Thích ứng xã hội của người dân tỉnh Bắc Ninh đối với chuyển đổi số quốc gia

Social adaptation to the national digital transformation among residents of Bac Ninh Province

PGS.TS. Đặng Thị Ánh Tuyết
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
TS. Nguyễn Hữu Hoàng
Học viện Chính trị khu vực II
ThS. Vũ Thị Hương
Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam
ThS. Hồ Nhân Linh
Học viện Chính trị khu vực I

(Quanlynhanuoc.vn) – Nhằm đánh giá thực trạng thích ứng xã hội đối với chuyển đổi số quốc gia, bài viết phân tích kết quả khảo sát định lượng trên mẫu 1.513 người dân tại 6 xã, phường của tỉnh Bắc Ninh qua 4 lĩnh vực kinh tế, chính trị – quản lý, văn hóa – xã hội, an sinh và y tế số, kết quả cho thấy, người dân có thái độ ủng hộ chuyển đổi số ở mức cao (69,6% – 81,2%) nhưng hành vi thích ứng thực tế còn phân hóa sâu sắc theo học vấn, tuổi tác và mức độ tham gia tổ chức chính trị – xã hội. Mô hình hồi quy logistic xác nhận học vấn (OR = 0,21) và tham gia tổ chức chính trị – xã hội (OR = 2,05) là hai nhân tố dự báo mạnh nhất cho việc sử dụng dịch vụ công trực tuyến. Nghiên cứu nhận diện ba dạng thiếu hụt: vốn số – cá nhân, xã hội và thể chế, đồng thời tồn tại, từ đó gợi mở các hàm ý chính sách có căn cứ thực nghiệm cho tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2027 – 2030.

Từ khóa: Thích ứng xã hội; chuyển đổi số; bất bình đẳng số; vốn số; tỉnh Bắc Ninh.

Abstract: This paper analyzes findings from a quantitative survey of 1,513 residents across six communes and wards in Bac Ninh province to assess social adaptation to national digital transformation. Across four domains – economic, political-administrative, social, and social, welfare and e-health show high attitudinal support for digitalization (69.6%-81.2%), while actual adaptive behavior remains sharply differentiated by education, age, and civic organization membership. A binary logistic regression model confirms education (OR = 0.21) and civic organization membership (OR = 2.05) as the strongest predictors of e-government service use. The study identifies three co-existing forms of digital capital deficit – individual, social, and institutional – and derives evidence-based policy implications for Bac Ninh in the 2027-2030 period.

Keywords: Social adaptation; digital transformation; digital inequality; digital capital; Bac Ninh province.

1. Đặt vấn đề

Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và quá trình chuyển đổi số đã trở thành quy luật, là hiện thực của xã hội, tác động trực tiếp, toàn diện đến mọi mặt của đời sống. Mọi thành phần, nhóm xã hội và tổ chức đều ít nhiều chịu tác động sâu sắc bởi bối cảnh này (Nguye, H. H., & Tran, H. V., 2022). Như quy luật, các chủ thể, nhóm xã hội khác nhau cần có sự điều chỉnh toàn diện về nhận thức, thái độ và hành vi trong kỷ nguyên số để từng bước hòa nhập số tốt hơn, xây dựng cuộc sống văn minh, nhân văn và hiện đại trong xã hội 4.0, xã hội 5.0 đang dần hình thành.

Từ việc khảo luận cách tiếp cận về thích ứng xã hội của các nhà tự nhiên học kinh điển, các nhà xã hội học cổ điển cho đến hiện đại, có thể khẳng định rằng, thuật ngữ thích ứng xã hội là một khái niệm học thuật phức tạp, có cách tiếp cận đa chiều và thể hiện ở nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Trong đề tài này, thích ứng xã hội của người dân đối với chuyển đổi số xã hội là quá trình xã hội trong đó người dân nỗ lực điều chỉnh, thay đổi nhận thức, thái độ, tâm lý và hành vi xã hội của mình ở các phương diện, lĩnh vực hoạt động chủ yếu của đời sống xã hội nhằm tái xã hội hóa, cân bằng, phù hợp hơn với giá trị, chuẩn mực và biến đổi xã hội trong kỷ nguyên số hóa. Từ đó, thích ứng xã hội của người dân tỉnh Bắc Ninh đối với quá trình chuyển đổi số được đo lường qua hai tiêu chí chính (các chiều chính): (1) Nhận thức và thái độ; (2) Khả năng tiếp cận, sử dụng của người dân đối với các công nghệ số, nền tảng số, ứng dụng số, tiện ích số trong ba lĩnh vực của đời sống xã hội gồm: lĩnh vực kinh tế, lĩnh vực chính trị – quản lý và lĩnh vực văn hóa, an sinh và xã hội.

