Vietnam–Thailand relations: from trust-building to strategic partnership
TS. Hà Lê Huyền
Viện Nghiên cứu Châu Á – Thái Bình Dương
Email: halehuyen.iseas@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Khu vực Đông Nam Á, với vị trí địa – chính trị quan trọng, là không gian hợp tác năng động, trong đó quan hệ Việt Nam – Thái Lan nổi lên như một hình mẫu tiêu biểu của tiến trình xây dựng lòng tin và phát triển quan hệ thực chất, hiệu quả giữa hai quốc gia thành viên ASEAN. Bài viết phân tích làm rõ hành trình từ kiến tạo lòng tin đến phát triển Đối tác chiến lược toàn diện của quan hệ hai nước qua nửa thế kỷ từ năm 1976 – 2026, khẳng định giá trị thực tiễn và tầm vóc thời đại của sự vận dụng nhất quán và sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh cùng đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam, trên cơ sở đó, rút ra một số bài học kinh nghiệm cho công tác đối ngoại trong giai đoạn mới.
Từ khóa: Tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối đối ngoại Đảng Cộng sản Việt Nam; Đại hội XIV; quan hệ Việt Nam – Thái Lan; hội nhập quốc tế.
Abstract: Southeast Asia, with its important geostrategic position, is a dynamic space for cooperation, in which Vietnam–Thailand relations stand out as an exemplary case of trust-building and substantive, effective bilateral engagement between two ASEAN member states. This article examines the evolution from trust-building to the development of a Comprehensive Strategic Partnership in Vietnam–Thailand relations over the past half century (1976 – 2026), affirming the practical value and contemporary significance of the consistent and creative implementation of Ho Chi Minh Thought and the foreign policy guidelines of the Communist Party of Vietnam. On that basis, the article draws several lessons for diplomatic practice in the new period.
Keywords: Ho Chi Minh Thought; Foreign policy of the Communist Party of Vietnam; 14th National Congress; Vietnam-Thailand relations; International integration.
1. Đặt vấn đề
Quan hệ Việt Nam – Thái Lan là minh chứng tiêu biểu cho tính đúng đắn của đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ chỗ nghi kỵ và đối đầu gián tiếp, hai nước đã từng bước xây dựng lòng tin, mở rộng hợp tác và nâng cấp lên Đối tác chiến lược toàn diện năm 2025. Thành tựu này cho thấy, khả năng chuyển hóa khác biệt thành hợp tác, góp phần nâng cao vị thế quốc tế và bảo đảm lợi ích quốc gia – dân tộc. Trong bối cảnh các thế lực thù địch tiếp tục xuyên tạc đường lối đối ngoại của Việt Nam, thực tiễn quan hệ Việt Nam – Thái Lan là bằng chứng thuyết phục khẳng định tính đúng đắn, hiệu quả và giá trị thời đại của đường lối đối ngoại do Đảng lãnh đạo.
2. Đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam – nền tảng lý luận cho sự phát triển quan hệ Việt Nam – Thái Lan
2.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại – nền tảng tư tưởng của đường lối đối ngoại Việt Nam
Cốt lõi trong tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh là đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên hàng đầu, luôn kết hợp nhuần nhuyễn giữa kiên định mục tiêu độc lập dân tộc với tinh thần hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển. Quan điểm độc lập, tự chủlà tư duy nổi bật, nhất quán trong hoạt động chính trị của Người, nguyên lý chủ yếu của tư tưởng đó là “muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã” (Hồ Chí Minh (2011a). Giữ vững độc lập, tự chủ vừa là đường lối, vừa là nguyên tắc để bảo vệ tốt nhất lợi ích quốc gia – dân tộc.
