Spatial concentration and evolving partner composition of foreign direct investment in Vietnam’s manufacturing industry: evidence from 2014–2025
Nguyễn Thùy Linh
Trường Đại học Mở Hà Nội
Email liên hệ: nguyenthuylinh@hou.edu.vn
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích mức độ tập trung theo địa bàn và sự thay đổi cơ cấu đối tác của vốn FDI đăng ký qua kênh dự án vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại Việt Nam giai đoạn 2014 – 2025. Dữ liệu được tổng hợp từ Cục Đầu tư nước ngoài và Cục Thống kê, gồm 21.273 dự án cấp mới và lượt tăng vốn với tổng giá trị 209,51 tỷ USD. Phương pháp nghiên cứu sử dụng thống kê mô tả, tỷ lệ tập trung, chỉ số Herfindahl – Hirschman ở cấp vùng, vốn bình quân trên một hoạt động đầu tư và so sánh cơ cấu đối tác theo 3 giai đoạn. Kết quả cho thấy, đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ tiếp nhận 77,0% số hoạt động và 76,1% vốn đăng ký; chỉ số tập trung vốn giữa sáu vùng đạt khoảng 0,313. Ở cấp địa phương, mười địa bàn dẫn đầu chiếm 67,5% tổng vốn, nhưng quy mô bình quân có sự khác biệt đáng kể, phản ánh vai trò không giống nhau của các trung tâm dự án lớn và các địa bàn có mật độ dự án cao. Về đối tác, sáu nguồn vốn châu Á, gồm: Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc, Hồng Kông, Nhật Bản và Đài Loan, chiếm 80,3% tổng vốn. Tuy nhiên, sự phụ thuộc vào một đối tác đơn lẻ giảm: tỷ trọng Hàn Quốc từ 35,2% trong giai đoạn 2014 – 2019 xuống 19,0% trong giai đoạn 2023 – 2025, trong khi Singapore và Trung Quốc tăng cường vị thế. Kết quả hàm ý chính sách cần đồng thời củng cố các cụm sản xuất hiện hữu, mở rộng liên kết vùng và đa dạng hóa nguồn vốn theo công nghệ, chuỗi cung ứng và chất lượng của dự án.
Từ khóa: FDI; công nghiệp chế biến; chế tạo; tập trung không gian; đối tác đầu tư; tích tụ công nghiệp.
Abstract: This article examines the spatial concentration and changing partner composition of project-based registered FDI in Vietnam’s manufacturing industry during 2014 – 2025. The dataset, compiled from the Foreign Investment Agency and the national statistical authority, covers 21,273 newly licensed projects and capital-increase cases with registered capital of USD 209.51 billion. The analysis uses descriptive statistics, concentration ratios, a regional Herfindahl-Hirschman Index, capital per investment activity, and partner comparisons across three periods. The results reveal a pronounced two-pole structure: the Red River Delta and the Southeast accounted for 77.0 percent of investment activities and 76.1 percent of registered capital. The regional capital concentration index was approximately 0.313. At the provincial level, the ten leading locations received 67.5 percent of capital. In contrast, substantial differences in capital per activity indicate distinct roles between high-density investment hubs and locations hosting larger projects. Partner concentration was also strong. Six Asian economies – the Republic of Korea, Singapore, China, Hong Kong, Japan and Taiwan – contributed 80.3 percent of registered capital. Nevertheless, dependence on a single partner declined. The Republic of Korea’s share fell from 35.2 percent in 2014 – 2019 to 19.0 percent in 2023 – 2025, while Singapore and China gained prominence. These findings suggest that investment policy should combine upgrading established production clusters, strengthening interregional linkages, and diversifying partners based on technology, supply-chain position, and project quality.
Keywords: FDI; manufacturing; spatial concentration; investment partners; industrial agglomeration.
1. Đặt vấn đề
FDI vào công nghiệp chế biến, chế tạo có xu hướng tập trung tại một số địa bàn hơn là phân bố đều trên lãnh thổ. Lý do nằm ở đặc điểm của sản xuất công nghiệp. Doanh nghiệp cần đất, điện, hạ tầng giao thông, cảng biển, lao động kỹ thuật, nhà cung ứng và các dịch vụ hỗ trợ. Những điều kiện này hình thành qua quá trình tích lũy, thường dày hơn tại các trung tâm công nghiệp đã phát triển. Khi một địa bàn thu hút được nhóm dự án đầu tiên, lợi ích từ việc tập trung doanh nghiệp và chuỗi cung ứng có thể tiếp tục thu hút thêm các dự án mới.
Tập trung không gian tạo ra hiệu quả, nhưng cũng phát sinh chi phí. Các cụm công nghiệp lớn giúp doanh nghiệp giảm thời gian vận chuyển, tìm kiếm lao động và kết nối với các nhà cung cấp. Ngược lại, mật độ đầu tư cao có thể làm tăng giá đất, chi phí nhà ở, ùn tắc giao thông, thiếu lao động và áp lực lên môi trường. Đối với các địa phương chưa tham gia sâu vào mạng lưới sản xuất, khoảng cách về hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ có thể ngày càng lớn. Vì thế, phân tích FDI theo địa bàn không nhằm xác định nơi nào thu hút nhiều nhất mà cần làm rõ cấu trúc tập trung và khả năng lan tỏa giữa các vùng.
