Assessing the quality of growth in Vietnam’s manufacturing industry, 2011–2024
ThS. Nguyễn Thị Mai
Trường Đại học Thương mại
(Quanlynhanuoc.vn) – Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế Việt Nam, đóng góp lớn vào tăng trưởng công nghiệp, xuất khẩu và thu hút đầu tư. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng cao chưa đồng nghĩa với việc chất lượng tăng trưởng được cải thiện. Bài viết đánh giá chất lượng tăng trưởng ngành chế biến, chế tạo của Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2024, trên cơ sở số liệu từ Tổng cục Thống kê và các nguồn dữ liệu liên quan. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp thống kê nhằm tính toán và phân tích các chỉ tiêu phản ánh chất lượng tăng trưởng của ngành chế biến, chế tạo. Kết quả nghiên cứu cho thấy, chất lượng tăng trưởng của ngành chế biến, chế tạo còn nhiều bất cập như tăng trưởng ngành chưa ổn định, mức độ chuyển dịch cơ cấu chậm, hiệu quả sử dụng vốn và năng suất lao động thấp, đóng góp của TFP vào tăng trưởng ngành đã có sự gia tăng nhưng chưa ổn định, năng lực cạnh tranh của ngành chưa có sự chuyển biến.
Từ khóa: Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, chất lượng tăng trưởng, TFP.
Abstract: The processing and manufacturing industry is a key driver of Vietnam’s economic growth, making a significant contribution to industrial growth, exports, and investment attraction. However, high growth rates do not necessarily translate into improved growth quality. This article aims to assess the quality of growth in Vietnam’s processing and manufacturing sectors during the 2011–2024 period, using secondary data from the General Statistics Office and related sources. The study employs statistical methods to calculate and analyze indicators reflecting the quality of growth in the processing and manufacturing sector. The research findings reveal that the quality of growth in the processing and manufacturing sector still has many shortcomings, such as unstable sector growth, a slow pace of structural transformation, low capital utilization efficiency and labor productivity, an increase in TFP’s contribution to sector growth that remains unstable, and a lack of improvement in the sector’s competitiveness.
Keywords: Processing and manufacturing industry, growth quality, TFP.
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam chuyển từ mục tiêu tăng trưởng theo chiều rộng sang tăng trưởng theo chiều sâu, việc nâng cao chất lượng tăng trưởng trở thành yêu cầu quan trọng nhằm bảo đảm phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo được xác định là động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế, đóng góp lớn vào tăng trưởng công nghiệp, xuất khẩu và thu hút đầu tư. Do đó, nâng cao chất lượng tăng trưởng của ngành chế biến, chế tạo sẽ góp phần nâng cao chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế. Tuy nhiên, bên cạnh tốc độ tăng trưởng khá cao, chất lượng tăng trưởng ngành chế biến, chế tạo còn là vấn đề cần được đánh giá một cách toàn diện, đánh giá chất lượng tăng trưởng ngành chế biến, chế tạo không chỉ phản ánh kết quả phát triển của ngành mà còn cung cấp cơ sở thực tiễn để nhận diện những mặt đạt được và những hạn chế trong quá trình tăng trưởng, là căn cứ quan trọng cho việc hoàn thiện các chính sách phát triển ngành. Trên cơ sở đó, bài viết tập trung đánh giá chất lượng tăng trưởng của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của Việt Nam thông qua các chỉ tiêu phản ánh tốc độ tăng trưởng, đóng góp của TFP, hiệu quả sử dụng vốn, năng suất lao động, chuyển dịch cơ cấu ngành và năng lực cạnh tranh của ngành. Kết quả nghiên cứu góp phần phản ánh thực trạng chất lượng tăng trưởng của ngành chế biến, chế tạo trong giai đoạn 2011 – 2024 và cung cấp cơ sở tham khảo cho các nghiên cứu chuyên sâu tiếp theo.
2. Cơ sở lý thuyết
2.1. Quan điểm về chất lượng tăng trưởng
Hiện nay chưa có khái niệm chính thức về chất lượng tăng trưởng kinh tế. Chất lượng tăng trưởng được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau. Theo nghĩa hẹp, chất lượng tăng trưởng được phản ánh thông qua chất lượng và hiệu quả trong việc sử dụng các nguồn lực đầu vào. Chất lượng tăng trưởng gắn liền với hiệu quả sử dụng các nguồn lực, như: vốn, lao động… ngày càng cao; có sự đóng góp ngày càng cao của TFP để bảo đảm duy trì được tốc độ tăng trưởng dài hạn và hạn chế được những tác động tiêu cực tới quá trình phát triển kinh tế; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng chất lượng và hiện đại; năng lực chế tạo của nền kinh tế ngày càng được cải thiện.