Nghiên cứu về thích ứng xã hội của người dân tỉnh Bắc Ninh đối với chuyển đổi số quốc gia có ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt. Trước hết, Bắc Ninh là tỉnh công nghiệp đứng đầu cả nước về thu hút đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực điện tử – công nghệ cao, đồng thời, có tốc độ đô thị hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế thuộc diện nhanh nhất vùng đồng bằng sông Hồng. Bối cảnh đặc thù ấy đặt ra một câu hỏi kép: người dân đang sống, làm việc trong một tỉnh vừa sản xuất các sản phẩm công nghệ số cho toàn cầu, vừa phải tự thích ứng với chính những tác động xã hội của cuộc cách mạng số đó trong đời sống hằng ngày của mình.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ I nhiệm kỳ 2025 – 2030, Tỉnh uỷ Bắc Ninh đã sớm xây dựng, ban hành Chương trình hành động số 20-Ctr/TU ngày 25/3/2026 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi giai đoạn 2026 – 2030 với nhiều chỉ tiêu, nhiệm vụ trọng tâm góp phần thúc đẩy người dân, doanh nghiệp thúc đẩy thích ứng tốt hơn với chuyển đổi số. Trên cơ sở đó, Uỷ ban nhân dân tỉnh đã ban hành nhiều kế hoạch, chương trình hành động, chẳng hạn Kế hoạch số 128/KH-UBND ngày 21/4/2026 về thực hiện Chương trình số 20-CTr/TU; Quyết định số 1305/QĐ-UBND ngày 19/10/2025 về phê duyệt chiến lược chuyển đổi số tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2025 – 2030… góp phần thúc đẩy chuyển đổi số thực chất, với triết lý người dân là trung tâm, chủ thể thụ hưởng các thành quả đó. Trong kỷ nguyên phát triển mới đó, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 – 2030 của tỉnh Bắc Ninh đã nhấn mạnh: đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, đột phá trong lĩnh vực chuyển đổi số, phát triển chính quyền số, xã hội số, công dân số phục vụ nhiệm vụ chính trị, người dân và doanh nghiệp là 1 trong 5 bài học kinh nghiệm được đúc kết trong toàn nhiệm kỳ 2020 – 2025. Đồng thời, Nghị quyết cũng đã chỉ rõ 1 trong 4 nhiệm vụ chủ yếu đến năm 2030 là: “Xây dựng và phát triển văn hóa, xã hội, con người Bắc Ninh phát triển toàn diện, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống kết hợp ứng dụng công nghệ để trở thành “sức mạnh mềm” và là động lực, nguồn lực phát triển quan trọng trong giai đoạn mới”.

Thực tế cho thấy, từ khi Nghị quyết số 52-NQ/TU ngày 18/3/2022 của Tỉnh ủy Bắc Ninh (cũ) về chương trình chuyển đổi số được ban hành (Tỉnh ủy Bắc Ninh. 2022), và gần đây là Chương trình số 20-CTr/TU ngày 25/3/2026 của Tỉnh ủy Bắc Ninh (mới) về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số giai đoạn 2026 – 2030 (Tỉnh ủy Bắc Ninh. 2026), hàng loạt sáng kiến đã được triển khai: phủ sóng 4G/5G, số hóa dịch vụ công, phát triển Tổ Công nghệ số cộng đồng. Tuy nhiên, hiệu quả của các chính sách đó không thể chỉ đo bằng tỷ lệ phủ sóng hạ tầng hay số lượng dịch vụ trực tuyến được cung cấp. Câu hỏi then chốt hơn là người dân đang thực sự thích ứng như thế nào với chuyển đổi số, những nhóm nào đang bị bỏ lại phía sau, và những nhân tố nào chi phối sự phân hóa đó, nhất là trong giai đoạn vận hành chính quyền địa phương 2 cấp từ ngày 01/7/2025 đến nay. Bối cảnh đó cho thấy tầm quan trọng, ý nghĩa và sự cần thiết của chủ đề nghiên cứu này.

Bài viết sử dụng kết quả điều tra xã hội học bằng bảng hỏi bán cấu trúc, vói sự tham gia của 1.513 người dân từ 15 tuổi trở lên, đang sinh sống, làm việc tại 6 xã, phường đại diện cho tỉnh Bắc Ninh sau sáp nhập địa giới hành chính (phường Kinh Bắc, phường Mão Điền, xã Gia Bình, xã Tiên Du, phường Việt Yên và xã Lục Ngạn), thu thập tháng 11/2025. Mẫu được chọn theo phương pháp phi xác suất có chủ đích, kết hợp hạn ngạch để bảo đảm tính đa dạng theo khu vực cư trú, nhóm tuổi và nghề nghiệp. Bảng hỏi đo lường 5 nhóm nội dung: nhận thức – thái độ đối với công nghệ số; thích ứng trong lĩnh vực kinh tế; chính trị – quản lý; văn hóa – xã hội; và an sinh xã hội – y tế. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 29.0, sử dụng thống kê mô tả, kiểm định Chi bình phương, kiểm định t độc lập, phân tích phương sai một chiều (ANOVA) và hồi quy logistic nhị phân để xác định mức độ và chiều hướng ảnh hưởng của các nhân tố nhân khẩu học – xã hội đến thích ứng số.

