Innovative initiatives and governance models in public sector management and administration: evidence from selected provinces
PGS.TS Hoàng Anh
PGS.TS. Trần Ngọc Dũng
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
(Quanlynhanuoc.vn) – Bằng phương pháp phân tích tài liệu, đối sánh chính sách và nghiên cứu trường hợp, bài viết hệ thống hóa bức tranh đổi mới sáng tạo ở một số địa phương của Việt Nam, như: Quảng Ninh, Huế, Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh và chỉ ra những kết quả lớn trong quá trình kiến tạo giá trị công, nâng cao hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính công, minh bạch dữ liệu, tăng cường tương tác giữa người dân và chính quyền. Tuy nhiên, còn một số vấn đề tồn đọng ở các địa phương, như chênh lệch năng lực số, phân mảnh dữ liệu, tư duy quản lý thiên về hành chính, thiếu khung đo lường chuyên biệt. Từ đó, bài viết đề xuất một số hàm ý nhằm hoàn thiện hệ sinh thái đổi mới khu vực công, tiến tới xây dựng khung bộ chỉ số đo lường phù hợp với Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số.
Từ khóa: Đổi mới sáng tạo; chính phủ số; dữ liệu số; đô thị thông minh; quản trị công.
Abstract: Employing a mixed-methods approach that integrates document analysis, policy comparison, and case study research, this article systematically reconstructs the landscape of public sector innovation across several representative provinces in Vietnam, including Quảng Ninh, Huế, Đà Nẵng, and Ho Chi Minh City. The analysis highlights substantial achievements in public value creation, improved administrative procedure efficiency, enhanced data transparency, and strengthened interactive governance between citizens and state authorities. Notwithstanding these advances, the study identifies a set of persistent structural and institutional constraints at the subnational level, including disparities in digital capacity, data fragmentation, the predominance of an administrative-centric governance paradigm, and the absence of a context-sensitive and specialized measurement framework. Therefore, the article advances several policy-relevant recommendations aimed at consolidating and refining the public sector innovation ecosystem, thereby contributing to the development of a tailored indicator framework suited to Vietnam’s evolving digital transformation period.
Key words: Innovation; Digital Government; Digital Data; Smart Cities; Public Governance.
1. Mở đầu
Trong bối cảnh chuyển đổi số sâu rộng và yêu cầu hiện đại hóa nền hành chính ngày càng trở nên cấp bách, đổi mới sáng tạo khu vực công không còn là lựa chọn mang tính khuyến nghị mà đã trở thành một đòi hỏi cấu trúc của quản trị quốc gia hiện đại. Cải cách hành chính không chỉ còn hướng vào đơn giản hóa thủ tục, tinh gọn đầu mối và chuẩn hóa quy trình, mà là tái thiết kế phương thức quản lý, điều hành trên nền tảng dữ liệu, công nghệ số, hợp tác liên ngành và lấy người dân làm trung tâm.
Ở Việt Nam, định hướng phát triển khu vực công theo hướng đổi mới, số hóa và kiến tạo đã được thúc đẩy mạnh, nhưng đặc biệt rõ nét từ sau Nghị quyết số 17/NQ-CP của Chính phủ về phát triển Chính phủ điện tử và Chương trình chuyển đổi số quốc gia theo Quyết định số 749/QĐ-TTg. Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị cuối năm 2024 tiếp tục đưa khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành đột phá quan trọng hàng đầu, đồng thời nhấn mạnh vai trò của thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ chiến lược trong đổi mới phương thức quản trị quốc gia.
Đổi mới sáng tạo trong quản lý, điều hành khu vực công ở Việt Nam không chỉ ở cấp trung ương qua các nền tảng số quốc gia, các cơ sở dữ liệu dùng chung và các công cụ điều hành tập trung, mà còn được hiện thực hóa ở nhiều địa phương qua các mô hình “một cửa” hiện đại, trung tâm điều hành thông minh, siêu ứng dụng phục vụ công dân, kho dữ liệu mở và các giải pháp phản hồi hiện trường theo thời gian thực. Tuy nhiên, bức tranh này vẫn còn phân tán; thành tựu chưa đồng đều; thiếu tổng kết đầy đủ dưới góc độ quản trị công; và quan trọng hơn, chưa có một khung đánh giá đủ hệ thống để phân biệt rõ giữa số hóa thủ tục với đổi mới thực chất phương thức điều hành. Đây chính là khoảng trống khiến việc tổng hợp, phân tích các mô hình và rút ra các hàm ý chính sách có ý nghĩa cả về lý luận lẫn thực tiễn. Do đó, bài viết nhìn lại bức tranh đổi mới sáng tạo ở một số địa phương của Việt Nam để thấy được những kết quả, hạn chế và tìm ra những phương cách phù hợp để thúc đẩy hiệu quả đổi mới sáng tạo khu vực công.
