hội đoàn thể, hợp tác xã, doanh nghiệp, ngân hàng và tổ công nghệ số cộng đồng. Đầu mối này sẽ nắm bắt nhu cầu thực tế của hộ, rà soát và điều phối hỗ trợ, tránh trùng lặp và bỏ sót. Cần tăng cường năng lực và kinh phí cho Tổ công nghệ số cộng đồng, đổi mới hoạt động theo hướng sát thực tế và có trọng tâm. Phát huy vai trò của mô hình “cộng đồng học tập số”, các hộ điển hình, người có uy tín và lực lượng thanh niên làm “hạt nhân số”.

Sáu là, xây dựng mô hình mạng lưới hỗ trợ có khả năng lan tỏa và nhân rộng.

Phát huy vai trò của các chủ thể trong hệ sinh thái hỗ trợ. Chính quyền địa phương giữ vai trò điều phối, rà soát nhu cầu, lồng ghép nguồn lực và theo dõi kết quả. Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể cơ sở có vai trò tuyên truyền, vận động, tổ chức nhóm học tập và hỗ trợ các nhóm yếu thế. Tổ công nghệ số cộng đồng cần được giao nhiệm vụ rõ ràng, được bồi dưỡng kỹ năng, có kinh phí hoạt động và có tài liệu hướng dẫn dễ hiểu. Hợp tác xã, doanh nghiệp, ngân hàng, nhà mạng và cơ sở đào tạo cần tham gia vào các khâu cụ thể như hỗ trợ thiết bị, gói cước, tài khoản thanh toán, truy xuất nguồn gốc, tiêu thụ sản phẩm, đào tạo kỹ năng, quảng bá và logistics. Đặc biệt, cần xây dựng đội ngũ hạt nhân số là người H’Mông, biết tiếng H’Mông, hiểu văn hóa H’Mông và có khả năng hướng dẫn bằng cách gần gũi, dễ hiểu.

Người dân tin vào kết quả nhìn thấy. Cần lựa chọn một số hộ, nhóm phụ nữ, thanh niên, hợp tác xã hoặc thôn bản để xây dựng các mô hình điểm, như: “hộ gia đình số sinh kế”, “phụ nữ H’Mông bán hàng trực tuyến”, “thanh niên H’Mông hỗ trợ công nghệ số”, “du lịch cộng đồng H’Mông gắn với truyền thông số”. Khi mô hình tạo ra kết quả cụ thể (bán được hàng, tăng thu nhập, sử dụng dịch vụ công thuận lợi), sẽ tạo động lực và niềm tin cho các hộ khác học tập, nhân rộng. Những hộ làm tốt cần được lựa chọn làm “hộ dẫn dắt”, chia sẻ kinh nghiệm thực tế, tạo hiệu ứng lan tỏa trong cộng đồng.

4. Kết luận

Năng lực số của người H’Mông trong quản lý kinh tế hộ gia đình là một năng lực phát triển, không chỉ là năng lực công nghệ. Đó là khả năng biến công nghệ số thành công cụ học tập, sản xuất, kinh doanh, quản lý tài chính, kết nối thị trường, tiếp cận chính sách, bảo vệ bản thân và phát huy bản sắc văn hóa. Cách tiếp cận từ vốn sinh kế cho thấy năng lực số không đứng ngoài sinh kế, mà tác động trực tiếp đến quá trình khai thác, kết nối và chuyển hóa vốn con người, vốn tự nhiên, vốn vật chất, vốn tài chính, vốn xã hội và vốn văn hóa thành kết quả sinh kế bền vững.

Năng lực số của người H’Mông trong quản lý kinh tế hộ gia đình ở Lào Cai đang ở giai đoạn chuyển tiếp quan trọng. Mặc dù hạ tầng số đã được đầu tư mạnh mẽ và một bộ phận dân cư đã bước đầu tiếp cận công nghệ, nhưng năng lực số thực chất để sử dụng các nguồn vốn sinh kế một cách hiệu quả còn thấp và có sự phân hóa sâu sắc. Khoảng cách giữa “có hạ tầng” và “sử dụng hiệu quả”, giữa “chính sách hỗ trợ” và “khả năng hấp thụ” của hộ gia đình vẫn còn lớn. Các rào cản về học vấn, ngôn ngữ, tâm lý, cấu trúc hộ, giới tính, thể chế và thị trường đan xen tạo thành những điểm nghẽn cho tiến trình số hóa sinh kế.

Sự phối hợp hiệu quả giữa Nhà nước, chính quyền địa phương, các tổ chức chính trị – xã hội, doanh nghiệp, hợp tác xã và đặc biệt là vai trò chủ thể của người dân và hộ gia đình H’Mông là yếu tố quyết định thành công. Chỉ khi các giải pháp nêu trên được thực hiện một cách đồng bộ và có sự tham gia tích cực của cộng đồng, năng lực số mới thực sự trở thành động lực giúp người H’Mông nâng cao hiệu quả quản lý kinh tế hộ, thoát nghèo bền vững và tham gia chủ động vào nền kinh tế số trong kỷ nguyên mới, góp phần thực hiện thành công Chương trình mục tiêu quốc gia 1719 và các mục tiêu phát triển bao trùm của tỉnh Lào Cai.

Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
2. Bộ Dân tộc và Tôn giáo (2025). Kết quả điều tra, thu thập thông tin về thực trạng kinh tế – xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2024. H. NXB Thống kê.
3. Cổng Thông tin điện tử tỉnh Lào Cai (2023). Lào Cai: Tỷ lệ hộ gia đình có điện thoại thông minh chiếm gần 94%, góp phần thúc đẩy chuyển đổi số toàn dân.
4. Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Lào Cai (2025). Báo cáo tín dụng chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số.
5. Quốc hội (2025). Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh.
6. Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Lào Cai (2025). Báo cáo tổng kết thi hành Nghị định số 05/2011/NĐ-CP và Nghị định số 127/2024/NĐ-CP.
7. Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Lào Cai (2025). Báo cáo hiện trạng hạ tầng số và chỉ số chuyển đổi số cấp tỉnh năm 2025.
8. Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Hà Nội.
9. Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030, giai đoạn I: 2021 – 2025.
10. Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 411/QĐ-TTg ngày 31/3/2022 phê duyệt Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
11. UBND tỉnh Lào Cai (2025). Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội tỉnh Lào Cai năm 2025.
12. Văn phòng UBND tỉnh Lào Cai (2026). Tình hình kinh tế – xã hội tỉnh Lào Cai năm 2025.
13. VietNamNet (ngày 10/12/2025). “Người bản số” mở lối phát triển, giảm nghèo thông tin ở Gia Phú.
14. Department for International Development (1999). Sustainable livelihoods guidance sheets. London: Department for International Development.