2. Kết quả nghiên cứu

2.1. Nhận thức, thái độ và rào cản tiếp cận công nghệ số

Khảo sát yêu cầu người trả lời tự đánh giá mức độ hiểu biết về 14 loại công nghệ số trên thang điểm từ 0 đến 5. Kết quả cho thấy, một sự phân định có tính cấu trúc rõ ràng: nhóm công nghệ tiêu dùng, sinh hoạt, như điện thoại thông minh (M = 3,82), mạng xã hội (M = 3,77) và truyền hình kết nối internet (M = 3,67) đạt điểm cao, trong khi các nền tảng số do Nhà nước xây dựng phục vụ mục tiêu phát triển có điểm thấp hơn đáng kể: nền tảng học trực tuyến ONETOUCH (M = 2,81), hồ sơ sức khỏe điện tử (M = 2,87) và ứng dụng “Bình dân học vụ số” (M = 2,88) (xem Bảng 1). Kết quả này phản ánh nguyên lý “tính có thể thử nghiệm” và “tính quan sát được” trong khuếch tán đổi mới của Rogers, khi công nghệ mang lại lợi ích tức thì được hấp thụ nhanh hơn công nghệ đòi hỏi đầu tư học tập ban đầu cao mà lợi ích chỉ hiện ra khi có nhu cầu cụ thể (Rogers, E. M. 2003).

Bảng 1. Mức độ hiểu biết về một số công nghệ số (thang điểm 0 – 5)

Loại công nghệ sốGiá trị trung bình (M)Xếp hạng
Điện thoại thông minh kết nối internet3,821
Mạng xã hội (Facebook, Zalo, TikTok, YouTube)3,772
Truyền hình kết nối internet/wifi3,673
Máy vi tính3,574
Ứng dụng VNeID (định danh điện tử)3,535
Ứng dụng ChatGPT/Trí tuệ nhân tạo3,535
Ứng dụng mua sắm trực tuyến (Shopee, Lazada, Tiki)3,507
Ứng dụng VssID (Bảo hiểm xã hội)3,288
Cổng dịch vụ công quốc gia3,209
Dịch vụ gọi xe công nghệ (Grab, Xanh SM)3,1610
Ứng dụng “Phản ánh kiến nghị” Bắc Ninh2,8911
Ứng dụng “Bình dân học vụ số”2,8812
Hồ sơ sức khỏe điện tử (EHR)2,8713
Nền tảng học trực tuyến ONETOUCH2,8114
Nguồn: Số liệu điều tra của nhóm nghiên cứu, tháng 11/2025.

Ở chiều cạnh thái độ, bức tranh tích cực hơn nhiều so với hành vi sử dụng thực tế. Tỷ lệ ủng hộ ứng dụng công nghệ số vào các lĩnh vực đời sống dao động từ 69,6% (việc làm) đến 81,2% (quảng bá văn hóa). Khoảng trên 22 – 25% người dân “phân vân” về ứng dụng công nghệ số trong ba lĩnh vực việc làm, khởi nghiệp và góp ý chính sách.

Về rào cản chủ quan, ba khó khăn được đề cập nhiều nhất là không hiểu biết đầy đủ về chức năng công nghệ số (78,0%), thiếu tiền mua thiết bị (72,7%) và lo ngại bị lừa đảo trực tuyến (72,1%). Rào cản thông tin giả, xấu độc (74,4%) đứng liền kề, cho thấy môi trường số đang được cảm nhận là chưa đủ an toàn, và sự thiếu hụt niềm tin số là một rào cản độc lập với rào cản kỹ năng và kinh tế – phù hợp với khái niệm “niềm tin điện tử” của Gefen và cộng sự (Gefen, D., Karahanna, E., & Straub, D. W. 2003).

2.2. Thích ứng trong lĩnh vực kinh tế

Người dân Bắc Ninh đang ở giai đoạn “tiêu dùng số cao, sản xuất số thấp”. Mua sắm trực tuyến đạt tần suất sử dụng khá thường xuyên với 79,5% có hoạt động mua sắm online trong tuần; thanh toán không tiền mặt phổ biến với 81,5% có giao dịch qua thẻ hoặc mã QR hằng tuần (xem Bảng 2). Ngược lại, bán hàng trực tuyến chỉ đạt 44,0% và chỉ 17,9% người dân đang sáng lập hoặc điều hành dự án khởi nghiệp – phản ánh phần lớn người dân đang ở vị trí người tiêu dùng hơn là chủ thể sản xuất, kinh doanh số.