Theo nghĩa rộng, chất lượng tăng trưởng gần với nội hàm của phát triển bền vững, Theo quan điểm này, chất lượng tăng trưởng kinh tế không chỉ được hiểu là duy trì tốc độ tăng trưởng cao và lâu dài mà rộng hơn chất lượng tăng trưởng kinh tế gắn liền với phát triển bền vững theo nghĩa chú trọng đến cả ba thành tố: kinh tế – xã hội và môi trường. Theo Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED – World Commission on Environment and Development) của Liên Hợp quốc, “phát triển bền vững” là “sự phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn thương khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”.
Phát triển bền vững bảo toàn và phát triển 3 nguồn vốn: tài nguyên môi trường (bao gồm cả môi trường tự nhiên và môi trường xã hội), vốn nhân lực (chất lượng của người lao động) và vốn vật chất (cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế). Nội dung phát triển bền vững thể hiện trên cả ba khía cạnh: kinh tế, xã hội và môi trường, bao gồm: khơi dậy sự tăng trưởng; thay đổi chất lượng của tăng trưởng; đáp ứng yêu cầu cơ bản về việc làm, lương thực, nước sạch và vệ sinh môi trường; bảo vệ và tăng cường cơ sở tài nguyên; định hướng lại công nghệ và quản trị rủi ro; kết hợp môi trường và kinh tế trong việc ra quyết định; định hướng lại các quan hệ quốc tế.
Chất lượng tăng trưởng kinh tế được thể hiện trên hai khía cạnh: tốc độ tăng trưởng cao cần được duy trì trong dài hạn và tăng trưởng phải đóng góp trực tiếp vào việc cải thiện bền vững điều kiện sống của toàn xã hội, xóa đói giảm nghèo và phát triển bền vững. Tăng trưởng có chất lượng là tăng trưởng cao, ổn định, bền bỉ và thân thiện với xã hội. Chất lượng tăng trưởng kinh tế là sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững của nền kinh tế, được thể hiện qua một số chỉ tiêu như năng suất nhân tố tổng hợp; đời sống của nhân dân; chuyển dịch cơ cấu kinh tế; tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Ngoài ra, tính minh bạch, ít tham nhũng và sự tham gia của người dân vào quản lý kinh tế – xã hội sẽ tác động mạnh đến tăng trưởng kinh tế và ngược lại, tức là có mối tương quan chặt chẽ giữa thu nhập đầu người và mức độ dân chủ hóa của thể chế chính trị – xã hội và dân chủ chính là biểu hiện mặt chất lượng của tăng trưởng kinh tế.
Từ những quan điểm đã nêu ở trên, có thế khái quát khái niệm về chất lượng tăng trưởng kinh tế như sau: tăng trưởng kinh tế là sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững của nền kinh tế, thể hiện thông qua năng suất, chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế được cải thiện; cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, phù hợp với từng thời kỳ phát triển; năng lực chế tạo của nền kinh tế được nâng cao, mức sống của người dân không ngừng tăng lên; tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường và quản lý kinh tế của Nhà nước có hiệu quả. Đối với chất lượng tăng trưởng của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, theo quan điểm của tác giả, chất lượng tăng trưởng của ngành chế biến, chế tạo là thuộc tính bên trong của quá trình tăng trưởng ngành, thể hiện ở trạng thái tăng trưởng, phương thức tăng trưởng, hiệu quả tăng trưởng và khả năng cạnh tranh của ngành.
2.2. Các tiêu chí đánh giá chất lượng tăng trưởng ngành chế biến, chế tạo
(1) Sự ổn định của tăng trưởng. Trạng thái tăng trưởng được thể hiện thông qua tốc độ tăng trưởng nhanh hay chậm, quy mô tăng trưởng nhiều hay ít, và mức độ ổn định hay không ổn định. Trong đó, sự ổn định của tốc độ tăng trưởng phản ánh chất lượng tăng trưởng kinh tế. Để đánh giá sự ổn định của tăng trưởng, nghiên cứu sử dụng hệ số ổn định tăng trưởng (hệ số biến thiên tăng trưởng).