Cơ cấu đối tác là chiều phân tích thứ hai. FDI chế biến, chế tạo của Việt Nam gắn chặt với các nền kinh tế châu Á, nơi các tập đoàn tổ chức sản xuất ở nhiều quốc gia, vừa là nguồn vốn lớn, vừa liên quan đến các chuỗi cung ứng điện tử, cơ khí, dệt may, hóa chất và thiết bị. Mức độ tập trung vào nhóm đối tác này tạo thuận lợi cho chuyên môn hóa và chuyển giao tiêu chuẩn sản xuất, nhưng cũng làm tăng độ nhạy trước biến động của một số nền kinh tế hoặc các tập đoàn dẫn dắt.
Phân tích theo địa bàn và đối tác, bổ sung thông tin mà tổng vốn toàn ngành không cung cấp. Hai năm có cùng quy mô vốn có thể khác nhau rõ rệt nếu một năm tập trung vào vài địa phương và một đối tác. Tương tự, địa phương có nhiều dự án nhưng chưa chắc nhận được vốn lớn nếu phần lớn dự án có quy mô nhỏ. Việc kết hợp số hoạt động đầu tư, giá trị vốn và vốn bình quân giúp nhận diện rõ hơn chức năng của từng cực thu hút.
2. Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu
2.1. Lợi thế địa điểm, tích tụ và phân bố FDI
Lợi thế địa điểm giải thích vì sao doanh nghiệp lựa chọn một quốc gia hoặc một vùng cụ thể để đầu tư (Dunning, 1988). Đối với các dự án chế biến, chế tạo, lợi thế này không chỉ là chi phí lao động hoặc ưu đãi thuế. Khả năng tiếp cận cảng, chất lượng khu công nghiệp, độ ổn định điện, quy mô thị trường lao động, mạng lưới nhà cung ứng và năng lực quản lý địa phương đều quyết định chi phí vận hành. Sự kết hợp giữa các yếu tố thường quan trọng hơn so với từng yếu tố riêng lẻ.
Các nghiên cứu về lựa chọn địa điểm sản xuất nhấn mạnh hiệu ứng tích tụ. Coughlin và cộng sự (1991) tìm thấy mối quan hệ tích cực giữa mật độ sản xuất và FDI trong lĩnh vực chế tạo tại các bang của Hoa Kỳ. Wheeler và Mody (1992) cho thấy, mức độ công nghiệp hóa và hạ tầng có sức nặng lớn trong quyết định về địa điểm của các doanh nghiệp đa quốc gia Hoa Kỳ. Head và cộng sự (1995) đi sâu hơn vào cụm ngành khi các nhà máy Nhật Bản có xu hướng chọn nơi đã có nhiều cơ sở cùng ngành. Ba nghiên cứu khác nhau về phạm vi nhưng cùng chỉ ra một cơ chế, doanh nghiệp mới hưởng lợi từ năng lực sản xuất đã được tích lũy trước đó.
Tích tụ có thể tự củng cố khi nhiều doanh nghiệp cùng ngành tập trung, thị trường lao động chuyên môn hóa hơn, nhà cung cấp có động lực mở rộng và dịch vụ kỹ thuật phát triển. Thông tin về môi trường đầu tư cũng dễ tiếp cận hơn thông qua mạng lưới doanh nghiệp. Tuy nhiên, quá trình này không nhất thiết tối ưu về mặt xã hội. Chi phí đất đai, ô nhiễm và tắc nghẽn có thể tăng nhanh hơn lợi ích, trong khi các địa phương ngoài cụm khó thu hút dự án đầu tư. Chính sách do đó phải cân bằng giữa việc nâng cấp cực tăng trưởng và mở rộng liên kết sang các địa bàn lân cận.
Các nghiên cứu trong nước thường xác nhận vai trò của hạ tầng, nhân lực và công tác điều hành địa phương. Nghiên cứu của Lê Hùng Sơn (2020) cho thấy, thu hút FDI tại Quảng Ninh gắn liền với việc cải thiện môi trường đầu tư và nâng cao kết nối hạ tầng. Bành Thị Thảo (2022) nhấn mạnh về năng lực cạnh tranh và các điều kiện địa phương tại Bắc Ninh. Trần Hoàng Hà (2026) xem xét các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc, nơi khoảng cách phát triển giữa các địa bàn khiến tác động của hạ tầng và chất lượng quản trị trở nên rõ rệt hơn. Các kết quả này giúp giải thích vì sao FDI trong lĩnh vực chế biến, chế tạo tập trung vào một số hành lang công nghiệp.
2.2. Đối tác đầu tư và cấu trúc mạng lưới sản xuất
Cơ cấu đối tác không chỉ phản ánh nguồn gốc vốn mà còn gắn với cách doanh nghiệp tổ chức sản xuất quốc tế. Alfaro và Charlton (2009) cho thấy, FDI theo chiều dọc diễn ra đáng kể ngay trong cùng ngành, khi doanh nghiệp phân bổ các công đoạn khác nhau cho từng địa điểm. Trong mô hình này, nhà đầu tư thường chọn nơi có thể kết nối thuận lợi với cơ sở sản xuất, nhà cung cấp và thị trường của tập đoàn. Vì thế, dòng vốn từ các nền kinh tế gần Việt Nam về mặt địa lý và chuỗi cung ứng có xu hướng gia tăng.