Trong công tác đối ngoại, cần phải có sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sự ủng hộ của nhân dân thế giới, Hồ Chí Minh cho rằng “Sức mạnh, sự vĩ đại và sự bền bỉ của nhân dân Việt Nam cơ bản là ở sự đoàn kết của nhân dân Việt Nam và sự ủng hộ của nhân dân thế giới” (Hồ Chí Minh (2011b). Tạo ra được sức mạnh tổng hợp cho cách mạng thì cần phải có sự kết hợp giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Bên cạnh đó, quan điểm ngoại giao luôn yêu chuộng hòa bình, bảo vệ độc lập dân tộc, chống chiến tranh xâm lược, có tinh thần hòa hiếu,“thêm bạn, bớt thù” luôn nhất quán trong suốt quá trình hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Trong thực tiễn lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn phân biệt rõ giữa bạn và thù, tìm cách giảm bớt kẻ thù, tránh đối phó với nhiều kẻ thù cùng một lúc. Người khẳng định: “Muốn làm cách mạng thắng lợi thì phải phân biệt rõ ai là bạn ai là thù, phải thực hiện thêm bầu bạn, bớt kẻ thù” (Hồ Chí Minh (2011c). Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh cho rằng cần xây dựng quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai” (Hồ Chí Minh (2011d), đối với các nước láng giềng và khu vực, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định rõ về vai trò, tầm quan trọng trong việc thực hiện đoàn kết chặt chẽ vì nền an ninh, sự phát triển của quốc gia dân tộc. Trong hoạt động đối ngoại, Người luôn nhất quán phương châm “Dĩ bất biến ứng vạn biến” và khẳng định “Mục đích bất di bất dịch của ta vẫn là hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ. Nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng sách lược của ta thì linh hoạt” (Hồ Chí Minh (2011e).
Những tư tưởng đối ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ góp phần đưa cách mạng Việt Nam đi đến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, mà tư tưởng của Người còn trở thành nền tảng, kim chỉ nam cho việc hoạch định và triển khai đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam trong các thời kỳ cách mạng, nhất là trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay.
2.2. Sự phát triển trong nhận thức và tư duy đối ngoại của Đảng thời kỳ đổi mới
Đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới được Đảng khởi xướng từ năm 1986 và luôn được bổ sung, hoàn chỉnh qua các kỳ Đại hội. Vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại, Đại hội XIV của Đảng xác định mục tiêu tiếp tục phát huy sức mạnh, bản lĩnh, trí tuệ của con người Việt Nam, khối đại đoàn kết toàn dân tộc và thế trận lòng dân; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; chủ động, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia; bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; gắn kết chặt chẽ, hài hoà giữa phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, bảo vệ môi trường với củng cố quốc phòng, an ninh, nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế. Bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên Hợp quốc; hợp tác bình dẳng, cùng có lợi; chủ động đóng góp vào hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; là bạn, là đối tác tin cậy, thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026).
Chương trình hành động cụ thể như sau: Tiếp tục thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các quan điểm, đường lối của Đảng về quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, đối ngoại độc lập, tự chủ, toàn diện và hiện đại. Đẩy mạnh triển khai đồng bộ, sáng tạo hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện, hiệu quả: Cụ thể hoá các chủ trương, quan điểm mới của Đảng về đối ngoại; xây dựng và triển khai hiệu quả các kế hoạch, chương trình thực hiện các văn kiện của Đảng về đối ngoại, hội nhập quốc tế, trong đó có Nghị quyết số 59-NQ/TW, ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; Đẩy mạnh khai thác các khuôn khổ quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, đối tác chiến lược, đối tác toàn diện; tiếp tục xác lập, nâng cấp quan hệ với một số đối tác quan trọng, tạo thuận lợi cho phát triển kinh tế, thu hút nguồn lực, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam; Nâng cao vị thế, vai trò của Việt Nam tại các cơ chế đa phương; chủ động, tích cực tham gia định hình các thể chế đa phương; Nâng tầm đối ngoại đa phương và song phương (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b).