Trong đó: V là hệ số ổn định tăng trưởng; ơ là độ lệch tiêu chuẩn và g là tốc độ tăng trưởng bình quân trong giai đoạn nghiên cứu.
(2) Mức độ chuyển dịch cơ cấu ngành, phương thức tăng trưởng có thể phản ánh thông qua cách thức sử dụng các nguồn lực đầu vào, phản ánh thông qua sự dịch chuyển trong cơ cấu ngành phản ánh, khi sản xuất tập trung trong các ngành dựa vào dựa vào khai thác tài nguyên, công nghệ thấp thì đó là tăng trưởng theo chiều rộng và ngược lại sản xuất tập trung vào các ngành công nghệ cao, có gia trị gia tăng cao, đó là tăng trưởng theo chiều sâu và thể hiện chất lượng tăng trưởng cao. Mức độ chuyển dịch cơ cấu ngành được xác định dựa trên sự thay đổi tỷ trọng của từng ngành theo từng năm, đo lường bằng phương pháp vector – hệ số cos.

Trong đó, lần lượt là tỷ trọng ngành i tại kỳ gốc và kỳ nghiên cứu. Góc hợp bởi hai vector cơ cấu, cos càng lớn thì các cơ cấu càng gần nhau, cho thấy sự chuyển dịch chưa nhanh. Ngược lại, nếu cos càng nhỏ thì các cơ cấu càng xa nhau, cho thấy sự chuyển dịch nhanh hơn. Để đánh giá trực giác về sự chuyển dịch, có thể so sánh góc phi với giới hạn tối đa của sai lệch giữa hai vector, tức là 90°. Do đó, để đánh giá mức độ chuyển dịch ngành công nghiệp chế biến, chế tạo sử dụng công thức:

(3) Hiệu quả tăng trưởng thể hiện ở hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào như hiệu quả sử dụng vốn (hệ số ICOR), hiệu quả sử dụng lao động (năng suất lao động), hiệu quả sử dụng tiến bộ khoa học – công nghệ (TFP) trong sản xuất. Nếu hiệu quả sử dụng vốn, lao động, khoa học – công nghệ thấp, phản ánh chất lượng tăng trưởng kinh tế thấp và ngược lại, nếu hiệu quả sử dụng vốn, lao động, khoa học – công nghệ cao, thì đó là chất lượng tăng trưởng kinh tế cao.
Hệ số ICOR là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn. Hệ số ICOR cho biết cần bao nhiêu đồng vốn đầu tư thực hiện để tăng thêm 01 đồng tổng sản phẩm trong nước; nếu hệ số ICOR thấp thì phản ánh đầu tư có hiệu quả cao, ngược lại. Do đó, hệ số ICOR của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo được xác định theo công thức:

Năng suất lao động là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng lao động, đo lường quan hệ so sánh giữa kết quả sản xuất đầu ra và lao động trong một thời kỳ nhất định.

Trong đó, GDP/ VA là tổng sản phẩm trong nước hoặc giá trị gia tăng; L là số lao động.
Đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp TFP vào tăng trưởng, TFP là chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất mang lại do nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và lao động (các nhân tố hữu hình), nhờ vào tác động của các nhân tố vô hình như đổi mới công nghệ, hợp lý hóa sản xuất, cải tiến quản lý, nâng cao trình độ lao động của công nhân… Tốc độ tăng TFP là chỉ tiêu tổng hợp phản ảnh sự nhanh, chậm của tiến bộ khoa học công nghệ trong một thời gian nhất định, mức độ đóng góp của TFP phản ánh sự phụ thuộc của tăng trưởng dựa vào khoa học – công nghệ và hiệu quả sử dụng các nguồn lực, phản ánh sự chuyển dịch mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu, mức đóng góp của TFP càng cao chất lượng tăng trưởng càng cao và ngược lại.
Tốc độ tăng TFP được xác định dựa trên phương pháp hạch toán tăng trưởng:

Trong đó, lần lượt là tốc độ tăng GDP, tốc độ tăng vốn hoặc tài sản cố định và tốc độ tăng lao động; α và β là hệ số đóng góp của vốn và lao động, được xác định dựa trên bảng cân đối liên ngành I/O.