Tập trung vào các đối tác có cả lợi ích lẫn rủi ro. Một nhóm nhà đầu tư lớn tạo ra chuẩn mực kỹ thuật, mạng lưới cung ứng và dòng đơn hàng ổn định. Nếu các doanh nghiệp nội địa đủ năng lực, sự hiện diện lâu dài của nhóm này có thể hỗ trợ việc học hỏi. Ngược lại, việc phụ thuộc vào một số đối tác hoặc tập đoàn có thể làm tăng rủi ro khi chiến lược toàn cầu thay đổi. Narula và Dunning (2010) lưu ý rằng, tác động phát triển của doanh nghiệp đa quốc gia phụ thuộc vào điều kiện của nước tiếp nhận và khả năng liên kết, chứ không tự động xuất hiện từ quy mô FDI.
Khoảng trống của nhiều phân tích tại Việt Nam là việc địa bàn và đối tác thường được mô tả riêng lẻ. Bài viết này đặt hai chiều trong cùng một khung: tập trung vào không gian để cho biết nơi tiếp nhận, còn tập trung vào đối tác để cho biết nguồn vốn và mạng lưới sản xuất chi phối. Sự kết hợp giúp nhận diện cấu trúc FDI có đang đa dạng hơn hay chỉ chuyển từ phụ thuộc vào một đối tác sang phụ thuộc vào một nhóm đối tác gần nhau.
3. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
Dữ liệu được tác giả tổng hợp từ Cục Đầu tư nước ngoài và Cục Thống kê giai đoạn 2014 – 2025. Phân tích địa bàn và đối tác chỉ sử dụng FDI đăng ký qua kênh dự án, gồm vốn cấp mới và vốn tăng thêm. Góp vốn, mua cổ phần không được phân bổ đồng nhất theo địa điểm dự án sản xuất, nên không đưa vào tổng vốn của phần này. Tổng mẫu gồm 21.273 dự án cấp mới và lượt tăng vốn với 209,51 tỷ USD vốn đăng ký.
Ở cấp vùng, sáu vùng kinh tế – xã hội được so sánh theo tỷ trọng số hoạt động, tỷ trọng vốn và vốn bình quân trên một hoạt động. Tỷ lệ tập trung của hai vùng dẫn đầu, ký hiệu CR2, được tính bằng tổng thị phần của đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ. Chỉ số Herfindahl – Hirschman được tính bằng tổng bình phương tỷ trọng của sáu vùng; giá trị càng cao phản ánh mức độ phân bố càng tập trung.
Ở cấp địa phương, bài viết phân tích mười địa bàn nhận vốn lớn nhất. Các tỷ lệ CR3, CR5 và CR10 được sử dụng để mô tả mức độ tập trung. Vốn trên một hoạt động là chỉ báo quy mô bình quân, không phải quy mô dự án chính xác, vì số lượt tăng vốn được tính cùng với các dự án được cấp mới. Tuy vậy, chỉ tiêu vẫn hữu ích để so sánh tương đối giữa các địa bàn.
Đối với cơ cấu đối tác, mười nguồn vốn lớn nhất được xếp hạng theo tổng vốn. Sáu đối tác châu Á hàng đầu được cộng gộp để nhận diện mức độ phụ thuộc của khu vực. Sự thay đổi theo thời gian được xem xét qua 3 giai đoạn: 2014 – 2019, 2020 – 2022 và 2023 – 2025. Phân tích không suy luận, nguồn gốc đăng ký vốn đồng nhất với chủ sở hữu cuối cùng, bởi vốn có thể đi qua các trung tâm tài chính hoặc các công ty trung gian.
Giới hạn quan trọng là dữ liệu chưa cung cấp thông tin về công nghệ, giá trị gia tăng, việc làm, xuất khẩu và các liên kết với nhà cung ứng của từng dự án. Do đó, mức độ tập trung cao không được đánh giá là tích cực hay tiêu cực một cách tuyệt đối. Kết quả chủ yếu mô tả cấu trúc phân bố và nêu các vấn đề cần theo dõi trong chính sách đầu tư.
4. Kết quả nghiên cứu
4.1. Hai cực thu hút chi phối phân bố theo vùng
Bảng 1. Phân bố hoạt động và vốn FDI đăng ký ngành chế biến, chế tạo theo vùng, giai đoạn 2014 – 2025
| Vùng | Hoạt động đầu tư | Tỷ trọng hoạt động (%) | Vốn đăng ký (triệu USD) | Tỷ trọng vốn (%) | Vốn/hoạt động (triệu USD) |
| Đồng bằng sông Hồng | 8.328 | 39,1 | 87.974,82 | 42,0 | 10,56 |
| Trung du và miền núi phía Bắc | 1.708 | 8,0 | 22.694,35 | 10,8 | 13,29 |
| Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung | 1.037 | 4,9 | 14.969,82 | 7,1 | 14,44 |
| Tây Nguyên | 97 | 0,5 | 477,53 | 0,2 | 4,92 |
| Đông Nam Bộ | 8.060 | 37,9 | 71.442,90 | 34,1 | 8,86 |
| Đồng bằng sông Cửu Long | 2.043 | 9,6 | 11.946,11 | 5,7 | 5,85 |
Phân bố theo vùng thể hiện cấu trúc hai cực khá rõ. Đồng bằng sông Hồng tiếp nhận 39,1% số hoạt động và 42,0% vốn đăng ký. Đông Nam Bộ đứng thứ hai với 37,9% số hoạt động và 34,1% vốn. Cộng lại, hai vùng chiếm 77,0% số hoạt động và 76,1% tổng vốn. Chỉ số Herfindahl – Hirschman tính trên tỷ trọng vốn của sáu vùng đạt khoảng 0,313; kết quả phản ánh mức tập trung cao so với phân bố đều, khi mỗi vùng chỉ chiếm gần 16,7%.