Đại hội XIV cũng nhấn mạnh yêu cầu tăng cường tự chủ chiến lược, tự cường quốc gia, coi đây là nền tảng để hội nhập sâu rộng nhưng không lệ thuộc, mở rộng hợp tác quốc tế nhưng vẫn giữ vững độc lập, chủ quyền và lợi ích quốc gia – dân tộc. Điều đó cho thấy sự phát triển trong tư duy đối ngoại của Đảng không phải là sự thay đổi về nguyên tắc mà là sự vận dụng sáng tạo những giá trị cốt lõi của đường lối đối ngoại trong điều kiện mới. Đây chính là cơ sở để Việt Nam xây dựng quan hệ với Thái Lan trên nền tảng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và cùng có lợi.
3. Từ nghi kỵ đến tin cậy: hành trình nửa thế kỷ phát triển quan hệ Việt Nam – Thái Lan
Thứ nhất, kiên định hòa bình và đối thoại trong bối cảnh đối đầu, nghi kỵ (1976 – 1991)
Dấu mốc quan trọng trong hợp tác Việt Nam – Thái Lan là Tuyên bố chung về việc thiết lập quan hệ ngoại giao hai nước được ký ngày 6/8/1976 (Chulacheep Chinwanno, 1996). Tuy nhiên khi Thái Lan xảy ra cuộc đảo chính quân sự ngày 6/11/1976, Thủ tướng Thanin Kraivichian đã thực hiện chính sách chống lại cộng sản nên ảnh hưởng tới mối quan hệ của hai nước. Những mâu thuẫn, bất đồng quan điểm đã diễn ra vào thời gian này nhất là khi Thái Lan ra lệnh bắt người Việt Nam tản cư (Khachatphay Burutpat, 1978). Cao điểm là từ năm 1979 – 1985, quan hệ Việt Nam – Thái Lan đã trở lại tình trạng đối đầu do “vấn đề Campuchia”. Quan hệ Việt Nam – Thái Lan trở nên xấu đi và có lúc căng thẳng.
Tuy nhiên, hai bên vẫn duy trì mối quan hệ ở mức độ vừa chừng như đón Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch thăm chính thức Thái Lan 1980. Quan hệ Việt Nam – Thái Lan từ năm 1986 đến năm 1991 sự đối đầu đã giảm bớt. Việt Nam tiến hành Đổi mới với đường lối đối ngoại được xác định là phải kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, phấn đấu giữ gìn hòa bình ở Đông Dương, góp phần giữ vững hòa bình ở Đông Nam Á và trên thế giới (Phạm Quang Minh, 2012). Nhiều chuyến thăm hai nước giữa Thái Lan và Việt Nam đã diễn ra trong khoảng thời gian trên.
Thủ tướng Thái Lan Chatichai Choonhavan đã từng nói: “Biến Đông Dương từ chiến trường thành thị trường” (Leszek Buszynski, 1989), và “Việc nhích lại gần với Việt Nam là một trong những ưu tiên hàng đầu của tôi” (Phạm Nguyên Long, Nguyễn Tương Lai, 1998) là minh chứng cho một bước phát triển mới trong quan hệ của Việt Nam – Thái Lan. Đặc biệt khi Hiệp định Hòa bình Pari được ký kết vào năm 1991, sự kiện này đánh dấu về vấn đề Campuchia – nguyên nhân lớn nhất gây căng thẳng giữa Việt Nam và Thái Lan trong hơn một khoảng thời gian dài cơ bản đã được giải quyết bằng biện pháp chính trị và ngoại giao. Việt Nam – Thái Lan đã chuyển từ giai đoạn đối đầu sang giai đoạn hợp tác.
Giai đoạn 1976-1991 khẳng định bản lĩnh và sự nhất quán trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam: kiên định hòa bình, độc lập, tự chủ, lấy đối thoại và hợp tác làm phương thức giải quyết bất đồng. Dù chịu tác động của Chiến tranh lạnh và vấn đề Campuchia, Việt Nam vẫn đặt lợi ích quốc gia – dân tộc, hòa bình và ổn định khu vực lên hàng đầu. Thực tiễn này không chỉ khẳng định giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về “thêm bạn, bớt thù” mà còn tạo nền tảng để quan hệ Việt Nam – Thái Lan chuyển từ đối đầu, nghi kỵ sang hợp tác và tin cậy trong giai đoạn tiếp theo.