Tỷ phần đóng góp của TFP được đo lường bằng tỷ lệ giữa tốc độ tăng TFP và tốc độ tăng trưởng đầu ra.

(4) Năng lực cạnh tranh của ngành, để đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, nghiên cứu sử dụng chỉ tiêu năng lực cạnh tranh ngành công nghiệp CIP do UNIDO xây dựng, CIP được thể hiện qua các trụ cột: (1) Năng lực sản xuất và xuất khẩu công nghiệp chế biến, chế tạo, được thể hiện qua chỉ tiêu MVA bình quân đầu người, giá trị xuất khẩu sản phẩm chế biến, chế tạo bình quân đầu người; (2) Mức độ cải tiến và độ sâu của khoa học công nghệ trong sản phẩm chế biến, chế tạo, được tổng hợp từ hai chỉ tiêu cường độ công nghiệp hóa và chất lượng xuất khẩu sản phẩm chế biến, chế tạo; (3) Mức độ ảnh hưởng của ngành chế biến, chế tạo trong nước đến công nghiệp chế biến, chế tạo của thế giới, thể hiện qua tỷ trọng VA ngành chế biến, chế tạo của một nước trong tổng VA ngành chế biến, chế tạo của thế giới và tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm chế biến, chế tạo trong tổng giá trị xuất khẩu chế biến, chế tạo của thế giới.
3. Thực trạng chất lượng tăng lượng tăng trưởng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo
3.1. Sự ổn định của tăng trưởng ngành
Tốc độ tăng trưởng bình quân của ngành chế biến, chế tạo giai đoạn 2011 – 2024 đạt 8,56%/năm, cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP của toàn nền kinh tế là 6,09%/năm. Trong các năm 2011, 2016, 2017, 2018, tăng trưởng của ngành tương đối cao với tốc độ tăng trên 10%; các năm còn lại, tốc độ tăng thấp hơn do sản lượng của ngành sụt giảm, đặc biệt, năm 2023, tăng trưởng giá trị gia tăng của ngành đạt thấp nhất trong cả thời kỳ, tăng 3,61%.

Tăng trưởng ngành bắt đầu có sự ổn định, hệ số ổn định tăng trưởng ngành giai đoạn 2011 – 2024 đạt 0,321, trong đó, giai đoạn đầu 2011 – 2015 hệ số ổn định tương đối cao 0,609 nhưng các giai đoạn sau hệ số ổn định giảm dần, giai đoạn 2016 – 2020 hệ số ổn định giảm còn 0,129 và giai đoạn 2021 – 2024 hệ số ổn định giảm xuống còn 0,077, cho thấy sự cải thiện đáng kể của ngành chế biến, chế tạo trong việc giữ vững ổn định tăng trưởng, sản xuất ổn định hơn, ít biến động lớn qua các năm, qua đó góp phần ổn định tăng trưởng của nền kinh tế.
Bảng 1. Hệ số ổn định tăng trưởng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giai đoạn 2011 – 2024
| Giai đoạn | 2011 – 2015 | 2016 – 2020 | 2021 – 2024 | 2011 – 2024 |
| Hệ số ổn định tăng trưởng | 0,609 | 0,129 | 0,077 | 0,321 |
3.2. Mức độ chuyển dịch cơ cấu ngành

Tình hình chuyển dịch cơ cấu ngành chế biến, chế tạo giai đoạn 2011 – 2023 cho thấy các ngành công nghệ thấp và trung bình thấp đang là những ngành chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng giá trị gia tăng toàn ngành chế biến, chế tạo, tuy nhiên cơ cấu ngành đang có sự dịch chuyển theo hướng gia tăng các ngành công nghệ cao và giảm tỷ trọng các ngành công nghệ thấp, tỷ trọng GTGT của các ngành công nghệ cao tăng từ 6,9% năm 2011 lên 23,97% năm 2023, tăng 17,07 điểm phần trăm, trong khi các ngành công nghệ thấp có xu hướng giảm từ 47,9% năm 2011 xuống 37,58% tương ứng giảm 10,32 điểm phần trăm, tỷ trọng GTGT của các ngành công nghệ trung bình thấp và trung bình cao cũng có xu hướng giảm nhưng không đáng kể.