Bảng 2. Tần suất sử dụng một số dịch vụ kinh doanh số (n = 1.513)

Dịch vụ kinh doanh sốKhông (%)<5 lần/tuần (%)>5 lần/tuần (%)
Mua sắm trực tuyến (Shopee, Lazada, Facebook)20,561,118,4
Thanh toán qua thẻ/QR-code tại cửa hàng18,562,618,9
Thanh toán hóa đơn qua internet banking20,461,218,4
Nhận thông tin quảng cáo từ Internet10,257,332,5
Bán hàng trực tuyến56,032,211,8
Nguồn: Số liệu điều tra của nhóm nghiên cứu, tháng 11/2025.

Kiểm định chi bình phương cho thấy, tỷ lệ khởi nghiệp số khác biệt có ý nghĩa thống kê theo giới tính (nam 20,9% so với nữ 15,4%; χ² = 8,300; p = 0,016), học vấn (χ² = 42,833; p < 0,001) và mức độ tham gia tổ chức chính trị – xã hội (21,0% so với 14,3%; χ² = 11,647; p < 0,001). Về việc làm, 84,5% cho biết công việc của họ có sử dụng công nghệ số, song 48,3% làm công việc chân tay phổ thông – phân đoạn dễ tổn thương nhất trước tự động hóa, đặc biệt trong bối cảnh Bắc Ninh đang triển khai mạnh các dây chuyền sản xuất tự động hóa tại các nhà máy điện tử. Đây có thể là căn nguyên của tỷ lệ ủng hộ thấp nhất (69,6%) và tỷ lệ phân vân cao nhất (24,9%) đối với ứng dụng công nghệ số vào lĩnh vực việc làm trong toàn bộ nghiên cứu.

2.3. Thích ứng trong lĩnh vực chính trị – quản lý

Đây là lĩnh vực bộc lộ rõ nhất khoảng cách giữa đầu tư hạ tầng và hành vi sử dụng thực tế của người dân. Chỉ 24,3% người dân đã từng giải quyết thủ tục hành chính theo hình thức trực tuyến. Phân tích tương quan cho thấy sự phân hóa sâu sắc tỷ lệ sử dụng dịch vụ công trực tyến theo học vấn. Theo đó, tỷ lệ sử dụng ở nhóm sau đại học đạt 45,2%, trong khi nhóm trung học phổ thông chỉ 13,2% (χ² = 153,929; p < 0,001) – khoảng cách 3,4 lần. Đáng chú ý, phân tích phương sai một chiều theo nhóm tuổi (χ² = 125,279; p < 0,001) tiết lộ một nghịch lý: nhóm dưới 30 tuổi – “thế hệ số” theo Prensky – có tỷ lệ sử dụng thấp nhất (14,7%), trong khi nhóm 31 – 59 tuổi đạt cao nhất (40,7%) ( Prensky, M. 2001). Điều này cho thấy, khả năng kỹ thuật số và động lực thích ứng số là hai chiều cạnh khác nhau: nhóm trẻ có kỹ năng cao nhưng thiếu nhu cầu thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường số trong thực tế, còn nhóm trung niên có nhu cầu cao và đủ động lực vượt qua rào cản kỹ thuật số ban đầu.

Về tham gia chính sách trên không gian số, 72,9% người dân ủng hộ sử dụng công nghệ số để góp ý, phản biện chính sách, song tỷ lệ phân vân tham gia vẫn ở mức 22,6%. Kết quả này phản ánh một bộ phận người dân chưa chắc chắn về ranh giới giữa tham gia dân chủ hợp pháp và rủi ro trong không gian số. Về ứng xử trước thông tin xấu độc, 72,9% người dân đã từng tiếp xúc tin giả, xấu độc, song chỉ 33,4% đã đọc Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội và 31,2% thừa nhận không biết xử lý khi gặp tình huống tiêu cực. Phát hiện này cho thấy khoảng trống đáng kể về năng lực an toàn số.

2.4. Thích ứng trong lĩnh vực văn hóa

Văn hóa số là lĩnh vực có mức độ thích ứng tích cực và đồng đều nhất trong toàn bộ khảo sát. 86,0% người dân được khảo sát đã xem MV “Bắc Bling” quảng bá văn hóa địa phương, 84,5% đã lan tỏa nội dung văn hóa quê hương (like/share), 78,9% theo dõi các trang về văn hóa, lịch sử Bắc Ninh và 56,0% đã tự thiết kế video hoặc poster quảng bá văn hóa (xem Bảng 3). Những con số này vượt xa tỷ lệ sử dụng dịch vụ công trực tuyến (24,3%), cho thấy sự gắn kết với bản sắc văn hóa địa phương là động lực thích ứng số mạnh mẽ. Phát hiện này tương tự như hiện tượng mà Hjorth và Lim đã từng đề cập, nghĩa là công nghệ di động được sử dụng để tái khẳng định gắn kết với cộng đồng địa phương (Hjorth, L., & Lim, S. S. 2012). Facebook và Zalo là hai nền tảng dẫn đầu trong lan tỏa văn hóa (81,6% và 76,3%), tiếp theo là TikTok (64,8%).