Thứ hai, đổi mới tư duy đối ngoại để chuyển hóa đối đầu thành lòng tin (1991 – 2000)
Sau Chiến tranh Lạnh (1991) Việt Nam và Thái Lan đều thúc đẩy quan hệ bằng các hội nghị cấp cao để qua đó xác lập một mục tiêu cụ thể cho quan hệ hợp tác trong tương lai. Tháng 10/1991, Thủ tướng Võ Văn Kiệt sang thăm chính thức Thái Lan. Hai nước đã trao đổi những khó khăn do quá trình lịch sử để lại và đưa ra các phương hướng nhằm cải thiện mối quan hệ. Sự hợp tác thời điểm này đã được Thủ tướng Anand Panyarachun phát biểu: “Thái Lan và Việt Nam đang hướng tới tương lai. Sự ngờ vực trong quá khứ không còn nữa và sự tin tưởng lẫn nhau để hợp tác về chính trị, kinh tế và buôn bán tăng lên. Hai bên cùng có mục đích giống nhau trong việc thiết lập nền hoà bình và hợp tác trong khu vực” (Thông tấn xã Việt Nam, ngày 22/10/1991).
Khi Thủ tướng Thái Lan Anand Panyarachun sang thăm chính thức Việt Nam vào tháng 02/1992 và lên tiếng kêu gọi Mỹ bãi bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam là một việc làm hiếm thấy trong chính sách đối ngoại của Thái Lan, nhất là với một đồng minh truyền thống như Mỹ. Tháng 10/1993 được coi là dấu mốc quan trọng trong tiến trình phát triển quan hệ của Việt Nam – Thái Lan sau thời kỳ dài bị gián đoạn, Tổng Bí thư Đỗ Mười đã sang thăm Thái Lan, khẳng định thiện chí hoà bình hợp tác của Việt Nam và công bố chính sách “4 điểm mới” của Việt Nam đối với khu vực và khẳng định: “Việt Nam chủ trương tăng cường quan hệ nhiều mặt với các nước láng giềng cũng như với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á; sẵn sàng gia nhập ASEAN vào thời điểm thích hợp” (Ban Tuyên giáo Thành ủy TP. Hồ Chí Minh, 25/07/2021)…
Sự kiện Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 7 của ASEAN vào ngày 28/7/1995, mối quan hệ Việt Nam – Thái Lan ngày càng được tăng cường, các chuyến thăm cấp cao giữa hai nước được diễn ra thường xuyên và liên tục. Đến tháng 5/2000, hai bên đã ký Hiệp định miễn thị thực cho công dân hai nước mang hộ chiếu phổ thông, đây là sự kiện có ý nghĩa quan trọng đối với cộng đồng người Việt ở Thái Lan.
Như vậy, quan hệ Thái Lan – Việt Nam từ năm 1991 đến năm 2000 là một bước phát triển cao hơn rất nhiều so với trước. Giai đoạn này đã xây dựng được lòng tin lẫn nhau, giải quyết được nhiều vấn đề tồn tại trong quan hệ hai nước trước kia và quan trọng là đặt nền móng cho quan hệ Thái Lan – Việt Nam giai đoạn sau khi mà hòa bình, ổn định, hợp tác đang là xu thế nổi trội trên thế giới (Hà Lê Huyền, 2017) và góp phần nâng cao vị thế Việt Nam trong khu vực và hội nhập quốc tế.
Thứ ba, chủ động hội nhập quốc tế và chuyển hóa lòng tin thành hợp tác toàn diện (2001-2012).