2. Các sáng kiến và mô hình đổi mới sáng tạo
Đổi mới sáng tạo trong khu vực công ở Việt Nam được dẫn dắt bởi một kiến trúc chính sách xuyên suốt và ngày càng rõ ràng. Nghị quyết số 17/NQ-CP năm 2019 đặt nền tảng cho phát triển Chính phủ điện tử; Quyết định số 749/QĐ-TTg năm 2020 xác lập Chương trình chuyển đổi số quốc gia với ba trụ cột: chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Nghị định số 47/2020/NĐ-CP về quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước, Nghị định số 47/2024/NĐ-CP về cơ sở dữ liệu quốc gia, Luật Dữ liệu năm 2024 và Nghị quyết số 57-NQ/TW tạo thêm nền tảng thể chế để dịch chuyển từ mô hình số hóa hành chính sang mô hình quản trị dựa trên dữ liệu, chia sẻ liên thông với bốn đặc trưng linh hoạt trong chiến lược ứng phó khủng hoảng, điều hành kinh tế vĩ mô, cấu trúc trong cải cách hành chính và vận hành dựa trên công nghệ (Nguyễn Bá Chiến và Trương Quốc Việt, 2026).
Từ chiến lược trên, các mô hình nổi bật ở các địa phương có triết lý vận hành chung nhưng vẫn đa dạng trong cách triển khai. Quảng Ninh tiêu biểu trong đổi mới tổ chức cung ứng dịch vụ hành chính, là một trong những địa phương đầu tiên thí điểm mô hình Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh năm 2014 và hoàn thiện mô hình này trên cơ sở kiểm soát quy trình tập trung, giảm thời gian giải quyết và tăng tính minh bạch của thủ tục hành chính (Việt Nga, 2021).
Huế nổi bật ở cách tiếp cận nền tảng số đô thị và tương tác công dân qua Hue-S, kết hợp với Trung tâm giám sát, điều hành đô thị thông minh và cơ chế xử lý phản ánh hiện trường; từ đó biến ứng dụng số thành một công cụ vừa phục vụ người dân vừa hỗ trợ điều hành của chính quyền (P.GSTTM&TT, 2025). Đà Nẵng là điển hình của tích hợp giữa chính quyền số, đô thị thông minh và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Đà Nẵng ban hành Đề án thành phố thông minh năm 2018, Nghị quyết số 05-NQ/TU năm 2021 của Thành ủy về chuyển đổi số, đồng thời, duy trì vị trí dẫn đầu nhiều năm về chỉ số chuyển đổi số cấp tỉnh. Đổi mới không dừng ở việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến, mà còn bao gồm phát triển dữ liệu, điều hành đô thị và thúc đẩy các lĩnh vực công nghệ mới (UBND thành phố Đà Nẵng, 2021). Trong khi đó, TP. Hồ Chí Minh là mô hình đổi mới có quy mô lớn, gắn với Đề án đô thị thông minh, kho dữ liệu dùng chung, cổng dữ liệu mở, các kênh tương tác, như Tổng đài 1022 và nỗ lực tái cấu trúc quy trình hành chính trên quy mô đô thị đặc biệt (QA. 2025).
Điểm chung của các mô hình nêu trên là sự dịch chuyển khỏi logic “tin học hóa một phần”, tiến tới tái tổ chức hoạt động công vụ theo cụm chức năng, chuỗi dữ liệu và trải nghiệm của người dân. Tuy nhiên, hướng tập trung, mức độ triển khai và hiệu quả của các mô hình không giống nhau. Quảng Ninh mạnh về tổ chức hành chính tập trung; Huế mạnh về nền tảng số tương tác; Đà Nẵng mạnh về tích hợp chiến lược số và đổi mới đô thị; TP. Hồ Chí Minh mạnh về quy mô dữ liệu và tính liên thông. Sự khác biệt này tạo nên nguồn tư liệu thực tiễn phong phú để nhận diện các dạng đổi mới khác nhau trong khu vực công Việt Nam (xem Bảng 1).