Bảng 2. Mức độ chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giai đoạn 2011 – 2024
| Giai đoạn | 2011 – 2015 | 2016 -2020 | 2021- 2023 | 2011 – 2023 |
| Hệ số | 0,957 | 0,994 | 0,999 | 0,937 |
| Góc chuyển dịch (độ) | 16,68 | 6,08 | 2,29 | 20,46 |
| Hệ số chuyển dịch n (%) | 18,5 | 6,7 | 2,5 | 22,7 |
Mức độ chuyển dịch cơ cấu ngành chế biến, chế tạo, giai đoạn 2011 – 2023, chuyển dịch cơ cấu trong ngành chế biến, chế tạo ở mức trung bình với hệ số bằng 0,937 và góc dịch chuyển đạt 20,46 độ, tuy nhiên, xét trong từng giai đoạn đặc biệt giai đoạn 2016 – 2020 và giai đoạn 2021 – 2024 là hai giai đoạn mà cơ cấu ngành dịch chuyển rất chậm, các hệ số tương đối cao lần lượt là 0,994 và 0,999 với góc dịch chuyển là 6,08 và 2,29 là hai mức dịch chuyển rất thấp. Như vậy, trong giai đoạn 2011 – 2023 cơ cấu ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có sự dịch chuyển từ các ngành công nghệ thấp sang các ngành công nghệ cao nhưng mức độ chuyển dịch thấp, phản ánh quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành diễn ra chậm, đóng góp vào giá trị gia tăng của toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chủ yếu vẫn là các ngành có trình độ công nghệ thấp và trung bình thấp, điều này phản ánh trình độ công nghệ của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo hiện nay vẫn ở mức thấp.
3.3. Hiệu quả tăng trưởng ngành
Hiệu quả sử dụng vốn của ngành chế biến, chế tạo trong giai đoạn 2011 – 2024 biến động tương đối mạnh và thiếu tính ổn định, phản ánh hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của ngành chưa thực sự bền vững, những năm 2014, 2020 và 2023 là những năm hệ số Icor tăng mạnh, cho thấy hiệu quả sử dụng vốn suy giảm đáng kể, điều này có thể do tác động của biến động thị trường thế giới khi nhu cầu thị trường suy giảm trong khi dòng vốn đầu tư tiếp tục gia tăng, dẫn đến hiệu quả khai thác vốn chưa cao. Tuy nhiên, năm 2024, Icor giảm mạnh xuống còn 4,25, phản ánh sự cải thiện đáng kể trong hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của ngành. Điều này cho thấy, quá trình phục hồi sản xuất và tăng trưởng của ngành có dấu hiệu tích cực hơn, vốn đang bắt đầu được chuyển hóa hiệu quả hơn.

Mặc dù là ngành thu hút lượng lớn lao động trong nên kinh tế và có tăng trưởng cao nhưng năng suất lao động ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thấp, so với các ngành trong nền kinh tế, năng suất lao động của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chỉ cao hơn năng suất lao động của ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản, Bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác; dịch vụ lưu trú và ăn uống nhưng thấp hơn rất nhiều so với các ngành trong khu vực công nghiệp – xây dựng, năng suất lao động ngành công nghiệp chế biến, chế tạo năm 2024 đạt 231,4 triệu đồng/năm, chỉ bằng 1/7 năng suất lao động ngành khai khoáng, 1/12 ngành sản xuất, phân phối điện.
Tốc độ gia tăng năng suất của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cũng thấp hơn các ngành này, năng suất lao động ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có tốc độ tăng trung bình 6,9%/ năm trong giai đoạn 2011 – 2024, thấp hơn ngành khai khoáng (8,5%), ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt (13,7%); cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải (6,7%). Nguyên nhân là do trình độ lao động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo còn hạn chế, với tỷ lệ lao động đã qua đào tạo thấp và thiếu kỹ năng chuyên môn. Bên cạnh đó, trình độ công nghệ của các doanh nghiệp còn lạc hậu, tốc độ đổi mới công nghệ chậm, khiến tăng trưởng năng suất chủ yếu dựa vào việc gia tăng vốn và lao động. Ngoài ra, cơ cấu ngành vẫn tập trung vào các khâu gia công, lắp ráp có giá trị gia tăng thấp, qua đó kìm hãm năng suất lao động của ngành.

Tỷ lệ đóng góp của TFP vào tăng trưởng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.
