Tái cấu trúc chuỗi cung ứng đất hiếm toàn cầu của Hoa Kỳ và triển vọng hợp tác với Việt Nam

Restructuring U.S. global rare earth supply chains and prospects for cooperation with Vietnam

TS. Nguyễn Minh Tuấn
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Email: mtuanbthuy@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Cạnh tranh chiến lược Mỹ – Trung đặt ra yêu cầu cấp thiết cho Hoa Kỳ trong việc giảm phụ thuộc vào nguồn cung đất hiếm từ Trung Quốc. Việc tái cấu trúc chuỗi cung ứng đất hiếm toàn cầu của Mỹ mở ra cơ hội chiến lược cho Việt Nam – quốc gia sở hữu trữ lượng đất hiếm đứng thứ 5 thế giới. Bài viết phân tích thực trạng nhu cầu của Hoa Kỳ, định hướng phát triển ngành công nghiệp đất hiếm của Việt Nam, qua đó đánh giá triển vọng và luận giải khả năng hợp tác song phương trong thời gian tới.

Từ khoá: Tái cấu trúc chuỗi cung ứng; đất hiếm; toàn cầu; Hoa Kỳ; Việt Nam; triển vọng hợp tác.

Abstract: The U.S.-China strategic competition has created an urgent imperative for the United States to reduce its reliance on Chinese rare earth supplies. The restructuring of the global rare earth supply chain by the United States opens up strategic opportunities for Vietnam, a country with the world’s fifth-largest rare earth reserves. This article analyzes the current state of U.S. demand for rare earths and the development direction of Vietnam’s rare earth industry, thereby evaluating the prospects and rationale for future bilateral cooperation.

Keywords: Supply chain restructuring; rare earth elements; global; United States; Vietnam; prospects for cooperation.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh Mỹ – Trung Quốc ngày càng cạnh tranh phức tạp, đặc biệt đối với lĩnh vực công nghệ cao và bán dẫn là một trong những lĩnh vực trọng tâm. Mỹ liên tục thúc đẩy sản xuất bán dẫn trong nước, giảm phụ thuộc vào Trung Quốc và xây dựng chuỗi cung ứng an toàn, bền vững. Tuy nhiên, nhiều ngành công nghệ cao vẫn phụ thuộc lớn vào nguồn nguyên liệu đất hiếm từ Trung Quốc.

Đất hiếm có vai trò quan trọng trong nhiều ngành công nghiệp hiện đại: từ sản xuất smartphone, thiết bị điện tử tiêu dùng, pin năng lượng mặt trời, nam châm vĩnh cửu, cho đến việc chế tạo chất bán dẫn và các khí tài quân sự thiết yếu như công nghệ laser, cảm biến tên lửa, radar, xe tăng hay năng lượng hạt nhân. Đất hiếm gồm 17 nguyên tố hóa học, có vai trò quan trọng trong không thể thay thế, bao gồm 8 nguyên tố đất hiếm nhẹ: Scandi, Lanthanum, Cerium, Neodymium, Samarium…) và 9 nguyên tố đất hiếm nặng: Yttrium, Gadolinium, Terbium, Dysprosium…) (Tom Mantelet, 2022).

Trung Quốc hiện chi phối tới 59% nguồn cung đất hiếm toàn cầu (Brian Daigle and Samantha DeCarlo, 2021), khiến Mỹ buộc phải tái cấu trúc chuỗi cung ứng thông qua tăng cường khai thác trong nước và mở rộng hợp tác với các đối tác ngoài Trung Quốc.

Theo báo cáo từ Cục Khảo sát Địa chất Mỹ, Việt Nam sở hữu trữ lượng đất hiếm khoảng 3,5 triệu tấn – đứng thứ 5 thế giới – nhưng sản lượng khai thác còn rất hạn chế (chỉ đạt khoảng 150 tấn vào năm 2025) (U.S. Geological Survey, 2026). Đây là cơ hội để Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng đất hiếm toàn cầu, thu hút vốn, công nghệ và kinh nghiệm quốc tế. Tuy nhiên, để phát triển ngành công nghiệp đất hiếm theo hướng bền vững, Việt Nam cần đồng thời hoàn thiện thể chế, hạ tầng, công nghệ và nguồn nhân lực.

2. Định hướng ngành công nghiệp đất hiếm của Việt Nam

2.1. Khung pháp lý cho hoạt động khai thác và chế biến đất hiếm ở Việt Nam

Việt Nam đã khởi xướng các nghiên cứu về tuyển và chế biến đất hiếm từ những năm 1980 (Nguyễn Thu Thuỷ và Nguyễn Văn Trọng, 2025). Hệ thống pháp luật về khoáng sản cũng được ban hành từ rất sớm, như: Pháp lệnh Tài nguyên khoáng sản 1989; Luật Khoáng sản năm 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 2010); Luật Địa chất và khoáng sản năm 2024. Đáng chú ý, Luật Địa chất và khoáng sản (sửa đổi, bổ sung năm 2025) lần đầu tiên có quy định riêng biệt cho đất hiếm, trong đó Điều 85a Chương VII akhẳng định: “Đất hiếm là khoáng sản chiến lược đặc biệt. Hoạt động điều tra, đánh giá, thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng đất hiếm phải tuân thủ chiến lược quốc gia về đất hiếm, quy hoạch về đất hiếm. Đất hiếm phải được bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả gắn với yêu cầu phát triển bền vững kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước; Nhà nước ưu tiên đầu tư và tổ chức thực hiện điều tra địa chất, đánh giá, thăm dò đất hiếm; Việc thăm dò, khai thác, chế biến đất hiếm phải được kiểm soát chặt chẽ; không xuất khẩu thô khoáng sản đất hiếm; chỉ các doanh nghiệp, tổ chức được Nhà nước chỉ định hoặc cho phép mới được quyền thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng đất hiếm”. Bên cạnh đó, Việt Nam đang tiến hành xây dựng Chiến lược quốc gia về đất hiếm, dự kiến trình cấp có thẩm quyền trong năm 2026 (Khương Trung, 2025). Chiến lược này tập trung khoanh định vùng tài nguyên, tối ưu quy trình khai thác và hình thành chuỗi giá trị chế biến sâu.

Dù khung pháp lý dành riêng cho đất hiếm mới ở bước đầu hoàn thiện, nhưng đã khẳng định, Việt Nam đã nhận thức đúng đắn giá trị của nguồn tài nguyên này. Tư duy quản lý đã chuyển sang thế chủ động: chống lãng phí, bảo vệ tài nguyên không tái tạo và nâng cao giá trị gia tăng thông qua chế biến sâu thay vì xuất khẩu thô. Nhìn chung, Việt Nam đang thể hiện tầm nhìn dài hạn cho ngành công nghiệp đất hiếm, đồng thời, mở ra tiềm năng hợp tác quốc tế trong tương lai.

2.2. Đặc điểm và những khó khăn phát triển ngành công nghiệp đất hiếm ở Việt Nam

Việt Nam sở hữu trữ lượng đất hiếm tập trung ở khu vực Tây Bắc và Tây Nguyên. Các mỏ lớn, như: Bắc Nậm Xe, Đông Pao, Nam Nậm Xe (tỉnh Lai Châu) chủ yếu chứa đất hiếm nhẹ; trong khi Mường Hum (tