Implementation of the Law on Legal Aid in Thai Nguyen province
Nguyễn Thanh Phương
Trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên
(Quanlynhanuoc.vn) – Trợ giúp pháp lý là chính sách xã hội quan trọng của Nhà nước nhằm bảo đảm quyền tiếp cận công lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các nhóm yếu thế. Trên cơ sở phân tích thực trạng thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý tại tỉnh Thái Nguyên sau sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, bài viết đánh giá những kết quả đạt được, chỉ ra những hạn chế về tổ chức thực hiện và các điều kiện bảo đảm. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và chuyển đổi số trong giai đoạn hiện nay.
Từ khóa: Trợ giúp pháp lý; thực hiện pháp luật; quyền tiếp cận công lý; nhóm yếu thế; tỉnh Thái Nguyên.
Abstract: Legal aid is an important social policy of the State aimed at ensuring access to justice and protecting the lawful rights and interests of vulnerable groups. Based on an analysis of the current implementation of the Law on Legal Aid in Thai Nguyen province following the merger of provincial-level administrative units, this article evaluates the achievements attained, identifies limitations in implementation and the conditions required to ensure effective enforcement. On that basis, it proposes several solutions to improve the effectiveness of the implementation of the Law on Legal Aid, thereby meeting the requirements of judicial reform and digital transformation in the current context.
Keywords: Legal aid; implementation of the law; access to justice; vulnerable groups; Thai Nguyen province.
1. Đặt vấn đề
Trợ giúp pháp lý là một chính sách xã hội có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân và thực hiện nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật. Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hoạt động trợ giúp pháp lý không chỉ góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các nhóm yếu thế mà còn tạo điều kiện để mọi công dân được tiếp cận công lý một cách công bằng, không bị hạn chế bởi điều kiện kinh tế hoặc hoàn cảnh xã hội.
Sau hơn hai thập niên hình thành và phát triển, đặc biệt kể từ khi Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 được ban hành, hoạt động trợ giúp pháp lý ở nước ta từng bước được chuyên nghiệp hóa, mở rộng phạm vi tiếp cận và nâng cao chất lượng dịch vụ. Tuy nhiên, hiệu quả thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý tại các địa phương vẫn chịu tác động của nhiều yếu tố, như: điều kiện kinh tế – xã hội, đặc điểm dân cư, nguồn nhân lực, cơ sở vật chất và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức có liên quan.
Từ ngày 01/7/2025, tỉnh Thái Nguyên được thành lập trên cơ sở sáp nhập toàn bộ tỉnh Thái Nguyên và tỉnh Bắc Kạn theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025 của Quốc hội về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh. Sau sáp nhập, quy mô dân số, địa bàn quản lý và số lượng đối tượng thuộc diện được trợ giúp pháp lý tăng đáng kể, kéo theo sự gia tăng về nhu cầu tiếp cận các dịch vụ pháp lý miễn phí. Bên cạnh đó, đặc điểm địa bàn rộng, điều kiện giao thông còn nhiều khó khăn, tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số cao; đồng thời có sự chênh lệch về việc tiếp cận thông tin pháp luật giữa các khu vực đặt ra những yêu cầu mới đối với công tác tổ chức thực hiện về công tác trợ giúp pháp lý.
Trên cơ sở phân tích thực trạng, bài viết đánh giá những kết quả đạt được và đưa ra một số hạn chế cần khắc phục, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới.
2. Một số vấn đề lý luận
2.1. Khái quát về trợ giúp pháp lý
Trợ giúp pháp lý là việc Nhà nước và xã hội cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho các đối tượng thuộc diện được trợ giúp pháp lý, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ; đồng thời, bảo đảm quyền tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật. Theo khoản 1 Điều 2 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017: “Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý trong vụ việc trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật này, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật”1.
Với bản chất là một chính sách xã hội mang tính nhân văn sâu sắc, trợ giúp pháp lý không chỉ hỗ trợ các nhóm yếu thế giải quyết các vấn đề pháp lý phát sinh trong cuộc sống mà còn góp phần nâng cao nhận thức pháp luật, tăng cường niềm tin của người dân đối với các cơ quan nhà nước và hệ thống tư pháp.
2.2. Nội dung pháp luật về trợ giúp pháp lý
Thứ nhất, quy định về đối tượng được trợ giúp pháp lý. Đây là nội dung thể hiện rõ chính sách an sinh xã hội và trách nhiệm của Nhà nước trong bảo vệ các nhóm yếu thế. Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định nhiều nhóm đối tượng được hưởng dịch vụ pháp lý miễn phí, như: người có công với cách mạng, người thuộc hộ nghèo, trẻ em, người dân tộc thiểu số cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn và các đối tượng khác theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, quy định về tổ chức và người thực hiện trợ giúp pháp lý. Hoạt động trợ giúp pháp lý được thực hiện chủ yếu thông qua hệ thống Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tại các địa phương cùng đội ngũ trợ giúp viên pháp lý, luật sư và các cá nhân tham gia trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật.
Thứ ba, quy định về phạm vi, lĩnh vực và hình thức trợ giúp pháp lý. Các dịch vụ trợ giúp pháp lý được thực hiện trong nhiều lĩnh vực khác, như: hình sự, dân sự, hành chính, hôn nhân và gia đình, lao động, chính sách xã hội…, thông qua các hình thức tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng và đại diện ngoài tố tụng.
Thứ tư, quy định về các điều kiện bảo đảm thực hiện trợ giúp pháp lý. Nội dung này bao gồm nguồn nhân lực, cơ sở vật chất, kinh phí, cơ chế quản lý nhà nước và trách nhiệm phối hợp của các cơ quan, tổ chức có liên quan nhằm bảo đảm hoạt động trợ giúp pháp lý được triển khai hiệu quả trên thực tế.
2.3. Nhu cầu trợ giúp pháp lý tại tỉnh Thái Nguyên
Việc mở rộng quy mô địa bàn quản lý cùng với sự gia tăng dân số và đối tượng thuộc diện được trợ giúp pháp lý đã làm cho nhu cầu tiếp cận các dịch vụ pháp lý miễn phí trên địa bàn tỉnh tăng lên đáng kể. Một trong những nhu cầu phổ biến hiện nay là nhu cầu tiếp cận thông tin pháp luật và được hướng dẫn thực hiện các quyền, nghĩa vụ pháp lý cơ bản. Tại nhiều địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa thuộc Bắc Kạn (cũ) và một số huyện của Thái Nguyên (cũ), như: Võ Nhai, Định Hóa, Phú Lương, khả năng tiếp cận thông tin pháp luật của người dân còn hạn chế, đặc biệt trong các lĩnh vực đất đai, hộ tịch, chính sách xã hội, bảo hiểm và thủ tục hành chính.
Sau sáp nhập, tỉnh Thái Nguyên có quy mô dân số khoảng 1,8 triệu người với cơ cấu dân cư gồm nhiều dân tộc, như: Tày, Nùng, Dao, H’Mông và các dân tộc khác. Sự đa dạng về dân tộc, ngôn ngữ và phong tục tập quán đòi hỏi hoạt động trợ giúp pháp lý phải được tổ chức theo hướng phù hợp với đặc điểm văn hóa và điều kiện sinh sống của từng nhóm dân cư. Đồng thời, địa bàn rộng, nhiều khu vực cách xa trung tâm hành chính của tỉnh và điều kiện giao thông còn khó khăn làm gia tăng nhu cầu đối với các hình thức trợ giúp pháp lý lưu động, tư vấn từ xa và hỗ trợ pháp lý tại cơ sở. Đặc biệt, sự phát triển của các khu công nghiệp lớn, như: khu công nghiệp Yên Bình, Điềm Thụy và Sông Công đã thu hút số lượng lớn lao động từ nhiều địa phương đến làm việc, kéo theo sự phát sinh các vấn đề pháp lý liên quan đến hợp đồng lao động, tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, tai nạn lao động và tranh chấp lao động. Trong khi đó, khả năng tiếp cận các dịch vụ pháp lý của một bộ phận người lao động còn hạn chế, do đó, nhu cầu được hỗ trợ pháp lý ngày càng gia tăng.
Ngoài ra, quá trình chuyển đổi số và phát triển kinh tế – xã hội cũng làm xuất hiện nhiều vấn đề pháp lý mới liên quan đến giao dịch điện tử, tín dụng tiêu dùng, lừa đảo trên không gian mạng, tranh chấp hợp đồng trực tuyến và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Đây là những lĩnh vực đòi hỏi hoạt động trợ giúp pháp lý phải được đổi mới cả về nội dung, phương thức tổ chức và năng lực chuyên môn của đội ngũ thực hiện trợ giúp pháp lý.
3. Thực trạng thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý tại tỉnh Thái Nguyên
3.1. Thực trạng đối tượng và nhu cầu trợ giúp pháp lý
Trước thời điểm sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, Thái Nguyên và Bắc Kạn có sự khác biệt đáng kể về điều kiện kinh tế – xã hội cũng như quy mô các nhóm đối tượng thuộc diện được trợ giúp pháp lý. Năm 2024, tỉnh Thái Nguyên có 6.938 hộ nghèo, chiếm 2,04% tổng số hộ dân và 7.804 hộ cận nghèo, chiếm 2,3%. Trong khi đó, tại Bắc Kạn, số hộ nghèo và hộ cận nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số lên tới 23.801 hộ, chiếm 28,72%2.
Sau khi sáp nhập, toàn tỉnh Thái Nguyên có 18.568 hộ nghèo, chiếm 4,32% và 14.386 hộ cận nghèo, chiếm 3,35%3. Điều này cho thấy, quy mô đối tượng có nhu cầu trợ giúp pháp lý trên địa bàn tỉnh tiếp tục ở mức cao, tập trung chủ yếu tại khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa và vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đây là những địa bàn đòi hỏi công tác trợ giúp pháp lý phải được triển khai thường xuyên, chủ động và phù hợp với điều kiện thực tiễn.
Trong năm 2025, 100% cơ quan tiến hành tố tụng, trại tạm giam và nhà tạm giữ trên địa bàn tỉnh đã thực hiện nghiêm việc niêm yết Bảng thông tin về trợ giúp pháp lý tại trụ sở làm việc, tạo điều kiện để người dân tiếp cận đầy đủ thông tin về quyền được trợ giúp pháp lý. Đồng thời, trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ việc, vụ án, các cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện trách nhiệm giải thích về quyền được trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-TANDTC-VKSNDTC ngày 29/6/2018 quy định về phối hợp thực hiện trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng. Việc thực hiện đồng bộ các quy định này đã góp phần bảo đảm người thuộc diện được trợ giúp pháp lý được tiếp cận kịp thời với dịch vụ pháp lý miễn phí, nhất là trong các vụ án hình sự, vụ việc dân sự và hành chính, qua đó nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền con người, quyền công dân và bảo đảm quyền tiếp cận công lý theo quy định của pháp luật.
Đồng thời, việc gia tăng tỷ lệ hỗ trợ đối với người khuyết tật, trẻ em và người cao tuổi có hoàn cảnh khó khăn thể hiện sự quan tâm của các cơ quan chức năng đối với các nhóm dễ bị tổn thương trong xã hội. Song khả năng tiếp cận dịch vụ trợ giúp pháp lý của một bộ phận người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn hạn chế. Mặt khác, khoảng cách địa lý, điều kiện giao thông khó khăn, nhận thức pháp luật chưa đồng đều và việc thiếu các hình thức hỗ trợ thường xuyên tại cơ sở tiếp tục là những rào cản ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện chính sách trợ giúp pháp lý trên địa bàn tỉnh. Vì vậy, nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý, nhất là đối với các nhóm yếu thế và người dân ở vùng sâu, vùng xa, cần được xác định là nhiệm vụ trọng tâm của công tác quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý trong giai đoạn hiện nay.
3.2. Công tác tổ chức thực hiện
Công tác tổ chức thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý tại tỉnh Thái Nguyên đã từng bước đi vào nền nếp và đạt được nhiều kết quả tích cực. Trên cơ sở Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và các văn bản hướng dẫn thi hành, UBND tỉnh đã ban hành nhiều kế hoạch, chương trình triển khai công tác trợ giúp pháp lý, đồng thời phân công rõ trách nhiệm cho các cơ quan, đơn vị có liên quan.
Hoạt động trợ giúp pháp lý được tổ chức thống nhất thông qua Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Thái Nguyên và mạng lưới luật sư, cộng tác viên trợ giúp pháp lý. Bên cạnh việc thực hiện các hình thức trợ giúp pháp lý theo quy định, Trung tâm còn tăng cường phối hợp với các cơ quan tiến hành tố tụng, các tổ chức chính trị – xã hội và chính quyền địa phương nhằm mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ pháp lý cho người dân.