Bảng 1. Khái quát một số mô hình đổi mới sáng tạo tiêu biểu ở địa phương
| Địa phương | Công cụ/ mô hình nổi bật | Kết quả/ Tác động chính | Đặc trưng đổi mới |
| Quảng Ninh | Trung tâm Phục vụ hành chính công; mô hình “5 tại chỗ”; dịch vụ công trực tuyến tập trung | Kiểm soát quy trình tập trung, giảm thời gian xử lý, tăng tính minh bạch | Đổi mới tổ chức cung ứng dịch vụ công |
| Huế | Hue-S; IOC; phản ánh hiện trường; tích hợp tiện ích đô thị thông minh | Tăng tương tác chính quyền – công dân; hỗ trợ điều hành theo thời gian thực | Đổi mới nền tảng số và tương tác công dân |
| Đà Nẵng | Chính quyền số; đô thị thông minh; IOC; chiến lược dữ liệu và hạ tầng số | Duy trì vị trí dẫn đầu DTI; tích hợp chuyển đổi số với đổi mới phát triển đô thị | Đổi mới tích hợp giữa quản trị số và phát triển đô thị |
| TP. Hồ Chí Minh | Đề án đô thị thông minh; kho dữ liệu dùng chung; cổng dữ liệu mở; tổng đài 1022 | Tăng liên thông dữ liệu, mở rộng kênh phản hồi, hỗ trợ quản trị đô thị quy mô lớn | Đổi mới quy mô lớn dựa trên dữ liệu và đa kênh phục vụ |
3. Kết quả và tác động của các mô hình đổi mới
Những nỗ lực đổi mới trong khu vực công, đặc biệt là từ những mô hình tiêu biểu đã góp phần tạo ra các dấu hiệu tích cực cả ở kết quả quản trị lẫn vị thế đổi mới của Việt Nam trên trường quốc tế. Việt Nam đứng thứ 48 thế giới về Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) năm 2022 và vươn lên vị trí 44 năm 2025 (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025). Cuối năm 2024, số lượng người dùng VNeID là hơn 55 triệu. Chính phủ cũng xác lập thêm 4 cơ sở dữ liệu quốc gia, giúp Việt Nam có 10 cơ sở (5 đang khai thác, 3 đang triển khai, 2 bắt đầu triển khai) (Bộ Thông tin và Truyền thông, 2025a).
Năm 2025, có 1.880 thủ tục hành chính (trên tổng 5.896) với 2.991 thành phần hồ sơ được đề xuất khai thác từ cơ sở dữ liệu. Hiện 1.740 trường thông tin thuộc 21 cơ sở dữ liệu đã sẵn sàng chia sẻ và kết nối (Bộ Nội vụ, 2025). Cổng dịch vụ công quốc gia có 3.403 thủ tục cung cấp trực tuyến (1.392 thủ tục của người dân – 694 trực tuyến toàn trình, 2.011 thủ tục của doanh nghiệp – 1.088 trực tuyến toàn trình), 637 triệu hồ sơ đồng bộ, hơn 94 triệu hồ sơ trực tuyến (Bộ Thông tin và Truyền thông, 2025b).
Tại các mô hình địa phương điển hình, đổi mới sáng tạo tạo ra tác động trực tiếp, cụ thể. Quảng Ninh thiết kế lại khâu tiếp nhận và xử lý thủ tục hành chính theo mô hình tập trung, tạo dựng hình ảnh chính quyền phục vụ, đồng thời bảo đảm tính kiểm soát và công khai quy trình. Tỉnh nhiều lần được nhấn mạnh như mô hình tiên phong trong tổ chức trung tâm hành chính công cấp tỉnh và đã chứng minh rằng đổi mới hành chính không chỉ là cải tiến thủ tục, mà còn là tái tổ chức thiết chế để phục vụ tốt hơn (Trịnh Thị Xuyến, 2024).
Với Huế, đổi mới nổi bật ở năng lực kết nối giữa nền tảng số với quản trị đô thị và phản hồi của người dân. Hue-S không đơn thuần là một ứng dụng hành chính, mà đã phát triển thành một cổng tích hợp tương tác công dân, phản ánh hiện trường, cảnh báo, thanh toán và cung cấp thông tin. Hue-S đã được nâng cấp để phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp với nhiều tính năng như Tương tác 2 cấp, Giám sát nhiệm vụ, Nền tảng làm việc số, Họp không giấy tờ, Sổ tay 2 cấp để giúp cán bộ và người dân xử lý công việc hiệu quả. Huế đã tái sử dụng 100% dữ liệu số hóa để giảm thiểu thủ tục hành chính; 100% quy trình nghiệp vụ nội bộ được số hóa, 78,04% kết quả giải quyết thủ tục hành chính được số hóa (Trung tâm truyền thông KH&CN, 2025).
Đà Nẵng cho thấy đổi mới sáng tạo trong khu vực công có thể trở thành nền tảng cho chiến lược phát triển đô thị tổng thể. Đây là địa phương đầu tiên đưa ra lấy ý kiến công khai Dự thảo Đề án về chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và phát triển khoa học công nghệ giai đoạn 2026-2030. Đề án “Đà Nẵng – thành phố đổi mới sáng tạo” hướng đến việc kết nối các khu công nghệ cao, khu công nghệ thông tin tập trung với các trung tâm logistics, cảng biển, sân bay và Khu thương mại tự do đang được hình thành (Đào Ngọc Anh, 2025). Đà Nẵng cũng công bố Bộ chỉ số đánh giá, xếp hạng chuyển đổi số để nâng cao chất lượng ứng dụng công nghệ số, chuyển đổi số trong các cơ quan nhà nước, góp phần nâng cao chỉ số chuyển đổi số của thành phố (Ngô Anh Văn, 2025). Năng lực số hóa và điều hành của chính quyền không chỉ dừng ở vài dự án riêng lẻ mà đã trở thành năng lực tổ chức tương đối ổn định. Thêm nữa, tầm nhìn gắn chuyển đổi số với đô thị thông minh, công nghiệp công nghệ cao và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo giúp Đà Nẵng tạo ra lợi thế về điều phối chính sách liên ngành và định vị chiến lược rõ ràng hơn so với nhiều địa phương khác (Ngô Anh Văn, 2026).