Bảng 3. Mức độ tham gia bảo tồn và phát triển văn hóa số (N = 1.513)

Hoạt động văn hóa sốCó (%)Không (%)
Theo dõi trang mạng xã hội về văn hóa, lịch sử Bắc Ninh/Việt Nam78,921,1
Like/share nội dung quảng bá văn hóa quê hương84,515,5
Đã xem MV “Bắc Bling” (Bắc Ninh)86,014,0
Tham gia nhóm MXH văn hóa, lịch sử60,139,9
Tự thiết kế video/poster quảng bá văn hóa56,044,0
Thành lập nhóm MXH quảng bá văn hóa51,049,0
Livestream quảng bá văn hóa46,153,9
Nguồn: Số liệu điều tra của nhóm nghiên cứu, tháng 11/2025.

Ở lối sống hằng ngày, kết quả khảo sát cho thấy, người dân Bắc Ninh trải nghiệm một sự lai ghép giữa thực hành số và lối sống truyền thống trong không gian thực. Điểm số tần suất trung bình xem phim, đọc báo trên internet gần ngang bằng lao động, làm việc (M = 3,29 so với M = 3,32), trong khi uống trà, cà phê (M = 2,90) và đọc báo in (M = 2,60) vẫn được duy trì ở mức đáng kể. Phát hiện này cho thấy chuyển đổi số chưa triệt tiêu hoàn toàn các không gian sinh hoạt văn hóa phi số và lối sống của người dân trong không gian vật lý.

2.5. Thích ứng trong lĩnh vực xã hội, an sinh và y tế số

Đây là lĩnh vực có mức độ thích ứng thực hành thấp nhất trong bốn lĩnh vực được nghiên cứu. Điểm trung bình (M) sử dụng các ứng dụng y tế số trong 12 tháng qua dao động từ 2,21 đến 2,64 trên thang 1 – 5; sổ sức khỏe điện tử đạt điểm cao nhất (M = 2,64) nhưng vẫn có 22,2% chưa từng sử dụng; khám chữa bệnh từ xa (Telehealth) có 35,6% không bao giờ sử dụng, dù 79,4% người dân ủng hộ y tế trực tuyến. Khoảng cách giữa thái độ ủng hộ cao và hành vi sử dụng thấp cho thấy rào cản chủ yếu nằm ở kỹ năng và tiếp cận thực tế, không phải thiếu động lực.

Về an sinh xã hội số, các dịch vụ chuyên biệt như nhận lương hưu trực tuyến (43,8%) hay trợ cấp thất nghiệp trực tuyến (43,4%) có tỷ lệ thấp hơn đáng kể so với tỷ lệ nhận thu nhập qua phương tiện số nói chung (58,6%). Đáng chú ý, trong số người đã tiếp cận dịch vụ an sinh xã hội trực tuyến, mạng xã hội Facebook/Zalo (63,0%) được sử dụng phổ biến hơn cả Cổng dịch vụ công (61,9%) và website chính thức (52,4%). Kết quả này dẫn đến một hàm ý quan trọng cho thiết kế dịch vụ số: người dân có xu hướng tiếp cận dịch vụ công qua các nền tảng số quen thuộc hơn là chủ động tiếp cận cổng thông tin chính thức.

3. Thảo luận chủ yếu

3.1. Bất bình đẳng số, thiếu hụt vốn số

Tổng hợp dữ liệu từ các lĩnh vực trên cho thấy một hệ thống phân tầng số ba cấp trong thích ứng số tại Bắc Ninh, tương đồng với mô hình phân tầng số của Hargittai (Hargittai, E. (2002). và van Dijk (van Dijk, J. A. G. M. 2020): cấp độ “hiểu biết” đạt điểm khá cao (3,50 – 3,82/5 đối với công nghệ tiêu dùng phổ biến); cấp độ “sử dụng” thấp hơn nhiều (24,3% dùng dịch vụ công trực tuyến); và cấp độ “hưởng lợi có ý nghĩa” còn nhiều dư địa cải thiện. Khoảng cách lớn nhất tập trung ở chuyển dịch từ “biết” sang “dùng”. Phát hiện này hàm ý rằng đầu tư hiệu quả nhất hiện nay là giảm rào cản chuyển đổi hành vi hơn là tiếp tục mở rộng hạ tầng.