Hai cực thu hút có nền tảng khác nhau. Đồng bằng sông Hồng được hỗ trợ bởi các hành lang công nghiệp kết nối Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Phòng, Quảng Ninh và các tỉnh lân cận. Hệ thống cảng biển, cao tốc, khu công nghiệp và mạng lưới điện tử tạo điều kiện thuận lợi cho các dự án xuất khẩu. Đông Nam Bộ có lịch sử công nghiệp hóa sớm hơn, thị trường lớn, hệ thống cảng và mạng lưới doanh nghiệp dày đặc tại TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu và Tây Ninh. Sự hình thành lâu dài của hai hệ sinh thái giúp nhà đầu tư giảm chi phí tìm kiếm và triển khai.
Trung du và miền núi phía Bắc chiếm 10,8% vốn, cao hơn tỷ trọng số hoạt động là 8,0%. Vốn bình quân đạt 13,29 triệu USD, đứng sau Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung. Kết quả liên quan đến sự xuất hiện của các dự án quy mô lớn tại Bắc Giang và Thái Nguyên, đồng thời cho thấy, ranh giới vùng hành chính không hoàn toàn trùng với ranh giới của cụm sản xuất. Nhiều địa phương trong vùng thực tế nằm trong hành lang mở rộng từ trung tâm công nghiệp phía Bắc.
Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung chỉ chiếm 4,9% số hoạt động nhưng nhận 7,1% vốn, với giá trị bình quân 14,44 triệu USD. Tỷ lệ này cho thấy, vùng có ít hoạt động hơn nhưng vẫn có một số dự án tương đối lớn. Dù vậy, phân bố bên trong vùng không đồng đều và phụ thuộc vào một số địa bàn ven biển có khu kinh tế, cảng nước sâu hoặc quỹ đất công nghiệp. Khả năng hình thành mạng lưới nhà cung ứng vẫn là một vấn đề cần thời gian.
Đồng bằng sông Cửu Long có 9,6% số hoạt động nhưng chỉ chiếm 5,7% vốn, còn Tây Nguyên hầu như đứng ngoài dòng FDI chế biến, chế tạo quy mô lớn. Vốn bình quân tại hai vùng lần lượt là 5,85 và 4,92 triệu USD. Khoảng cách này có thể liên quan đến hạ tầng logistics, chất lượng lao động, vị trí xa các chuỗi sản xuất công nghiệp và quy mô thị trường của nhà cung ứng. Lợi thế nông nghiệp và tài nguyên có thể phù hợp hơn với chế biến sâu, thiết bị phục vụ nông nghiệp hoặc công nghiệp sinh học.
Cấu trúc hai cực mang lại hiệu quả tích tụ nhưng tạo áp lực lên khả năng cân đối của vùng. Chính sách phân tán cơ học dự án khỏi nơi có lợi thế có thể làm tăng chi phí. Phương án hợp lý hơn là mở rộng phạm vi của các cụm hiện hữu thông qua hạ tầng kết nối, logistics và đào tạo để các địa phương lân cận tham gia vào từng khâu. Khi liên kết vùng tốt hơn, hiệu ứng lan tỏa có thể xuất hiện mà không làm suy giảm sức cạnh tranh của trung tâm.
4.2. Các địa phương dẫn đầu có chức năng thu hút khác nhau
Bảng 2. Mười địa phương dẫn đầu về vốn FDI đăng ký qua kênh dự án, giai đoạn 2014 – 2025
| Địa phương | Hoạt động đầu tư | Tỷ trọng hoạt động (%) | Vốn đăng ký (triệu USD) | Tỷ trọng vốn (%) | Vốn/hoạt động (triệu USD) |
| Bắc Ninh | 2.949 | 13,9 | 24.556,29 | 11,7 | 8,33 |
| Hải Phòng | 1.192 | 5,6 | 21.970,03 | 10,5 | 18,43 |
| TP. Hồ Chí Minh | 2.094 | 9,8 | 19.116,10 | 9,1 | 9,13 |
| Đồng Nai | 2.008 | 9,4 | 16.427,94 | 7,8 | 8,18 |
| Bình Dương | 2.306 | 10,8 | 14.132,13 | 6,7 | 6,13 |
| Bắc Giang | 891 | 4,2 | 10.223,56 | 4,9 | 11,47 |
| Bà Rịa – Vũng Tàu | 323 | 1,5 | 9.782,03 | 4,7 | 30,28 |
| Tây Ninh | 843 | 4,0 | 8.757,39 | 4,2 | 10,39 |
| Thái Nguyên | 392 | 1,8 | 8.303,53 | 4,0 | 21,18 |
| Quảng Ninh | 165 | 0,8 | 8.184,02 | 3,9 | 49,60 |
Mười địa phương dẫn đầu chiếm 61,8% số hoạt động và 67,5% vốn đăng ký. Năm địa phương đứng đầu, gồm: Bắc Ninh, Hải Phòng, TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương chiếm 45,8% tổng vốn. Mức tập trung này cho thấy lợi thế địa điểm được tạo ra bởi một nhóm trung tâm công nghiệp, nhưng phần còn lại vẫn tiếp nhận gần một phần ba tổng vốn. Vì vậy, phân bố không hoàn toàn khép kín ở một số địa bàn.