Kết quả đáng chú ý nhất của TP. Hồ Chí Minh là năng lực tổ chức đổi mới ở quy mô lớn: xây dựng kho dữ liệu dùng chung, vận hành cổng dữ liệu mở, thiết lập kênh tương tác 1022, đồng thời, duy trì cải cách thủ tục hành chính, đào tạo nguồn nhân lực và thử nghiệm những công cụ quản lý số mới. Hệ thống văn bản thành phố đã được liên thông, chia sẻ, kết nối với 78.977 đơn vị trung ương và địa phương khác nhau (Phạm Thị Thùy Linh, 2025). Giữa năm 2025, thành phố đã tái cấu trúc, phê duyệt 1.769 quy trình nội bộ, giúp giảm 3.564 giờ làm việc, giảm 1-2 bước trong toàn bộ quy trình (TP. Hồ Chí Minh, 2025). Thành phố cho thấy rằng, ở các đô thị đặc biệt, đổi mới sáng tạo khu vực công cần được đặt trong mối liên hệ với quản trị đô thị, điều phối đa ngành, phân tích dữ liệu lớn và khả năng xử lý nhu cầu công dân đa dạng theo thời gian thực, khiến chỉ số hài lòng của người dân tăng liên tục: 78,38% (năm 2022), 81,78% (2023) và 83,85% (2024) (Bộ Nội vụ, 2025).
Có thể thấy, các sáng kiến và mô hình đổi mới sáng tạo khu vực công ở Việt Nam đang tạo ra ít nhất bốn nhóm kết quả chính. Thứ nhất, nâng cao hiệu quả và tốc độ xử lý công việc hành chính. Thứ hai, tăng cường minh bạch, khả năng giám sát và truy vết quy trình. Thứ ba, mở rộng sự tham gia của người dân vào quá trình phản ánh, giám sát và đồng kiến tạo dịch vụ công. Thứ tư, hình thành năng lực học hỏi thể chế ở cấp địa phương thông qua việc thử nghiệm, điều chỉnh và chuẩn hóa các cách làm mới. Đây chính là những kết quả có ý nghĩa quan trọng đối với việc hiện đại hóa quản trị công ở Việt Nam.
4. Các nhân tố thành công chủ yếu
Các trường hợp điển hình cho thấy, thành công của đổi mới sáng tạo trong quản lý, điều hành khu vực công không xuất hiện ngẫu nhiên, mà gắn với một số điều kiện nền tảng.
Đầu tiên là cam kết chính trị và vai trò của người đứng đầu. Những địa phương đi nhanh và có kết quả rõ thường là những nơi chuyển đổi số và đổi mới quản trị được đặt vào vị trí ưu tiên chiến lược, được thể chế hóa bằng nghị quyết, kế hoạch, đề án và được lãnh đạo trực tiếp chỉ đạo. Điều này phù hợp với nhận định của OECD rằng năng lực đổi mới của chính phủ phụ thuộc rất lớn vào mục tiêu, khả năng điều phối và mức độ sẵn sàng của hệ thống lãnh đạo trong việc bảo trợ cho các thử nghiệm và thay đổi (Misha Kaur, Hearher Buisman, Alex Bekker, Chad McCulloch. 2022).
Yếu tố thứ hai là tính liên tục và đồng bộ của thể chế. Những mô hình hiệu quả không chỉ có một sáng kiến đơn lẻ, mà thường hình thành trên một chuỗi chính sách nối tiếp nhau: từ định hướng chiến lược, thiết lập nền tảng, ban hành quy chế, tổ chức thực hiện, đến giám sát và điều chỉnh. Các địa phương đều cho thấy khi đổi mới được đặt trong một hành lang thể chế ổn định, các công cụ công nghệ mới có điều kiện để phát huy tác dụng và được tích hợp vào hoạt động thường xuyên của bộ máy. Ví dụ, TP. Hồ Chí Minh đã ban hành 100 văn bản năm 2021; 105 (2022); 162 (2023); 368 (2024) và 87 (đến tháng 3/2025), cho thấy sự xuyên suốt và tập trung trong chính sách để đảm bảo tính hiệu quả trong thúc đẩy đổi mới sáng tạo (Hoàng Anh, 2025).