Trong bối cảnh quan hệ Việt Nam – Thái Lan đang có bước phát triển mạnh mẽ, hai nước không chỉ duy trì đối thoại chính trị thường xuyên mà còn từng bước hình thành sự gắn kết về lợi ích chiến lược.
Ngay sau khi nhậm chức, Thủ tướng Thái Lan Thaksin Shinawatra đã chọn Việt Nam là nước đầu tiên trong hành trình tới thăm các nước ASEAN (từ ngày 25 – 26/4/2001), hai nước đã nhất trí về một khuôn khổ hợp tác ổn định và lâu dài trong thập niên đầu của thế kỷ XXI được ký vào dịp kỷ niệm 25 năm thiết lập quan hệ Thái Lan và Việt Nam (1976 – 2001). Mối quan hệ Thái Lan – Việt Nam đạt tới mức toàn diện và khá sâu sắc thể hiện qua chuyến thăm chính thức Thái Lan của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An vào tháng 9/2003 (Vnexpress,14/9/2003).
Một sự kiện chính trị – ngoại giao quan trọng trong sự phát triển quan hệ hợp tác Việt Nam và Thái Lan là việc tổ chức cuộc họp Nội các chung lần thứ nhất vào tháng 2/2004. Tại Đà Nẵng, hai bên đã cùng nhau ký kết các văn kiện quan trọng (Công an Đà Nẵng, 2004), đánh dấu bước phát triển mới trong quan hệ giữa hai nước và là bằng chứng cho thấy mối quan hệ đối tác đã đi vào chiều sâu. Trong giai đoạn này cuộc Tham vấn Chính trị cấp Thứ trưởng lần thứ nhất giữa hai Bộ Ngoại giao Việt Nam và Thái Lan đã được tổ chức từ ngày 26 – 27/3/2010 tại Bangkok; nhất trí cần tiếp tục duy trì hoạt động của Nhóm công tác chung về hợp tác chính trị – an ninh; cùng nhau phối hợp thúc đẩy sớm khởi động lại hoạt động của Ủy ban liên chính phủ về hợp tác kinh tế và sớm thành lập Ủy ban Thương mại nhằm thúc đẩy thương mại giữa hai nước.
Giai đoạn 2001 – 2012 đánh dấu bước phát triển mới của quan hệ Việt Nam – Thái Lan khi lòng tin chính trị được chuyển hóa thành hợp tác thực chất và toàn diện trên nhiều lĩnh vực, góp phần mở rộng không gian phát triển, nâng cao vị thế đất nước và tăng cường lợi ích đan xen với các đối tác. Những kết quả đạt được trong giai đoạn này khẳng định tính đúng đắn của đường lối đối ngoại của Đảng, đồng thời tạo nền tảng quan trọng mở đường cho việc thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược Việt Nam – Thái Lan năm 2013.
Thứ tư, nâng tầm quan hệ đối tác: từ Đối tác chiến lược đến Đối tác chiến lược tăng cường và Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Thái Lan (2013 – 2026).
Ngày 26/6/2013, nhân chuyến thăm chính thức của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tới Thái Lan, hai nước chính thức thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược và ra tuyên bố chung Việt Nam – Thái Lan (Thông tấn xã Việt Nam, 26/6/2013), đánh dấu quan hệ song phương chuyển từ hợp tác hữu nghị truyền thống sang hợp tác có chiều sâu chiến lược. Đây là lần đầu tiên Việt Nam thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược với một quốc gia ASEAN, đồng thời Thái Lan cũng là nước ASEAN đầu tiên có quan hệ Đối tác chiến lược với Việt Nam. Điều này cho thấy tầm quan trọng đặc biệt của quan hệ song phương trong chiến lược đối ngoại của cả hai nước.