Bắc Ninh đứng đầu về vốn và số hoạt động trong nhóm, với 24,56 tỷ USD và 2.949 trường hợp cấp mới hoặc tăng vốn. Vốn bình quân 8,33 triệu USD thấp hơn so với Hải Phòng và một số địa phương có dự án lớn. Điều này phản ánh đặc điểm của một cụm công nghiệp có mật độ hoạt động cao, nơi nhiều doanh nghiệp phụ trợ và các dự án mở rộng cùng tham gia. Giá trị của Bắc Ninh không chỉ nằm ở một dự án dẫn dắt mà còn ở mạng lưới doanh nghiệp khá dày.
Hải Phòng có số lượng hoạt động thấp hơn nhưng vốn đăng ký gần tương đương với Bắc Ninh. Vốn bình quân 18,43 triệu USD gợi ý cơ cấu dự án lớn hơn. Lợi thế của cảng biển, khu kinh tế và kết nối với hành lang công nghiệp phía Bắc tạo điều kiện cho các dự án cần diện tích và logistics quy mô lớn. Quảng Ninh có cấu trúc còn rõ hơn: chỉ 165 hoạt động nhưng vốn đạt 8,18 tỷ USD, tương ứng với 49,60 triệu USD mỗi hoạt động. Chỉ tiêu này chịu ảnh hưởng mạnh bởi một số dự án lớn nên cần tránh xem đây là quy mô điển hình cho tất cả các dự án.
TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương tạo thành lõi của cực phía Nam. TP. Hồ Chí Minh có vai trò trung tâm về dịch vụ, quản lý và thị trường; Đồng Nai và Bình Dương cung cấp quỹ đất công nghiệp và mạng lưới sản xuất. Bình Dương có số hoạt động cao hơn Đồng Nai nhưng vốn bình quân thấp hơn, cho thấy mật độ dự án vừa và nhỏ tương đối lớn. Bà Rịa – Vũng Tàu lại có ít hoạt động nhưng vốn bình quân trên 30 triệu USD, phù hợp với các dự án cần hạ tầng cảng, năng lượng hoặc công nghiệp nặng hơn.
Bắc Giang và Thái Nguyên cho thấy, sự mở rộng của cực phía Bắc ra ngoài Đồng bằng sông Hồng. Hai địa phương tiếp nhận tổng cộng hơn 18,53 tỷ USD, trong đó vốn bình quân của Thái Nguyên đạt 21,18 triệu USD. Sự hiện diện của các doanh nghiệp điện tử quy mô lớn tạo lực hút cho các nhà cung ứng và các dự án liên quan. Tuy nhiên, cấu trúc này cũng khiến địa phương nhạy cảm trước các quyết định của một số tập đoàn. Đa dạng hóa ngành con và phát triển doanh nghiệp nội địa là yêu cầu quan trọng nhằm giảm thiểu rủi ro.
Sự khác biệt về vốn bình quân cho thấy, không nên xếp hạng địa phương chỉ dựa trên tổng vốn. Một địa bàn có nhiều dự án nhỏ có thể tạo mạng lưới doanh nghiệp dày và việc làm rộng; địa bàn có ít dự án lớn có thể tạo công suất và kim ngạch cao nhưng phụ thuộc nhiều hơn. Đánh giá kết quả thu hút cần bổ sung thông tin về ngành con, diện tích sử dụng, việc làm, giá trị xuất khẩu, đóng góp vào ngân sách và các nhà cung ứng trong nước.