Yếu tố thứ ba là hạ tầng số và quản trị dữ liệu. Dữ liệu là điều kiện nền cho quản trị số, nhưng điều quan trọng hơn là khả năng chuẩn hóa, liên thông, chia sẻ và tái sử dụng dữ liệu. Những mô hình thành công gắn với việc tạo ra kho dữ liệu dùng chung, cơ sở dữ liệu liên thông hoặc nền tảng tổng hợp thông tin để phục vụ cả người dân lẫn cơ quan nhà nước. Các sáng kiến về dịch vụ công trực tuyến chỉ thực sự tạo ra bước nhảy chất lượng khi đi cùng với các dữ liệu về định danh, hộ tịch, đất đai, doanh nghiệp và các cơ chế kết nối giữa các cơ quan.
Yếu tố thứ tư là năng lực tổ chức và năng lực số của đội ngũ công chức. Công nghệ không tự động tạo ra đổi mới nếu bộ máy không có khả năng hấp thụ, vận hành và cải tiến quy trình tương ứng. Những địa phương có kết quả tốt thường đồng thời đầu tư cho đào tạo, chuẩn hóa quy trình và phân công trách nhiệm rõ ràng. TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2017 – 2024 mở hơn 150 lớp về công nghệ thông tin, quản trị dữ liệu cho hơn 10.000 lượt cán bộ, công chức, viên chức (Phạm Thị Thùy Linh, 2025).
Yếu tố thứ năm là mức độ lấy người dân làm trung tâm và thiết kế dịch vụ theo nhu cầu sử dụng. Hue-S, Tổng đài 1022, các cổng dữ liệu mở hay mô hình trung tâm hành chính công thành công một phần quan trọng vì chúng giải quyết vấn đề từ góc nhìn người dùng: cần dễ truy cập, dễ theo dõi, dễ phản hồi và nhận được kết quả rõ ràng. Đây là điểm rất quan trọng bởi đổi mới sáng tạo khu vực công, xét đến cùng, không thể chỉ đánh giá theo số lượng phần mềm hay văn bản được ban hành, mà phải đánh giá bằng năng lực giải quyết vấn đề công và cải thiện trải nghiệm công dân.
Yếu tố thứ sáu là hợp tác công – tư và học hỏi liên địa phương là các nhân tố hỗ trợ đáng kể cho thành công của đổi mới. Nhiều mô hình được thúc đẩy bởi sự tham gia của doanh nghiệp công nghệ, đơn vị tư vấn, hiệp hội chuyên môn hoặc mạng lưới chia sẻ kinh nghiệm giữa các địa phương. Trong điều kiện khu vực công không thể tự mình sở hữu mọi công nghệ và tri thức cần thiết, năng lực hợp tác trở thành một biến số quan trọng của đổi mới. Quảng Ninh xây dựng hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính mới qua hợp tác với FPT IS, liên thông với Trung tâm tích hợp dữ liệu tỉnh để xác thực, chuyển đổi, đồng bộ dữ liệu, đơn giản hóa việc giải quyết thủ tục cho người dân (Nguyễn Thanh, 2025). Từ góc nhìn này, đổi mới sáng tạo khu vực công nên được hiểu như một hệ sinh thái mở, nơi nhà nước giữ vai trò dẫn dắt nhưng không độc quyền trong việc tạo ra giải pháp.
5. Những hạn chế và vấn đề đặt ra
Mặc dù có những kết quả tích cực, đổi mới sáng tạo trong quản lý, điều hành khu vực công ở Việt Nam vẫn đối diện với nhiều hạn chế (Nguyễn Bá Chiến và Trương Quốc Việt, 2026).
Thứ nhất, tính không đồng đều giữa các cấp, các ngành và các địa phương. Trong khi một số địa phương đã hình thành mô hình tương đối hoàn chỉnh về trung tâm hành chính công, đô thị thông minh hay quản trị dữ liệu, nhiều nơi khác vẫn chủ yếu dừng ở số hóa thủ tục hoặc triển khai rời rạc theo từng ngành. Điều này khiến bức tranh đổi mới khu vực công mang tính “điểm sáng cục bộ” nhiều hơn là một mặt bằng năng lực đồng đều trên toàn hệ thống.
Thứ hai, tình trạng phân mảnh dữ liệu và phân mảnh nền tảng ứng dụng. Khi mà các địa phương đều có ứng dụng riêng như Hue-S, DaNang Smart City, Công dân số TPHCM, iHanoi thì sẽ gây ra tình trạng phân mảnh, cát cứ dữ liệu; mỗi người dân sẽ phải tải và sử dụng quá nhiều app cho cùng một dịch vụ, gây ra tâm lý không hài lòng cho người sử dụng; và sự lãng phí trong đầu tư. Sự tồn tại đồng thời của nhiều ứng dụng địa phương, dù phản ánh tính chủ động của chính quyền cơ sở, nhưng cũng làm nảy sinh hiện tượng “mỗi nơi một app”, gây lãng phí nguồn lực, tạo gánh nặng sử dụng cho người dân và làm tăng rủi ro về bảo mật, chuẩn dữ liệu và khả năng liên thông. Điều này cho thấy chuyển đổi số không đồng nghĩa với tăng số lượng nền tảng, mà là tăng khả năng tích hợp và dùng chung.