Để định lượng đóng góp tương đối của từng nhân tố, nghiên cứu xây dựng mô hình hồi quy logistic nhị phân với biến phụ thuộc là “có sử dụng dịch vụ công trực tuyến” (1 = có; 0 = không) và các biến độc lập là đặc trưng nhân khẩu học – xã hội (xem Bảng 4). Mô hình đạt Nagelkerke R² = 0,285 – mức giải thích khá tốt đối với dữ liệu xã hội học – và kiểm định Hosmer-Lemeshow (p = 0,421 > 0,05) xác nhận độ phù hợp tốt với dữ liệu. Ba kết quả nổi bật được phát hiện: Thứ nhất, học vấn trung học phổ thông và trung học cơ sở làm giảm xác suất sử dụng dịch vụ công trực tuyến xuống còn khoảng 20 – 21% so với nhóm sau đại học (OR = 0,21 và 0,20) – tác động mạnh nhất trong toàn mô hình. Thứ hai, nhóm dưới 30 tuổi có xác suất sử dụng chỉ bằng 27% so với nhóm 31 – 59 tuổi khi đã kiểm soát các biến khác (OR = 0,27), xác nhận lại nghịch lý “thế hệ số” đã phân tích ở trên. Thứ ba, tham gia tổ chức chính trị – xã hội làm tăng xác suất sử dụng lên 2,05 lần (OR = 2,05) cho thấy tác động tích cực lớn nhất trong số các biến độc lập. Đáng chú ý, sau khi kiểm soát học vấn, tuổi tác và thu nhập, giới tính không còn ý nghĩa thống kê độc lập (p = 0,190), gợi ý bất bình đẳng giới trong thích ứng số tại Bắc Ninh chủ yếu phản ánh gián tiếp qua các biến trung gian như học vấn và cơ hội nghề nghiệp.

Bảng 4. Kết quả hồi quy logistic nhị phân: các nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng dịch vụ công trực tuyến

Biến độc lậpOR (Exp(B))Mức ý nghĩa (p)
Học vấn THPT (so với sau đại học)0,21p < 0,001
Học vấn THCS (so với sau đại học)0,20p < 0,001
Nhóm tuổi ≤30 (so với 31-59)0,27p < 0,001
Tham gia tổ chức chính trị – xã hội2,05p < 0,001
Giới tính (nữ so với nam)p = 0,190 (không có ý nghĩa)
Nguồn: Số liệu điều tra của nhóm nghiên cứu, tháng 11/2025.

Kết quả trên nhất quán với phát hiện xuyên suốt về vai trò của hệ thống tổ chức chính trị – xã hội. Theo đó, trên mọi chỉ báo được kiểm định – dịch vụ công trực tuyến, khởi nghiệp số, đọc Bộ Quy tắc ứng xử mạng, cho thấy nhóm tham gia tổ chức đều thích ứng số tốt hơn có ý nghĩa thống kê. Cơ chế tác động vận hành qua ba kênh: kênh thông tin ưu đãi (cán bộ đoàn thể là đầu mối phổ biến chính sách, ứng dụng mới), kênh học tập tập thể (sinh hoạt đoàn thể là không gian chia sẻ kỹ năng số ngang hàng) và động lực tuân thủ chuẩn mực. Phát hiện này nhất quán với lý thuyết vốn xã hội liên kết của Putnam và xác nhận vai trò đặc thù của mạng lưới tổ chức cộng đồng trong khuếch tán công nghệ tại các xã hội Đông Á có hệ thống chính trị – xã hội phát triển mạnh như Việt Nam (Putnam, R. D. 2000).

Từ những phát hiện trên, nghiên cứu nhận diện ba dạng thiếu hụt vốn số đồng thời tồn tại tại Bắc Ninh, theo khung phân tích vốn số của Ragnedda (Ragnedda, M. (2018). Thiếu hụt vốn số cá nhân biểu hiện qua 78,0% người dân nhận thức không hiểu biết đầy đủ về công nghệ số và 72,1% lo ngại về bảo mật. Thiếu hụt vốn số xã hội thể hiện qua sự bất cân xứng mạng lưới: nhóm có vốn xã hội (tham gia tổ chức, học vấn cao) tiếp tục tích lũy thêm vốn số, trong khi nhóm thiếu vốn xã hội ban đầu (lao động nông nghiệp, công nhân) thiếu cả mạng lưới học tập phi chính thức lẫn hỗ trợ thể chế – một cơ chế tái sản xuất bất bình đẳng xã hội qua môi trường số. Thiếu hụt vốn số thể chế bộc lộ qua việc 55,6% người dân cho rằng chính quyền và đoàn thể chưa tuyên truyền, hướng dẫn đầy đủ về công nghệ số, dù hệ thống thể chế chuyển đổi số của tỉnh, từ Nghị quyết số 52-NQ/TU đến Chương trình số 20-CTr/TU. Khoảng cách giữa chính sách ban hành và thực thi ở cấp cơ sở là nút thắt quan trọng nhất. Các kết quả này phù hợp với phát hiện của Norris và Reddick về chính phủ điện tử tại các nước đang phát triển (Norris, D. F., & Reddick, C. G. (2013).