Sau khi thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược năm 2013, quan hệ giữa Việt Nam và Thái Lan bước sang giai đoạn phát triển mới với đặc trưng nổi bật là quá trình củng cố lòng tin chiến lược và từng bước thể chế hóa hợp tác song phương. Chuyến thăm chính thức Việt Nam của Thủ tướng Prayut Chan-o-cha vào năm 2014 mang ý nghĩa chính trị quan trọng bởi đây là một trong những hoạt động đối ngoại nổi bật của Thái Lan sau đảo chính quân sự. Chuyến thăm không chỉ thể hiện việc Thái Lan tiếp tục coi trọng vai trò của Việt Nam trong chính sách đối ngoại khu vực mà còn cho thấy mong muốn của chính quyền Prayut trong việc duy trì ổn định quan hệ với các nước láng giềng nhằm giảm thiểu tác động từ sức ép quốc tế sau đảo chính. Về phía Việt Nam, việc duy trì tiếp xúc cấp cao với chính quyền mới của Thái Lan phản ánh cách tiếp cận đối ngoại thực dụng, nhất quán với nguyên tắc không can thiệp công việc nội bộ và ưu tiên ổn định khu vực của ASEAN. Chính sự hội tụ về lợi ích chiến lược và nhận thức khu vực này đã trở thành nền tảng quan trọng thúc đẩy quan hệ Việt Nam – Thái Lan nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược tăng cường vào năm 2019. Việc nâng cấp này mang tính chiến lược sâu sắc hơn, đặc biệt trong các lĩnh vực an ninh, kết nối kinh tế và hợp tác khu vực.
Quan hệ hai nước được nâng cấp cao nhất đó là Đối tác Chiến lược toàn diện nhân chuyến thăm chính thức Việt Nam của Thủ tướng Paetongtarn Shinawatra từ ngày 15 – 16/5/2025. Hai nước nhất trí khẩn trương xây dựng Chương trình hành động giai đoạn 2025-2030 dựa trên 3 trụ cột chính: đối tác vì hòa bình bền vững, đối tác vì phát triển bền vững, đối tác vì tương lai bền vững (Báo điện tử Chính phủ, 16/5/2025). Sự nâng cấp này phản ánh mức độ tin cậy chính trị ngày càng sâu sắc, sự gắn kết lợi ích chiến lược ngày càng chặt chẽ và nhu cầu phối hợp toàn diện hơn giữa hai quốc gia trong bối cảnh khu vực, quốc tế biến động mạnh mẽ và cũng cho thấy xu hướng tăng cường liên kết nội khối ASEAN trong điều kiện cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt và cấu trúc khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tiếp tục định hình sâu sắc hơn.
Nhận lời mời của Thủ tướng Anutin Charnvirakul, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã có chuyến thăm chính thức Thái Lan từ ngày 27 đến ngày 29/5/2026 nhằm thúc đẩy quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện giữa hai nước phát triển sâu sắc và thực chất hơn (Báo điện tử Chính phủ, 22/5/2026). Đây là chuyến thăm đầu tiên đến một nước ASEAN của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước trên cương vị mới và đúng vào dịp hai nước kỷ niệm 50 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao (6/8/1976-6/8/2026).
Nửa thế kỷ phát triển quan hệ Việt Nam – Thái Lan (1976-026) là minh chứng sinh động cho giá trị bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại và sự vận dụng sáng tạo của Đảng trong thời kỳ mới. Thành tựu quan hệ song phương khẳng định tính đúng đắn của đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa và chủ trương xây dựng nền đối ngoại, ngoại giao toàn diện, hiện đại theo tinh thần Đại hội XIV. Những kết quả đạt được không chỉ góp phần giữ vững môi trường hòa bình, tranh thủ nguồn lực cho phát triển đất nước và nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam, mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược, bản lĩnh và năng lực lãnh đạo của Đảng trong lĩnh vực đối ngoại.
4. Một số bài học kinh nghiệm
Nửa thế kỷ phát triển quan hệ Việt Nam – Thái Lan, thành tựu đó không chỉ phản ánh sự trưởng thành của quan hệ song phương mà còn là minh chứng sinh động cho tính đúng đắn của đường lối đối ngoại do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Từ thực tiễn này có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm quan trọng cho công tác đối ngoại và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn mới.