Thứ ba, độ trễ thể chế và tâm lý sợ trách nhiệm trong bộ máy. Một số sáng kiến đổi mới gặp khó không phải vì thiếu công nghệ, mà vì thiếu cơ chế pháp lý đủ linh hoạt để thử nghiệm, điều chỉnh và mở rộng (Nguyễn Thị Tố Uyên, 2025). Tâm lý e ngại rủi ro ở một bộ phận cán bộ, công chức khiến nhiều cơ quan có xu hướng chọn giải pháp an toàn, tuân thủ máy móc hơn là mạnh dạn tái thiết kế quy trình. Khi đổi mới không được bảo vệ bằng thể chế và văn hóa tổ chức phù hợp, sáng kiến dễ bị thu hẹp thành những cải tiến kỹ thuật ngắn hạn.
Thứ tư, khoảng cách về năng lực số giữa cán bộ khu vực công và giữa các nhóm công dân. Nhiều địa phương nỗ lực mở rộng dịch vụ công trực tuyến nhưng người dân, đặc biệt ở khu vực còn hạn chế về điều kiện hạ tầng và kỹ năng số, chưa thể tham gia một cách bình đẳng. Về phía đội ngũ công chức, quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy, sáp nhập đơn vị hành chính và tái cơ cấu vị trí việc làm cũng đặt ra thách thức mới về phân bổ nhân lực, chất lượng nghiệp vụ và khả năng thích ứng với môi trường số.
Thứ năm, điểm nghẽn mang tính phương pháp luận, là thiếu một khung đo lường chuyên biệt cho đổi mới sáng tạo khu vực công. Việt Nam hiện có nhiều chỉ số liên quan như GII, PII, SIPAS, PAR Index hay DTI, song mỗi bộ chỉ số mới phản ánh một lát cắt nhất định: năng lực đổi mới quốc gia, hiện trạng đổi mới địa phương, mức độ hài lòng, cải cách hành chính hoặc chuyển đổi số. Chưa có công cụ nào đủ sức đo trực tiếp đổi mới trong quản lý, điều hành khu vực công theo nghĩa đầy đủ; tức chưa bao quát đồng thời các chiều cạnh về thể chế, tổ chức, dữ liệu, văn hóa, kết quả và giá trị công. Vì thế, các địa phương có thể đạt điểm cao ở một số chỉ số kỹ thuật mà vẫn chưa chắc đã đạt được đổi mới thực chất trong năng lực điều hành.
6. Hàm ý chính sách đối với giai đoạn tới và việc xây dựng bộ chỉ số
Từ các phân tích trên, bài viết cho rằng, việc tiếp tục thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong quản lý, điều hành khu vực công ở Việt Nam cần gắn chặt với yêu cầu xây dựng một khung đo lường chuyên biệt và có khả năng ứng dụng thực tiễn.
Trước hết, khung đo lường này cần tiếp cận đổi mới như một quá trình gồm đầu vào, năng lực, quá trình, đầu ra và tác động. Nếu chỉ đo kết quả đầu ra như số lượng dịch vụ công trực tuyến hay số hồ sơ được xử lý trên môi trường số, thì rất dễ bỏ qua những yếu tố nền tảng như văn hóa tổ chức, năng lực chia sẻ dữ liệu, vai trò lãnh đạo hay mức độ học hỏi thể chế.
Thứ hai, bộ chỉ số nên được thiết kế theo hướng đa tầng: cá nhân – tổ chức – hệ thống. Ở cấp cá nhân, cần quan tâm đến năng lực số, động lực đổi mới và khả năng giải quyết vấn đề của đội ngũ công chức. Ở cấp tổ chức, cần đo các yếu tố như quản trị dữ liệu, phối hợp liên phòng ban, mức độ thử nghiệm quy trình mới, và khả năng bảo trợ của lãnh đạo. Ở cấp hệ thống, cần xem xét mức độ liên thông dữ liệu, khả năng phối hợp liên ngành, sự tương thích pháp lý và tác động đối với người dân, doanh nghiệp. Cách tiếp cận này phù hợp với khung năng lực đổi mới của OECD và có thể giúp nhận diện chính xác hơn “điểm nghẽn” nằm ở đâu trong chu trình đổi mới khu vực công.
Thứ ba, phương pháp đo lường cần kết hợp giữa dữ liệu hành chính, khảo sát cảm nhận và đánh giá trường hợp. Dữ liệu hành chính giúp phản ánh kết quả khách quan của hoạt động công vụ; khảo sát công chức và người dân giúp nhận diện các biến khó quan sát như mức độ tin cậy, sự thuận tiện, an toàn tâm lý hay chất lượng tương tác; còn đánh giá trường hợp cho phép bóc tách chiều sâu của những mô hình điển hình mà các chỉ số định lượng khó phản ánh đầy đủ. Sự kết hợp này sẽ làm cho bộ chỉ số vừa có tính chuẩn hóa, vừa có khả năng “đọc” được chiều sâu thực chất của đổi mới sáng tạo.