3.2. Vai trò của hạ tầng số, nguồn lực tài chính công và đặc trưng văn hóa – xã hội đối với thích ứng số của người dân tỉnh Bắc Ninh

Bên cạnh các nhân tố nhân khẩu học, dữ liệu khảo sát còn cho thấy vai trò của ba nhóm nhân tố cấu trúc khác. Về hạ tầng số, dù tỉnh đã phủ sóng 4G tới 100% xã, phường và đang thí điểm 5G tại các khu công nghiệp, có đến 69,4% người dân cho biết internet yếu hoặc không ổn định tại nơi sinh sống và 65,6% cho biết sóng di động yếu. Phát hiện này phản ánh khoảng cách giữa phủ són và chất lượng trải nghiệm thực tế vốn là vấn đề cần được giải quyết bằng đầu tư vào chất lượng hạ tầng, không chỉ mở rộng vùng phủ. Về nguồn lực tài chính công, dù Bắc Ninh là địa phương có ngân sách thuộc nhóm lớn nhất cả nước, cơ cấu chi tiêu cho chuyển đổi số vẫn tập trung chủ yếu vào hạ tầng kỹ thuật vốn là khoản đầu tư dễ đo lường trong khi đầu tư cho phát triển năng lực người dùng còn hạn chế. Đây là xu hướng phổ biến ở nhiều địa phương và là căn cứ quan trọng để tái cơ cấu phân bổ ngân sách theo hướng cân bằng hơn giữa phía cung và phía cầu.

Về đặc trưng văn hóa – xã hội, truyền thống hiếu học và văn hóa cộng đồng làng xã của vùng đất Kinh Bắc là nguồn lực thuận lợi cho thích ứng số: 89,9% người dân muốn học kỹ năng internet an toàn, 89,0% muốn học kỹ năng công nghệ số – cao hơn cả mức quan tâm học chuyên môn nghề nghiệp (86,7%); đồng thời 90,8% người dân ưa chuộng hình thức học tập ngang hàng từ người có kinh nghiệm trong cộng đồng. Tuy nhiên, một số đặc trưng văn hóa cũng tạo ra lực cản: 49,1% người dân nhận diện “thành viên gia đình phản đối” là rào cản tiếp cận công nghệ số, phản ánh tâm lý thận trọng với cái mới còn phổ biến trong một bộ phận dân cư, đặc biệt tại khu vực nông thôn và nhóm cao tuổi.

Từ đó, nghiên cứu gợi mở 4 nhóm chính sách cho tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2027 – 2030.

Nhóm thứ nhất là đầu tư vào phổ cập năng lực số có mục tiêu, ưu tiên ba nhóm yếu thế nhất đã được xác định qua kiểm định thống kê – người cao tuổi, người học vấn thấp và lao động nông nghiệp, phổ thông. Thay vì yêu cầu các nhóm này đến điểm đào tạo tập trung, giải pháp hiệu quả hơn là đưa dịch vụ số đến nơi làm việc và nơi sinh hoạt cộng đồng – như tổ chức các buổi hướng dẫn ngắn tại giờ nghỉ ca ở khu công nghiệp hoặc lồng ghép vào sinh hoạt thôn, tổ dân phố định kỳ. Đồng thời, cần chính quy hóa và mở rộng quy mô mô hình học tập cùng nhau qua Tổ Công nghệ số cộng đồng và hệ thống tổ chức chính trị – xã hội, vốn đã được dữ liệu xác nhận là kênh phổ cập số hiệu quả và mang tính đặc thù của bối cảnh Việt Nam, thông qua đào tạo chuẩn hóa định kỳ và cơ chế công nhận, động viên phù hợp cho đội ngũ tình nguyện viên.

Nhóm thứ hai là cải thiện trải nghiệm người dùng dịch vụ công số theo nguyên tắc “gặp dân ở nơi họ đang có mặt”, bao gồm tích hợp dịch vụ công vào các nền tảng dân sự quen thuộc như Zalo, đơn giản hóa quy trình theo hướng tối đa 3 – 4 bước thao tác, tự động điền thông tin từ cơ sở dữ liệu dân cư và thiết kế lại giao diện theo tiêu chuẩn phổ cập, thân thiện với người cao tuổi và người học vấn thấp. Kết quả hồi quy cho thấy điểm nghẽn chính hiện nằm ở khâu kỹ năng thiết kế, sử dụng và niềm tin vào hệ thống. Do đó chiến lược cải thiện dịch vụ cần giải quyết đồng thời cả hai điểm tắc này thay vì chỉ tập trung vào một phía.

Nhóm thứ ba là tháo gỡ đồng thời ba dạng thiếu hụt vốn số đã nhận diện, thông qua một khung can thiệp tích hợp thay vì các chương trình rời rạc: phát triển vốn số cá nhân bằng hệ thống công nhận kỹ năng số phân cấp gắn với động lực thực chất (ưu tiên xét tuyển dụng, vay vốn); xây dựng vốn số xã hội bằng cách nâng cấp mạng lưới tình nguyện viên số cộng đồng hiện có thành lực lượng bán chuyên nghiệp; và củng cố vốn số thể chế bằng cách bổ sung chỉ số đo lường trải nghiệm và năng lực thực tế của người dân vào hệ thống đánh giá chuyển đổi số của tỉnh, vốn hiện nay còn thiên về các chỉ số kỹ thuật – hành chính phía cung.