Một là, vận dụng và phát huy sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại trong bối cảnh mới.
Hành trình phát triển quan hệ Việt Nam – Thái Lan là minh chứng sinh động cho giá trị trường tồn của tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển. Từ tư tưởng “thêm bạn, bớt thù”, “Việt Nam sẵn sàng là bạn với tất cả các nước”, đến nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và giải quyết bất đồng bằng biện pháp hòa bình, tất cả đều được vận dụng sáng tạo trong quá trình xây dựng và phát triển quan hệ với Thái Lan. Trong bối cảnh thế giới đang biến đổi nhanh chóng, tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hoạt động đối ngoại của Việt Nam.
Hai là, kiên định và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đối ngoại.
Thực tiễn phát triển quan hệ Việt Nam – Thái Lan cho thấy trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng phải kiên định nguyên tắc Đảng lãnh đạo toàn diện, trực tiếp đối với công tác đối ngoại; bảo đảm sự thống nhất giữa đối nội và đối ngoại, giữa lợi ích quốc gia – dân tộc với trách nhiệm quốc tế. Đây là nhân tố quyết định để Việt Nam giữ vững độc lập, tự chủ và nâng cao vị thế trên trường quốc tế.
Ba là, phát huy sức mạnh tổng hợp của đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân.
Một trong những nhân tố quan trọng làm nên thành công của quan hệ Việt Nam – Thái Lan là sự phối hợp đồng bộ giữa các kênh đối ngoại. Bên cạnh các chuyến thăm cấp cao và cơ chế hợp tác giữa hai Chính phủ, quan hệ giữa các đảng chính trị, cơ quan lập pháp, địa phương, doanh nghiệp và các tổ chức nhân dân ngày càng được mở rộng, góp phần củng cố lòng tin và tạo nền tảng xã hội vững chắc cho quan hệ song phương. Việc phát huy sức mạnh tổng hợp là yêu cầu khách quan nhằm tạo nên thế trận đối ngoại toàn diện, qua đó nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc và tăng cường vị thế quốc tế của đất nước.
Bốn là, chủ động đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc về đối ngoại trên không gian mạng.
Các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị ngày càng lợi dụng không gian mạng để xuyên tạc đường lối đối ngoại của Đảng, phủ nhận thành tựu đối ngoại của đất nước, kích động tâm lý hoài nghi trong xã hội và chia rẽ quan hệ giữa Việt Nam với các đối tác quốc tế. Vì vậy, cần tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin đối ngoại, nâng cao chất lượng truyền thông chính sách, chủ động cung cấp thông tin chính xác, kịp thời và tăng cường đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Đây không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan chức năng mà còn là trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên và công dân trong sự nghiệp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
5. Kết luận
Có thể khẳng định, hành trình từ kiến tạo lòng tin đến việc thiết lập Đối tác chiến lược toàn diện giữa Việt Nam và Thái Lan không chỉ là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử quan hệ song phương, mà còn là minh chứng thực tiễn sinh động, có sức thuyết phục cao về giá trị bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh và tính đúng đắn, sáng tạo của đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế. Trong bối cảnh tình hình khu vực và thế giới tiếp tục biến động nhanh chóng, phức tạp và khó dự báo, quan hệ Việt Nam – Thái Lan tiếp tục khẳng định giá trị thời đại của đường lối đối ngoại Việt Nam lấy lợi ích quốc gia – dân tộc là cốt lõi, đặt đối thoại và hợp tác làm phương thức chủ đạo, đồng thời tích cực đóng góp vào hòa bình, ổn định và thịnh vượng chung của khu vực. Đây không chỉ là nền tảng quan trọng để hai nước tiếp tục đưa quan hệ đi vào chiều sâu, ổn định và hiệu quả, mà còn là minh chứng rõ ràng cho bản lĩnh, trí tuệ và tầm nhìn chiến lược của Đảng Cộng sản Việt Nam trong hoạch định và triển khai đường lối đối ngoại thời kỳ mới.