4.3. Nguồn vốn tập trung cao vào mạng lưới sản xuất châu Á
Bảng 3. Mười đối tác dẫn đầu về FDI đăng ký qua kênh dự án vào ngành chế biến, chế tạo giai đoạn 2014 – 2025
| Đối tác | Hoạt động đầu tư | Tỷ trọng hoạt động (%) | Vốn đăng ký (triệu USD) | Tỷ trọng vốn (%) | Vốn/hoạt động (triệu USD) |
| Hàn Quốc | 6.126 | 28,8 | 55.389,85 | 26,4 | 9,04 |
| Singapore | 1.435 | 6,7 | 26.703,97 | 12,7 | 18,61 |
| Trung Quốc | 4.072 | 19,1 | 25.657,91 | 12,2 | 6,30 |
| Hồng Kông | 2.340 | 11,0 | 25.247,80 | 12,1 | 10,79 |
| Nhật Bản | 2.163 | 10,2 | 20.481,26 | 9,8 | 9,47 |
| Đài Loan | 1.608 | 7,6 | 14.872,22 | 7,1 | 9,25 |
| Samoa | 517 | 2,4 | 6.610,05 | 3,2 | 12,79 |
| British Virgin Islands | 447 | 2,1 | 5.243,09 | 2,5 | 11,73 |
| Hà Lan | 152 | 0,7 | 5.111,65 | 2,4 | 33,63 |
| Thái Lan | 204 | 1,0 | 3.465,33 | 1,7 | 16,99 |
Cơ cấu đối tác tập trung cao hơn cơ cấu địa bàn. Mười đối tác dẫn đầu chiếm 90,1% vốn đăng ký; riêng 5 đối tác đầu tiên chiếm 73,2%. Hàn Quốc đứng đầu với 55,39 tỷ USD, tương đương 26,4%, đồng thời chiếm 28,8% tổng số hoạt động. Sự hiện diện lớn và rộng của nhà đầu tư Hàn Quốc phản ánh quá trình hình thành chuỗi cung ứng điện tử, linh kiện, dệt may và công nghiệp hỗ trợ tại nhiều địa phương.
Singapore đứng thứ hai về vốn nhưng chỉ chiếm 6,7% số hoạt động. Vốn bình quân 18,61 triệu USD cao hơn đáng kể so với Hàn Quốc, Trung Quốc, Hồng Kông, Nhật Bản và Đài Loan. Tuy nhiên, nguồn vốn đăng ký từ Singapore có thể bao gồm các doanh nghiệp đa quốc gia sử dụng trung tâm tài chính và trụ sở khu vực nên không đồng nhất với chủ sở hữu cuối cùng là Singapore. Điều tương tự cũng áp dụng cho Hồng Kông, Samoa và British Virgin Islands.
Trung Quốc có 4.072 hoạt động, đứng thứ hai về số lượng nhưng vốn bình quân chỉ 6,30 triệu USD, thấp nhất trong số 10 đối tác hàng đầu. Kết quả gợi ý cơ cấu gồm nhiều dự án hoặc các lượt điều chỉnh quy mô vừa và nhỏ. Hồng Kông có số hoạt động thấp hơn nhưng vốn bình quân cao hơn. Khi hai nguồn vốn này được xem xét cùng nhau, tỷ trọng đạt 24,3% tổng vốn, cho thấy sự liên kết với mạng lưới sản xuất Trung Quốc có quy mô đáng kể.
Nhật Bản và Đài Loan đóng góp lần lượt 9,8% và 7,1% tổng vốn. Hai đối tác có lịch sử đầu tư dài, gắn với các ngành điện tử, cơ khí, phương tiện vận tải và linh kiện. Quy mô bình quân quanh 9 triệu USD cho thấy, số lượng dự án khá lớn và phân bố tương đối rộng. Sự hiện diện lâu dài tạo tiềm năng liên kết với doanh nghiệp trong nước, nhưng mức độ hiện thực hóa phụ thuộc vào năng lực đáp ứng các tiêu chuẩn và chiến lược mua hàng của doanh nghiệp FDI.
Sáu đối tác châu Á dẫn đầu chiếm 83,4% số hoạt động và 80,3% vốn đăng ký. Cấu trúc này phù hợp với vị trí của Việt Nam trong mạng lưới sản xuất khu vực, song cũng tiềm ẩn rủi ro đồng biến. Khi cầu thế giới giảm, chính sách thương mại thay đổi hoặc một ngành điện tử điều chỉnh chuỗi cung ứng, nhiều nguồn vốn có thể cùng phản ứng. Đa dạng hóa, vì thế, không chỉ là tăng số quốc gia mà còn là mở rộng ngành con, công nghệ và thị trường đầu ra.
4.4. Cơ cấu đối tác chuyển từ ưu thế một nguồn vốn sang cạnh tranh giữa nhiều nguồn lớn
Bảng 4. Sự thay đổi mức độ tập trung đối tác theo giai đoạn
| Giai đoạn | Đối tác dẫn đầu | Tỷ trọng (%) | Đối tác thứ hai | Tỷ trọng (%) | Tỷ trọng 5 đối tác lớn (%) | Các đối tác còn lại (%) |
| 2014 – 2019 | Hàn Quốc | 35,2 | Nhật Bản | 12,0 | 74,8 | 25,2 |
| 2020 – 2022 | Hàn Quốc | 19,4 | Trung Quốc | 13,8 | 65,8 | 34,3 |
| 2023 – 2025 | Singapore | 19,1 | Hàn Quốc | 19,0 | 78,1 | 21,9 |
Giai đoạn 2014 – 2019 mang dấu ấn rõ rệt của Hàn Quốc. Đối tác này chiếm 35,2% tổng vốn, cao hơn Nhật Bản 23,2 điểm phần trăm. Năm đối tác lớn nhất nắm giữ 74,8% vốn. Cấu trúc này gắn với làn sóng dự án điện tử và các doanh nghiệp vệ tinh, tạo ra bước mở rộng nhanh về sản xuất và xuất khẩu. Tuy nhiên, khoảng cách quá lớn giữa đối tác đứng đầu và phần còn lại cho thấy mức độ phụ thuộc đáng kể.