Bảng 3. Tỷ phần đóng góp của TFP vào tăng trưởng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo
| Năm | Tăng trưởng VA | Tỷ phần đóng góp của các nhân tố vào VA ngành | ||
| Đóng góp của tài sản cố định | Đóng góp của lao động | Đóng góp của TFP | ||
| 2011 – 2015 | 8,61 | 42,40 | 27,86 | 29,74 |
| 2016 – 2020 | 9,83 | 39,53 | 38,33 | 22,14 |
| 2021 – 2024 | 6,92 | 36,15 | 17,57 | 46,28 |
Giai đoạn 2011 – 2024 cho thấy cơ cấu đóng góp của các yếu tố vào tăng trưởng ngành có sự dịch chuyển đáng kể theo hướng tích cực. Đóng góp của TFP có xu hướng gia tăng rõ rệt, trong khi đóng góp của các yếu tố đầu vào truyền thống là vốn và lao động có xu hướng giảm, điều này phản ánh sự thay đổi trong mô hình tăng trưởng của ngành. Giai đoạn 2011 – 2015, yếu tố vốn đóng góp 42,4% vào tăng trưởng ngành, cao nhất trong ba thành phần, lao động đóng góp 27,86%, trong khi TFP chỉ đóng góp 29,74% cho thấy, tăng trưởng của ngành giai đoạn này còn mang tính chiều rộng, phụ thuộc tương đối lớn vào tích lũy vốn và lao động, trong khi hiệu quả sử dụng các yếu tố sản xuất và đổi mới công nghệ chưa thực sự trở thành động lực chính. Giai đoạn 2016 – 2020, đóng góp của TFP giảm xuống còn 22,14%, càng khẳng định tăng trưởng của ngành vẫn chưa thực sự dựa trên cải thiện hiệu quả và đổi mới công nghệ; mô hình tăng trưởng vẫn dựa trên việc mở rộng sản xuất.
Giai đoạn 2021 – 2024, cơ cấu đóng góp đã có sự chuyển biến tích cực khi TFP trở thành yếu tố đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng của ngành, chiếm 46,28%, vượt cả vốn (36,15%) và lao động (17,57%). Sự gia tăng mạnh mẽ của TFP cho thấy sự cải thiện đáng kể về chất lượng tăng trưởng của ngành. Tuy nhiên, mức đóng góp của TFP vẫn chưa ổn định qua các giai đoạn. Do đó, để duy trì tăng trưởng dài hạn và nâng cao TFP một cách bền vững, cần tiếp tục thúc đẩy đổi mới công nghệ và nâng cao chất lượng nguồn lực.
3.4. Năng lực cạnh tranh của ngành
Năng lực cạnh tranh của ngành chế biến, chế tạo trong giai đoạn vừa qua đã thay đổi. Chỉ số hiệu suất cạnh tranh công nghiệp của Việt Nam tăng từ 0,09 điểm năm 2015 lên 0,11 điểm năm 2019 và hầu như không tăng từ năm 2019 đến nay. Tuy nhiên, thứ hạng của Việt Nam lại tăng từ vị trí thứ 38 năm 2015 lên vị trí thứ 30 năm 2023 trong số 153 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Đây là chỉ số tổng hợp dùng để đo lường năng lực cạnh tranh của một ngành công nghiệp, dựa trên các đặc trưng về năng suất, chi phí, đổi mới, chất lượng hạ tầng và mức độ hội nhập vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Về năng lực sản xuất, Việt Nam hiện đứng thứ 65 thế giới, với chỉ số MVA đạt 0,03 năm 2023 và không có nhiều thay đổi qua các năm. Mức đóng góp trung bình của ngành sản xuất vào thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam đạt khoảng gần 1000 USD, ở mức trung bình của thế giới. Tác động của Việt Nam đến giá trị gia tăng trong sản xuất toàn cầu hiện đứng thứ 24 thế giới, với chỉ số từ 0 năm 2017 lên 0,01 giai đoạn 2019-2023, cho thấy Việt Nam đã có sự chuyển dịch và tác động đến chuỗi giá trị toàn cầu. Như vậy, năng lực công nghiệp và khả năng thâm nhập của Việt Nam vào thị trường quốc tế đã có sự thay đổi tích cực; tuy nhiên, vẫn cần tiếp tục được cải thiện trong thời gian tới.