Thứ tư, quá trình xây dựng và vận hành bộ chỉ số cần bảo đảm cân bằng giữa so sánh quốc gia và linh hoạt địa phương. Việt Nam có sự khác biệt lớn về quy mô dân số, mức độ đô thị hóa, điều kiện hạ tầng và năng lực quản trị giữa các địa phương. Vì vậy, bộ chỉ số không nên áp đặt một chuẩn cứng nhắc, mà nên gồm một lõi chỉ số bắt buộc để bảo đảm khả năng đối sánh, đồng thời có không gian cho các chỉ số mở rộng phù hợp với từng loại hình địa phương, nhất là đô thị lớn, tỉnh công nghiệp, tỉnh miền núi hay địa phương có đặc thù du lịch – di sản.
Thứ năm, đổi mới sáng tạo khu vực công chỉ có thể bền vững khi được đặt trong một cơ chế công khai kết quả, học hỏi lẫn nhau và cập nhật thường xuyên. Bộ chỉ số vì vậy không nên chỉ phục vụ xếp hạng, mà cần trở thành công cụ phản hồi chính sách, hỗ trợ địa phương tự soi chiếu, nhận diện khoảng trống năng lực và điều chỉnh chiến lược quản trị. Khi đó, đo lường không còn là khâu “kiểm điểm cuối kỳ”, mà trở thành một phần của hệ sinh thái đổi mới khu vực công.
7. Kết luận
Đổi mới sáng tạo trong quản lý, điều hành khu vực công ở Việt Nam đang chuyển từ giai đoạn thử nghiệm rời rạc sang giai đoạn hình thành các mô hình và nền tảng có khả năng tác động hệ thống. Các mô hình của Quảng Ninh, Huế, Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh cho thấy, đổi mới có thể hiện thực hóa bằng nhiều con đường khác nhau, nhưng đều gặp nhau ở mục tiêu nâng cao hiệu quả phục vụ và tăng năng lực điều hành dựa trên dữ liệu.
Tuy nhiên, bức tranh này vẫn còn các giới hạn đáng kể về chênh lệch năng lực, phân mảnh dữ liệu, độ trễ thể chế và thiếu công cụ đo lường chuyên biệt. Chính vì vậy, nhiệm vụ trong giai đoạn tới không chỉ là nhân rộng các sáng kiến thành công, mà còn phải chuyển hóa chúng thành năng lực thường xuyên của hệ thống công quyền. Muốn vậy, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao năng lực số của đội ngũ công chức, thúc đẩy tích hợp dữ liệu và đặc biệt là xây dựng một bộ chỉ số đo lường mức độ đổi mới sáng tạo trong khu vực công có cơ sở lý luận vững, có khả năng lượng hóa và có tính ứng dụng thực tiễn cao. Đây là điều kiện quan trọng để đổi mới sáng tạo thực sự trở thành một thuộc tính nội sinh của quản trị công hiện đại ở Việt Nam.
Tài liệu tham khảo:
Hoàng Anh (2025). Thành phố Hồ Chí Minh: Kết quả cải cách hành chính giai đoạn 2021-2025. Trang thông tin điện tử về cải cách hành chính nhà nước – Bộ Nội vụ. http://caicachhanhchinh.gov.vn/tin-tuc/thanh-pho-ho-chi-minh-ket-qua-cai-cach-hanh-chinh-giai-doan-2021-2025.
Nguyễn Bá Chiến, Trương Quốc Việt (2026). Mô hình chính phủ linh hoạt và gợi mở chính sách đối với Việt Nam trong bối cảnh mới. Tạp chí Lý luận chính trị điện tử. https://lyluanchinhtri.vn/mo-hinh-chinh-phu-linh-hoat-va-goi-mo-chinh-sach-doi-voi-viet-nam-trong-boi-canh-moi-11471.html.
Bộ Khoa học và Công nghệ (2025). Ngành khoa học và công nghệ khơi thông nguồn lực kiến tạo tương lai, Hà Nội, tr. 13.
Bộ Thông tin và Truyền thông (2025a). Báo cáo tóm tắt kết quả chuyển đổi số quốc gia năm 2024 và kế hoạch trọng tâm năm 2025. Hà Nội, tr. 2-3.
Bộ Nội vụ (2025). Báo cáo số 12662/BC-BNV về tình hình thực hiện công tác cải cách hành chính năm 2025, tr. 7.
Bộ Nội vụ (2025). Báo cáo chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước năm 2024, tr. 119-120.
Bộ Thông tin và Truyền thông (2025b). Báo cáo tóm tắt kết quả chuyển đổi số quốc gia năm 2024 và kế hoạch trọng tâm năm 2025. Hà Nội, tr. 24.