Trong giai đoạn 2020 – 2022, tỷ trọng Hàn Quốc giảm xuống còn 19,4%. Trung Quốc, Hồng Kông, Singapore và Nhật Bản có tỷ trọng gần nhau hơn, khiến tỷ lệ của 4 đối tác lớn giảm xuống còn 65,8%. Nhóm đối tác còn lại tăng lên 34,3%. Đây là giai đoạn cơ cấu nguồn vốn phân tán hơn, nhưng cần thận trọng khi giải thích. Một phần thay đổi có thể đến từ việc tổng vốn của từng đối tác biến động trong thời kỳ dịch bệnh, chứ chưa chắc phản ánh chiến lược đa dạng hóa bền vững.
Giai đoạn 2023 – 2025 cho thấy, một cấu trúc mới. Singapore đứng đầu với 19,1%, chỉ cao hơn Hàn Quốc 0,1 điểm phần trăm. Trung Quốc và Hồng Kông lần lượt chiếm 16,6% và 15,4%; Đài Loan chiếm 8,0%. Năm đối tác lớn nhất chiếm 78,1%, cao hơn so với hai giai đoạn trước nhưng không còn một nguồn vốn duy nhất áp đảo. Nói cách khác, mức độ tập trung của nhóm tăng, trong khi mức độ phụ thuộc vào đối tác đứng đầu giảm.
Sự dịch chuyển này có hai hàm ý. Thứ nhất, sự cạnh tranh giữa nhiều nguồn vốn lớn giúp Việt Nam giảm rủi ro do phụ thuộc vào một đối tác duy nhất. Thứ hai, 4 đối tác dẫn đầu gần đây đều thuộc mạng lưới kinh tế Đông Á hoặc là các trung tâm tài chính gắn với khu vực. Vì vậy, đa dạng hóa theo quốc gia chưa đồng nghĩa với việc đa dạng hóa chuỗi cung ứng và thị trường. Chính sách cần theo dõi chủ sở hữu cuối cùng, ngành con và thị trường xuất khẩu của dự án.
5. Thảo luận và hàm ý chính sách
Kết quả về địa bàn cho thấy, chính sách không nên đặt mục tiêu phân bổ FDI đồng đều giữa các vùng. Các cụm công nghiệp tồn tại vì lợi ích tích tụ, nên việc ép các dự án rời khỏi trung tâm có thể làm giảm hiệu quả. Vấn đề phù hợp hơn là kiểm soát chi phí của việc tập trung và mở rộng không gian kinh tế của cụm. Hạ tầng đường bộ, đường sắt, cảng cạn và logistics cần kết nối các địa phương lân cận với trung tâm sản xuất, qua đó tạo điều kiện để các công đoạn phụ trợ dịch chuyển mà không làm đứt gãy chuỗi sản xuất.
Đối với đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ, ưu tiên chính sách nên chuyển từ tăng số lượng khu công nghiệp sang nâng cấp chất lượng vận hành. Điện ổn định, xử lý nước thải, nhà ở công nhân, giao thông nội vùng, đào tạo kỹ thuật và dịch vụ hải quan có tác động trực tiếp đến khả năng mở rộng dự án. Khi quỹ đất khan hiếm, tiêu chí lựa chọn dự án cần chú ý đến suất đầu tư, công nghệ, phát thải và mức độ sử dụng nhà cung ứng trong nước.
Với Trung du và miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung, cơ hội nằm ở việc kết nối với hành lang đã hình thành và khai thác các dự án quy mô phù hợp. Các địa phương không nên sao chép mô hình của Bắc Ninh hoặc Bình Dương nếu điều kiện lao động và logistics khác biệt. Hướng khả thi hơn là xác định một số ngành con gắn với cảng biển, nguyên liệu, năng lượng hoặc chuỗi sản xuất lân cận, rồi đầu tư có trọng tâm vào các kỹ năng và hạ tầng cần thiết.
Đối với đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên, việc thu hút chế biến, chế tạo cần dựa trên lợi thế chuyên biệt. Chế biến nông sản, thiết bị nông nghiệp, vật liệu sinh học, năng lượng tái tạo và công nghệ bảo quản có thể phù hợp hơn với các dự án điện tử lắp ráp. Chính sách hạ tầng phải gắn với đặc điểm hàng hóa và khoảng cách thị trường, tránh xây dựng khu công nghiệp quy mô lớn nhưng thiếu hệ sinh thái doanh nghiệp.
Về đối tác, cần phân biệt đa dạng hóa danh nghĩa và đa dạng hóa thực chất. Một dự án đăng ký từ Singapore hoặc Hồng Kông có thể thuộc tập đoàn có chủ sở hữu cuối cùng ở một quốc gia khác. Cơ sở dữ liệu đầu tư nên bổ sung thông tin về chủ sở hữu cuối cùng, tập đoàn mẹ và thị trường chính. Khi có thông tin rõ hơn, cơ quan quản lý có thể đánh giá đúng mức độ phụ thuộc và thiết kế xúc tiến theo ngành, thay vì chỉ dựa trên quốc tịch pháp lý của nhà đầu tư.