Bảng: Số lượng vụ việc trợ giúp pháp lý tại tỉnh Thái Nguyên từ năm 2018 – 2025
| Năm | Tổng số vụ việc | Tư vấn pháp luật | Tham gia tố tụng | Đại diện ngoài tố tụng |
| 2018 | 918 | 631 | 259 | 28 |
| 2019 | 987 | 668 | 283 | 36 |
| 2020 | 1.034 | 692 | 305 | 37 |
| 2021 | 1.079 | 718 | 325 | 36 |
| 2022 | 1.123 | 736 | 346 | 41 |
| 2023 | 1.162 | 757 | 359 | 46 |
| 2024 | 1.197 | 781 | 365 | 51 |
| 2025 | 653 | 428 | 197 | 28 |
Kết quả số liệu bảng trên cho thấy, việc thực hiện trợ giúp pháp lý giai đoạn 2018 – 2025, số lượng vụ việc có xu hướng tăng lên qua các năm. Từ 918 vụ việc năm 2018, tăng lên 1.197 vụ việc năm 2024. Riêng năm 2025, tính đến hết tháng 10, toàn tỉnh đã thụ lý 653 vụ việc mới. Xu hướng gia tăng này phản ánh nhu cầu tiếp cận dịch vụ pháp lý của người dân ngày càng cao, đồng thời cho thấy, phạm vi hoạt động của hệ thống trợ giúp pháp lý tiếp tục được mở rộng. Đây cũng là kết quả của việc tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật và nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị trong quá trình thực hiện trợ giúp pháp lý. Bên cạnh đó, việc tư vấn pháp luật luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng số vụ việc trợ giúp pháp lý, điều này cho thấy, hoạt động trợ giúp pháp lý đã tập trung chủ yếu vào việc hỗ trợ người dân giải quyết các vướng mắc pháp lý ngay từ giai đoạn đầu, từ đó, hạn chế nguy cơ phát sinh tranh chấp hoặc khiếu kiện kéo dài. Đặc biệt, số vụ việc tham gia tố tụng có xu hướng tăng qua các năm, phản ánh vai trò ngày càng rõ nét của trợ giúp pháp lý trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp, nhất là trong các vụ án hình sự.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc phối hợp giữa Trung tâm Trợ giúp pháp lý với chính quyền cơ sở và các cơ quan tiến hành tố tụng tại một số địa bàn chưa thực sự đồng bộ. Mạng lưới cộng tác viên ở cơ sở còn mỏng; nguồn nhân lực chuyên trách chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu, nhiệm vụ trong bối cảnh quy mô địa bàn và số lượng đối tượng cần trợ giúp pháp lý ngày càng gia tăng.
3.3. Điều kiện bảo đảm thực hiện
Các điều kiện bảo đảm thực hiện trợ giúp pháp lý có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng và hiệu quả cung cấp dịch vụ pháp lý cho người dân. Thời gian qua, tỉnh đã quan tâm đầu tư, kiện toàn tổ chức bộ máy, phát triển nguồn nhân lực và tăng cường các điều kiện về cơ sở vật chất, kinh phí nhằm bảo đảm hoạt động trợ giúp pháp lý được triển khai theo đúng quy định của pháp luật, cụ thể:
(1) Về nguồn nhân lực thực hiện.
Hiện nay, Trung tâm Trợ giúp pháp lý tỉnh Thái Nguyên là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Tư pháp, có chức năng tổ chức thực hiện các hình thức trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật.
Theo số liệu năm 2025, Trung tâm có 23 viên chức và người lao động, trong đó có 6 người có trình độ thạc sĩ và 17 người có trình độ đại học. Đơn vị hiện có 11 trợ giúp viên pháp lý và 15 luật sư ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý4.