Đào Ngọc Anh (2025). Chiến lược kiềng ba chân về số hóa, đổi mới sáng tạo và khoa học công nghệ của Đà Nẵng. VnEconomy. https://vneconomy.vn/chien-luoc-kieng-ba-chan-ve-so-hoa-doi-moi-sang-tao-va-khoa-hoc-cong-nghe-cua-da-nang.htm.
Trung tâm truyền thông KH&CN (2025). Huế ghi dấu hiệu quả bước đầu của mô hình chính quyền hai cấp gắn với KHCN, ĐMST&CĐS. Bộ Khoa học và Công nghệ. https://mst.gov.vn/hue-ghi-dau-hieu-qua-buoc-dau-mo-hinh-chinh-quyen-hai-cap-gan-voi-khcndmstcds-197250813100659806.htm.
Phạm Thị Thùy Linh (2025). Thể chế thúc đẩy phát triển đô thị thông minh tại Thành phố Hồ Chí Minh. (Luận án Tiến sĩ tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, tr. 96, 114-115).
Thành phố Hồ Chí Minh (2025). Báo cáo công tác cải cách hành chính 6 tháng đầu năm 2025 và phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2025 trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, số 216/BC-UBND, tr. 8.
Misha Kaur, Heather Buisman, Alex Bekker, Chad McCulloch (2022). Innovating Capacity of Governments: A systemic Framework. OECD Working Papers on Public Governance No. 51.
Nguyễn Thanh (2025). Nỗ lực kiến tạo nền hành chính phục vụ. Quảng Ninh điện tử. https://baoquangninh.vn/tao-buoc-chuyen-minh-manh-me-trong-cai-cach-hanh-chinh-3374665.html.
Nguyễn Thị Tố Uyên (2025). Xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển ở Việt Nam – Thuận lợi, khó khăn và thách thức. Tạp chí Lý luận chính trị điện tử. https://lyluanchinhtri.vn/xay-dung-nha-nuoc-kien-tao-phat-trien-o-viet-nam-thuan-loi-va-kho-khan-thach-thuc-10274.html.
Việt Nga (2021). Quảng Ninh: Hiệu quả từ trung tâm phục vụ hành chính công. Tạp chí Diễn đàn doanh nghiệp. https://diendandoanhnghiep.vn/quang-ninh-hieu-qua-tu-trung-tam-phuc-vu-hanh-chinh-cong-10044150.html.
QA (2025). Tp. Hồ Chí Minh: Tăng tốc ứng dụng công nghệ để giải quyết thủ tục hành chính. Tạp chí Khoa học & Công nghệ Việt Nam (điện tử). https://vjst.vn/tp-ho-chi-minh-tang-toc-ung-dung-cong-nghe-de-giai-quyet-thu-tuc-hanh-chinh-76260.html;
P.GSTTM&TT (2025). Thành phố Huế được vinh danh tại Giải thưởng Thành phố Thông minh Việt Nam 2025 trong lĩnh vực quản trị, điều hành thông minh. https://dx.hue.gov.vn/Danh-cho-nguoi-dan/Tai-lieu-huong-dan-su-dung/Chi-tiet/tid/Thanh-pho-Hue-duoc-vinh-danh-Giai-thuong-Thanh-pho-thong-minh-Viet-Nam-2025-trong-linh-vuc-Quan-tri-dieu-hanh-thong-minh.html/pid/1429/cid/66.
UBND thành phố Đà Nẵng (2021). Đề án chuyển đổi số trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, Đà Nẵng, tr. 59, 62;
Vinh Thông (2026). Đà Nẵng – Thành phố đổi mới sáng tạo: bước đột phá chiến lược từ Nghị quyết. VOV. https://vov.vn/kinh-te/da-nang-thanh-pho-doi-moi-sang-tao-buoc-dot-pha-chien-luoc-tu-nghi-quyet-post1261077.vov.
Ngô Anh Văn (2025). Đà Nẵng ban hành Bộ chỉ số đánh giá, xếp hạng chuyển đổi số. VnEconomy. https://vneconomy.vn/da-nang-ban-hanh-bo-chi-so-danh-gia-xep-hang-chuyen-doi-so.htm.
Ngô Anh Văn (2026). Sáu nhóm nhiệm vụ đưa Đà Nẵng thành trung tâm đổi mới sáng tạo hàng đầu khu vực. VnEconomy. https://vneconomy.vn/sau-nhom-nhiem-vu-dua-da-nang-thanh-trung-tam-doi-moi-sang-tao-hang-dau-khu-vuc.htm.
Trịnh Thị Xuyến (2024). Chuyển đổi số toàn diện ở tỉnh Quảng Ninh: Những kết quả đạt được và nhiệm vụ, giải pháp trong thời gian tới. Tạp chí Cộng sản. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/van_hoa_xa_hoi/-/2018/1024302/chuyen-doi-so-toan-dien-o-tinh-quang-ninh–nhung-ket-qua-dat-duoc-va-nhiem-vu%2C-giai-phap-trong-thoi-gian-toi.aspx.