Thu hút thêm đối tác châu Âu, Bắc Mỹ và các nền kinh tế công nghệ cao là cần thiết, nhưng không nên được thực hiện bằng các ưu đãi quá rộng. Những nhà đầu tư này thường quan tâm mạnh đến sở hữu trí tuệ, nhân lực kỹ thuật, tiêu chuẩn môi trường, năng lượng sạch và khả năng truy xuất nguồn gốc trong chuỗi cung ứng. Cải thiện các điều kiện nền tảng có thể tạo sức hút bền vững hơn so với thuế quan cạnh tranh. Đồng thời, quan hệ với các đối tác châu Á hiện hữu vẫn cần được củng cố vì họ tạo nên phần lớn mạng lưới sản xuất đang vận hành.
Một chính sách quan trọng khác là phát triển doanh nghiệp trong nước trong từng cụm. Khi nhà cung ứng nội địa đủ năng lực, lợi ích của việc tích tụ không chỉ thuộc về khu vực FDI mà còn lan sang nền kinh tế địa phương. Chương trình hỗ trợ tiêu chuẩn, quản trị chất lượng và tài chính cho đổi mới thiết bị, cũng như kết nối mua hàng, cần gắn với nhu cầu cụ thể của doanh nghiệp dẫn dắt. Nếu thiếu liên kết, địa phương có thể thu hút vốn lớn nhưng giá trị gia tăng nội địa vẫn thấp.
6. Kết luận
Bài viết cho thấy, FDI đăng ký qua kênh dự án vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại Việt Nam giai đoạn 2014 – 2025 có mức độ tập trung đáng kể cả về địa bàn lẫn đối tác. Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ chiếm hơn 3/4 số hoạt động và vốn đăng ký. Mười địa phương dẫn đầu nhận 67,5% vốn, nhưng quy mô bình quân khác nhau rõ rệt, phản ánh chức năng không giống nhau giữa các cụm có mật độ dự án cao và các địa bàn tiếp nhận một số dự án lớn.
Về nguồn vốn, 6 đối tác châu Á dẫn đầu chiếm 80,3% tổng vốn. Cơ cấu theo thời gian cho thấy vai trò áp đảo của Hàn Quốc đang giảm, trong khi Singapore, Trung Quốc, Hồng Kông và Đài Loan đang gia tăng. Giai đoạn 2023 – 2025 không còn một đối tác duy nhất vượt xa phần còn lại, nhưng tỷ trọng của nhóm 5 đối tác lớn đã tăng lên. Điều này hàm ý rằng, rủi ro phụ thuộc đã chuyển từ một quốc gia sang một mạng lưới đối tác có liên kết khu vực khá chặt chẽ.
Kết quả ủng hộ 3 định hướng. Một là, tiếp tục nâng cấp hai cực công nghiệp hiện hữu nhưng kiểm soát chi phí tắc nghẽn. Hai là, mở rộng liên kết vùng để địa phương lân cận tham gia chuỗi theo lợi thế riêng, thay vì phân tán dự án bằng biện pháp hành chính. Ba là, đa dạng hóa nguồn vốn dựa trên công nghệ, ngành con và chủ sở hữu cuối cùng, đồng thời phát triển doanh nghiệp nội địa để tăng khả năng hấp thụ.
Tài liệu tham khảo:
Alfaro, L., & Charlton, A. (2009). Intra-industry foreign direct investment. American Economic Review, 99(5), 2096 – 2119. https://doi.org/10.1257/aer.99.5.2096
Bành Thị Thảo. (2022). Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh Bắc Ninh. Luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện Tài chính.
Coughlin, C. C., Terza, J. V., & Arromdee, V. (1991). State characteristics and the location of foreign direct investment within the United States. The Review of Economics and Statistics, 73(4), 675- 683. https://doi.org/10.2307/2109406.
Dunning, J. H. (1988). The eclectic paradigm of international production: A restatement and some possible extensions. Journal of International Business Studies, 19(1), 1 – 31. https://doi.org/10.1057/palgrave.jibs.8490372
Head, K., Ries, J., & Swenson, D. (1995). Agglomeration benefits and location choice: Evidence from Japanese manufacturing investments in the United States. Journal of International Economics, 38(3 – 4), 223 – 247. https://doi.org/10.1016/0022-1996(94)01351-R
Lê Hùng Sơn. (2020). Nghiên cứu về việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh Quảng Ninh trong bối cảnh phát triển mới. Luận án tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học Mỏ – Địa chất.
Narula, R., & Dunning, J. H. (2010). Multinational enterprises, development and globalization: Some clarifications and a research agenda. Oxford Development Studies, 38(3), 263- 287. https://doi.org/10.1080/13600818.2010.505684
Trần Hoàng Hà. (2026). Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc. Luận án tiến sĩ, Đại học Kinh tế Quốc dân.
Wheeler, D., & Mody, A. (1992). International investment location decisions: The case of U.S. firms. Journal of International Economics, 33(1 – 2), 57 – 76. https://doi.org/10.1016/0022-1996(92)90050-T
World Bank. (2020). World Development Report 2020: Trading for development in the age of global value chains. World Bank. https://doi.org/10.1596/978-1-4648-1457-0