Nhìn chung, đội ngũ thực hiện trợ giúp pháp lý của tỉnh cơ bản đáp ứng yêu cầu triển khai nhiệm vụ theo quy định. Tuy nhiên, xét trong tương quan với quy mô địa bàn, số lượng đối tượng thụ hưởng và khối lượng công việc ngày càng gia tăng sau sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, nguồn nhân lực hiện có vẫn còn hạn chế. Lực lượng trợ giúp viên pháp lý chuyên trách chỉ chiếm khoảng 47,8% tổng số người trực tiếp tham gia thực hiện trợ giúp pháp lý5. Trong khi đó, số lượng vụ việc trợ giúp pháp lý có xu hướng gia tăng, tạo áp lực ngày càng lớn đối với đội ngũ trợ giúp viên pháp lý. Bên cạnh đó, phần lớn luật sư tham gia trợ giúp pháp lý theo hình thức ký hợp đồng thực hiện vụ việc, nên tính ổn định và khả năng gắn bó lâu dài với hoạt động này chưa cao. Đối với các địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa, điều kiện đi lại khó khăn và chi phí thực hiện vụ việc lớn cũng làm giảm khả năng huy động luật sư tham gia trợ giúp pháp lý thường xuyên, ảnh hưởng đến việc đáp ứng nhu cầu trợ giúp pháp lý của người dân.
Những yếu tố trên cho thấy, nguồn nhân lực trợ giúp pháp lý của tỉnh mới đáp ứng yêu cầu trước mắt, chưa thực sự tương xứng với yêu cầu nâng cao chất lượng dịch vụ trợ giúp pháp lý trong bối cảnh cải cách tư pháp và chuyển đổi số hiện nay.
(2) Về cơ sở vật chất và hạ tầng kỹ thuật.
Cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ hoạt động trợ giúp pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh từng bước được quan tâm đầu tư, cơ bản đáp ứng yêu cầu tiếp nhận, giải quyết vụ việc và lưu trữ hồ sơ theo quy định. Hệ thống phòng làm việc, phòng tiếp công dân, kho lưu trữ hồ sơ cùng các trang thiết bị phục vụ chuyên môn được bố trí tương đối đầy đủ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức các hoạt động tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng và thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn khác.
Bên cạnh đó, việc trang bị phương tiện làm việc, thiết bị công nghệ thông tin và kết nối internet đã góp phần nâng cao hiệu quả trao đổi thông tin, quản lý hồ sơ, thống kê, báo cáo và tổ chức thực hiện các hoạt động trợ giúp pháp lý. Điều này không chỉ tạo thuận lợi cho đội ngũ trợ giúp viên pháp lý trong quá trình thực hiện nhiệm vụ mà còn góp phần nâng cao chất lượng phục vụ người dân, rút ngắn thời gian xử lý vụ việc và tăng cường hiệu quả phối hợp giữa Trung tâm với các cơ quan, tổ chức có liên quan.
Mặc dù vậy, trước yêu cầu cải cách tư pháp, xây dựng chính quyền số và chuyển đổi số trong hoạt động của ngành Tư pháp, cơ sở vật chất và hạ tầng kỹ thuật vẫn cần tiếp tục được đầu tư, nâng cấp. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hồ sơ, số hóa dữ liệu, cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý trên môi trường số và kết nối, chia sẻ thông tin với các cơ quan có liên quan cần được đẩy mạnh hơn nữa nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ trợ giúp pháp lý của người dân, đặc biệt tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa.
(3) Về kinh phí thực hiện trợ giúp pháp lý.
Nguồn kinh phí cho hoạt động trợ giúp pháp lý trên địa bàn tỉnh hiện nay chủ yếu được bảo đảm từ ngân sách nhà nước thông qua dự toán hằng năm của Sở Tư pháp. Kinh phí được sử dụng cho các hoạt động chuyên môn như thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý, trợ giúp pháp lý lưu động, tuyên truyền, phổ biến pháp luật và bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ thực hiện trợ giúp pháp lý. Hiện nay, nguồn kinh phí cơ bản đáp ứng yêu cầu duy trì hoạt động thường xuyên, song vẫn chưa đáp ứng nhu cầu thực tiễn. Đặc biệt, việc triển khai các hoạt động trợ giúp pháp lý tại địa bàn vùng sâu, vùng xa; đào tạo chuyên sâu cho đội ngũ trợ giúp viên pháp lý; đầu tư cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ thông tin phục vụ chuyển đổi số…
Bên cạnh đó, việc huy động các nguồn lực xã hội tham gia hỗ trợ hoạt động trợ giúp pháp lý chưa thực sự hiệu quả. Do đó, phần nào ảnh hưởng đến khả năng mở rộng phạm vi hoạt động và nâng cao chất lượng dịch vụ trợ giúp pháp lý trên địa bàn tỉnh.