Bảng 4. Các chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành chế biến, chế tạo
| Năm | 2015 | 2017 | 2019 | 2021 | 2023 | |
| CIP | Điểm | 0,09 | 0,10 | 0,11 | 0,11 | 0,11 |
| Xếp hạng | 38 | 34 | 32 | 31 | 30 | |
| MVA | Điẻm | 0,02 | 0,03 | 0,03 | 0,02 | 0,03 |
| Chỉ số cường độ công nghiệpH | Điểm | 0,54 | 0,6 | 0,6 | 0,53 | 0,57 |
| Chỉ số chất lượng xuất khẩu | Điẻm | 0,68 | 0,75 | 0,76 | 0,79 | 0,81 |
| Tác động của quốc gia đến MVA toàn cầu | Điểm | 0,0 | 0,0 | 0,0 | 0,01 | 0,01 |
| Tác động của quốc gia đối với thương mại hàng hóa sản xuất toàn cầu | Điểm | 0,01 | 0,01 | 0,01 | 0,02 | 0,02 |
4. Kết luận
Trong giai đoạn vừa qua cho thấy, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đóng vai trò quan trọng đối với sự tăng trưởng của nền kinh tế, khi góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển nền kinh tế, tăng trưởng kinh tế của ngành luôn dẫn đầu với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 8,46% năm, đóng góp 24% GDP của toàn nền kinh tế, tạo thêm nhiều việc làm cho xã hội, tạo ra việc làm cho hơn 12 triệu lao động tương đương 23,6 % tổng số lao động toàn nền kinh tế, nâng cao thứ hạng năng lực cạnh tranh của quốc gia, đưa Việt Nam từ nhóm các quốc gia có năng lực cạnh tranh thấp (xếp thứ 97 vào năm 1990) sang nhóm 30 quốc gia có năng lực cạnh tranh cao và được xếp vào nhóm các nền kinh tế đang phát triển. Tuy nhiên, chất lượng tăng trưởng của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong giai đoạn vừa qua vẫn còn nhiều hạn chế, hầu hết các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tăng trưởng cho thấy sự thay đổi về chất lượng trong tăng trưởng của ngành diễn ra rất chậm, hiệu quả sử dụng vốn của ngành không ổn định, năng suất lao động rất thấp, mức độ chuyển dịch cơ cấu ngành diễn ra chậm, năng lực cạnh tranh không có sự thay đổi qua các năm, đóng góp của TFP vào tăng trưởng ngành đã có sự gia tăng Tuy nhiên, mức đóng góp của TFP vẫn chưa ổn định giữa các giai đoạn.
Tài liệu tham khảo:
1. Mlachila, M., Tapsoba, R., & Tapsoba, S. J. (2017). A Quality of Growth Index for Developing Countries: A Proposal. Social Indicators Research, 134(2), 675-710.
2. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2014). Giáo trình Kinh tế phát triển. H. NXB Lý luận chính trị.
3. Huntington, S. P. (1991). The third wave (Vol. 199, No. 1). Norman: University of Oklahoma Press.
4. Porter, M. E. (1982). Competitive strategy. RAE-Revista de Administração de Empresas, 22(2), 44-46.
5. Paul M. Romer, (1986). Increasing Returns and Long Run Growth. Journal of Political Economy, 94, 1986.
6. Robert E. Lucas, Jr. (1988). On the Mechanics of Economic Development. Journal of Monetary Economics, 3-12.
7. Telfer, D. (2012). The Brundtland Report (Our Common Future) and tourism. In The Routledge Handbook of Tourism and the Environment (pp. 213-226). Routledge.
8. Thomas, V., Dailimi, M., Dhareshwar, A., Kaufmann, D., Kishor, N., Lopez, R., & Wang, Y. (2000). The Quality of Growth. The World Bank.
9. Stiglitz, J., & Hoff, K. (2001), “Modern economic theory and development”, Frontiers of development economics: The future in perspective, 389-459.
10. Trần Thọ Đạt (2006). Tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam. H. NXB Đại học Kinh tế Quốc dân.
11. Trương Văn Cảnh (2025). Thực trạng chất lượng tăng trưởng kinh tế ở thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2010 – 2023: Một góc nhìn đa chiều. HNUE JOURNAL OF SCIENCE Social Sciences 2025, Volume 70, Issue 1, tr. 116-127