Tài liệu tham khảo:
Ban Tuyên giáo Thành ủy TP. Hồ Chí Minh (25/07/2021). Gia nhập ASEAN – bước đột phá trong đổi mới tư duy đối ngoại của Việt Nam. https://hcmcpv.org.vn/tin-tuc/gia-nhap-asean-buoc-dot-pha-trong-doi-moitu-duy-doi-ngoai-cua-viet-nam-1491881281.
Báo điện tử Chính phủ (16/5/2025). Tuyên bố chung về việc nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lược toàn diện giữa Việt Nam và Thái Lan. https://baochinhphu.vn/tuyen-bo-chung-ve-viec-nang-cap-quan-he-len-doi-tac-chien-luoc-toan-dien-giua-viet-nam-va-thai-lan-102250516200904105.htm, truy cập ngày 17/5/2026.
Báo điện tử Chính phủ (22/5/2026). Đưa quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Thái Lan lên tầm cao mới. https://baochinhphu.vn/dua-quan-he-doi-tac-chien-luoc-toan-dien-viet-nam-thai-lan-len-tam-cao-moi-102260522111512233.ht, truy cập ngày 23/5/2026.
Công an Đà Nẵng (2004). Mối quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam và Thái Lan không ngừng phát triển. Nhân cuộc họp Nội các
Chung kết Việt Nam – Thái Lan lần thứ nhất diễn ra tại thành phố Đà Nẵng.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, tr.168-169.
Hồ Chí Minh (2011a). Toàn tập (Tập 2). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, tr.320.
Hồ Chí Minh (2011b). Toàn tập (Tập 15). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, tr.675
Hồ Chí Minh (2011c). Toàn tập (Tập 13). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, tr.453.
Hồ Chí Minh (2011d). Toàn tập (Tập 15). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, tr.256.
Hồ Chí Minh (2011e). Toàn tập (Tập 18). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, tr.555.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập II. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, tr.374.
Hà Lê Huyền (2017). Quan hệ Thái Lan – Việt Nam từ năm 1991 đến 2011. (Luận án Tiến sĩ, Hà Nội: Học viện Khoa học Xã hội, tr. 62).
Phạm Nguyên Long, Nguyễn Tương Lai (1998). Lịch sử Thái Lan, Hà Nội: NXB Khoa học Xã hội, tr. 405.
Phạm Quang Minh (2012). Chính sách đối ngoại đổi mới của Việt Nam (1986–2010). NXB Thế giới, tr. 53.
Thông tấn xã Việt Nam (1991). Bản tin tham khảo, ngày 22/10/1991.
Thông tấn xã Việt Nam (26/6/2013). Tuyên bố chung giữa Việt Nam và Thái Lan. http://www.vietnamplus.vn/tuyen-bo-chung-hai-nuoc-viet-nam-va-thai-lan/208462.vnp.
Vnexpress (14/9/2003). Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An thăm Thái Lan. https://vnexpress.net/chu-tich-quoc-hoi-nguyen-van-an-tham-thai-lan-1963929.html.
Chulacheep Chinwanno. (1996). Hai thế kỷ quan hệ Thái Lan – Việt Nam: từ xung đột đến hợp tác hiện nay. Hội thảo kỷ niệm 20 năm quan hệ giữa Thái Lan và Việt Nam (1976 – 1996). Nxb Trường Đại học Thammasat, tr.19.
Khachatphay Burutpat (1978). Việt Nam tản cư. Bangkok: Nxb Duongkhamon, tr.166-167.
Leszek Buszynski (1989). New Aspirations and Old Constraints in Thailand’s Foreign Policy. Asian Survey, Vol.29, No.11, tr. 1057- 1072.