Từ những phân tích trên có thể thấy, mặc dù các điều kiện bảo đảm thực hiện trợ giúp pháp lý tại tỉnh Thái Nguyên đã từng bước được quan tâm đầu tư, song vẫn còn những hạn chế nhất định về nguồn nhân lực, cơ sở vật chất và kinh phí. Đây là những vấn đề cần tiếp tục được quan tâm giải quyết nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý trong thời gian tới.
4. Một số giải pháp
Một là, hoàn thiện cơ chế, chính sách và nâng cao hiệu quả phối hợp trong thực hiện trợ giúp pháp lý.
Trong bối cảnh quy mô địa bàn và số lượng đối tượng được trợ giúp pháp lý tăng lên sau sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, việc hoàn thiện cơ chế, chính sách và nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức có liên quan là yêu cầu cấp thiết.
Một là, cần tiếp tục rà soát, kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật về trợ giúp pháp lý theo hướng mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ pháp lý cho các nhóm yếu thế, đặc biệt là người dân sinh sống tại vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn. Đồng thời, cần cụ thể hóa trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương trong việc phát hiện, giới thiệu và bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của người thuộc diện thụ hưởng. Bên cạnh đó, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước với các cơ quan tiến hành tố tụng, tổ chức chính trị – xã hội và chính quyền cơ sở nhằm bảo đảm người thuộc diện được trợ giúp pháp lý được tiếp cận dịch vụ kịp thời và đầy đủ theo quy định của pháp luật.
Hai là, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thực hiện trợ giúp pháp lý.
Nguồn nhân lực là yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động trợ giúp pháp lý. Vì vậy, tỉnh Thái Nguyên cần quan tâm củng cố và phát triển đội ngũ trợ giúp viên pháp lý theo hướng chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Theo đó, xây dựng kế hoạch phát triển nguồn nhân lực trợ giúp pháp lý phù hợp với quy mô địa bàn và nhu cầu thực tiễn sau sáp nhập. Đồng thời, chú trọng tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ trợ giúp viên pháp lý có trình độ chuyên môn cao, có kỹ năng tranh tụng và khả năng làm việc với các nhóm đối tượng đặc thù.
Bên cạnh đó, tăng cường đào tạo các kỹ năng thực hành nghề nghiệp, như: kỹ năng tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật, giải quyết tranh chấp, hỗ trợ pháp lý cho người yếu thế và kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động chuyên môn. Đồng thời, cần có chính sách phù hợp nhằm thu hút và duy trì đội ngũ luật sư tham gia trợ giúp pháp lý, nhất là tại các địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa.
Ba là, đổi mới công tác truyền thông và nâng cao khả năng tiếp cận trợ giúp pháp lý của người dân.
Một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý là nhận thức pháp luật của một bộ phận người dân còn hạn chế. Do đó, cần tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức truyền thông về trợ giúp pháp lý theo hướng phù hợp với đặc điểm dân cư và điều kiện thực tế của địa phương.
Đối với khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, cần xây dựng các sản phẩm truyền thông ngắn gọn, dễ hiểu, phù hợp với trình độ tiếp nhận của người dân; đồng thời, tăng cường sử dụng các hình thức tuyên truyền trực quan thông qua hệ thống truyền thanh cơ sở, các buổi sinh hoạt cộng đồng, hoạt động trợ giúp pháp lý lưu động và các tổ chức đoàn thể ở cơ sở.
Bên cạnh đó, tiếp tục phát huy vai trò của già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng trong việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật và hỗ trợ người dân tiếp cận các dịch vụ trợ giúp pháp lý. Đây là giải pháp phù hợp với đặc điểm văn hóa – xã hội của tỉnh Thái Nguyên, góp phần nâng cao hiệu quả truyền thông pháp luật tại cơ sở.
Bốn là, đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động trợ giúp pháp lý.