Nhóm thứ tư là xây dựng cơ chế theo dõi bất bình đẳng số định kỳ, phân nhóm theo đối tượng dễ tổn thương thay vì chỉ báo cáo số liệu trung bình toàn tỉnh, gắn kết quả đo lường với quyết định phân bổ ngân sách và điều chỉnh chương trình, đồng thời tăng cường khung quản trị không gian số minh bạch với thời gian phản hồi ý kiến người dân được quy định rõ ràng và kết quả xử lý được công khai để tạo điều kiện cho sự tham gia dân chủ số thực chất và có chất lượng.

4. Kết luận

Nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm quy mô lớn về thực trạng thích ứng xã hội với chuyển đổi số của người dân tỉnh Bắc Ninh. Người dân đang thích ứng tích cực với công nghệ số trong các lĩnh vực mang lại lợi ích tức thì, như: tiêu dùng, giải trí và văn hóa, nhưng thích ứng trong các lĩnh vực đòi hỏi năng lực số chuyên biệt hơn như dịch vụ công trực tuyến, y tế số, an sinh xã hội số còn nhiều hạn chế và bị phân hóa sâu sắc theo cấu trúc bất bình đẳng xã hội. Phát hiện quan trọng nhất là khoảng cách có hệ thống giữa thái độ ủng hộ cao và hành vi thích ứng thực tế còn hạn chế, được tái tạo bởi các cấu trúc bất bình đẳng về học vấn, tuổi tác và mức độ tham gia tổ chức chính trị – xã hội, chứ không phải hiện tượng ngẫu nhiên sẽ tự thu hẹp theo thời gian. Điều này gợi ý chiến lược chuyển đổi số của tỉnh, dù đã đạt thành tựu đáng kể về hạ tầng kỹ thuật, cần được bổ sung bằng một chiến lược song hành về phát triển vốn số toàn dân, đặc biệt cho những nhóm đang có nguy cơ bị bỏ lại phía sau.

Nghiên cứu có một số hạn chế cần lưu ý: cơ cấu mẫu nghiêng chủ yếu dành cho nhóm trẻ và cư dân đô thị có thể làm các ước lượng về mức độ thích ứng chung cao hơn thực tế; thiết kế cắt ngang không cho phép phân tích quá trình thích ứng theo thời gian hay khẳng định quan hệ nhân quả một chiều. Các nghiên cứu tiếp theo nên kết hợp thiết kế theo dõi dọc, bổ sung thêm phương pháp định tính để hiểu sâu hơn cơ chế và trải nghiệm sống động của quá trình thích ứng số trong từng nhóm xã hội cụ thể.

Tài liệu tham khảo:
Bài viết từ đề tài khoa học cấp tỉnh: “Nghiên cứu đề xuất giải pháp cải thiện khả năng thích ứng xã hội của người dân tỉnh Bắc Ninh đối với quá trình chuyển đổi số quốc gia hiện nay”.
Gefen, D., Karahanna, E., & Straub, D. W. (2003). Trust and TAM in online shopping: An integrated model. MIS Quarterly, 27(1), 51–90.
Hargittai, E. (2002). Second-level digital divide: Differences in people’s online skills. First Monday, 7(4).
Hjorth, L., & Lim, S. S. (2012). Mobile intimacy in an age of affective mobile media. Feminist Media Studies, 12(4), 477–484.
Nguyen, H. H., & Tran, H. V. (2022). Digital society and Society 5.0: Urgent issues for digital social transformation in Vietnam. Masyarakat, Kebudayaan dan Politik, 35(1).
Norris, D. F., & Reddick, C. G. (2013). Local e-government in the United States: Transformation or incremental change? Public Administration Review, 73(1), 165–175.
Prensky, M. (2001). Digital natives, digital immigrants. On the Horizon, 9(5), 1–6.
Putnam, R. D. (2000). Bowling alone: The collapse and revival of American community. Simon & Schuster.
Ragnedda, M. (2018). Conceptualizing digital capital. Telematics and Informatics, 35(8), 2366–2375.
Rogers, E. M. (2003). Diffusion of innovations (5th ed.). Free Press.
Tỉnh ủy Bắc Ninh. (2022). Nghị quyết số 52-NQ/TU ngày 18/3/2022 về Chương trình chuyển đổi số tỉnh Bắc Ninh đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
Tỉnh ủy Bắc Ninh. (2026). Chương trình số 20-CTr/TU ngày 25/3/2026 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2026–2030.
Van Dijk, J. A. G. M. (2020). The digital divide. Polity Press.