Chuyển đổi số là xu hướng tất yếu nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và chất lượng cung cấp dịch vụ công. Đối với lĩnh vực trợ giúp pháp lý, việc ứng dụng công nghệ thông tin có ý nghĩa quan trọng trong mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ pháp lý cho người dân và nâng cao hiệu quả quản lý. Theo đó, tỉnh cần đẩy mạnh số hóa hồ sơ trợ giúp pháp lý, xây dựng cơ sở dữ liệu điện tử phục vụ công tác quản lý, thống kê và khai thác thông tin. Tiếp tục từng bước triển khai các nền tảng tư vấn pháp luật trực tuyến, tiếp nhận yêu cầu trợ giúp pháp lý qua môi trường số và tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu với các cơ quan có liên quan.
Bên cạnh đó, cần đầu tư nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, trang thiết bị kỹ thuật và đào tạo kỹ năng số cho đội ngũ thực hiện trợ giúp pháp lý, nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số trong ngành Tư pháp và xây dựng nền hành chính hiện đại.
5. Kết luận
Trợ giúp pháp lý là một chính sách xã hội quan trọng, góp phần bảo đảm quyền tiếp cận công lý, thực hiện quyền con người, quyền công dân và thúc đẩy công bằng xã hội. Trong những năm qua, việc thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý tại tỉnh Thái Nguyên đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Hệ thống tổ chức trợ giúp pháp lý từng bước được củng cố; số lượng vụ việc trợ giúp pháp lý có xu hướng gia tăng; phạm vi tiếp cận dịch vụ pháp lý ngày càng được mở rộng, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các nhóm yếu thế trên địa bàn tỉnh.
Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển của tỉnh sau sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, hoạt động trợ giúp pháp lý vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức như nguồn nhân lực còn hạn chế, điều kiện cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ thông tin chưa đáp ứng yêu cầu, khả năng tiếp cận dịch vụ trợ giúp pháp lý của người dân còn gặp nhiều trở ngại. Chính vì vậy, để nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý trong thời gian tới, cần triển khai đồng bộ các giải pháp về hoàn thiện cơ chế, chính sách; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; đổi mới công tác truyền thông pháp luật; đẩy mạnh chuyển đổi số và tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức có liên quan. Việc thực hiện hiệu quả các giải pháp này không chỉ góp phần bảo đảm quyền tiếp cận công lý cho người dân mà còn nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Chú thích:
1. Quốc hội (2017). Điều 5, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017.
2. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2024). Quyết định công bố kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2024 theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 – 2025.
3. Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2025). Quyết định công bố kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2025 theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 – 2025.
4, 5. Thái Nguyên nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý năm 2025: Đổi mới, bền vững và hướng tới người dân. https://baophapluat.vn/thai-nguyen-nang-cao-hieu-qua-tro-giup-phap-ly-nam-2025-doi-moi-ben-vung-va-huong-toi-nguoi-dan.html
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Tư pháp (2017). Nghị định số 144/2017/NĐ-CP ngày 15/12/2017 quy định chi tiết một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý.
2. Quốc hội (2014). Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
3. Quốc hội (2015). Bộ luật Hình sự năm 2015.
4. Quốc hội (2017). Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017.
5. Quốc hội (2022). Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022.
6. Quốc hội (2024). Luật An toàn giao thông năm 2024.
7. Quốc hội (2024). Luật Đất đai năm 2024.
8. Thái Nguyên: Công tác trợ giúp pháp lý năm 2025 đạt được một số kết quả đáng ghi nhận. https://pbgdpl.gov.vn/Pages/chi-tiet-tin.
9. Thái Nguyên nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý năm 2025: Đổi mới, bền vững và hướng tới người dân. https://baophapluat.vn/thai-nguyen-nang-cao-hieu-qua-tro-giup-phap-ly-nam-2025-doi-moi-ben-vung-va-huong-toi-nguoi-dan.html
10. Tăng cường trợ giúp pháp lý tại cơ sở. https://baothainguyen.vn/xa-hoi/202606/tang-cuong-tro-giup-phap-ly-tai-co-so-3bf3f41/
11. Triển khai công tác phối hợp về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng, năm 2025 trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. https://pbgdplthainguyen.gov.vn/news/hoat-dong-pbgdpl-cap-tinh/trien-khai-cong-tac-phoi-hop-ve-tro-giup-phap-ly-trong-hoat-dong-to-tung-nam-2025-tren-dia-ban-tinh-thai-nguyen-1160.html.



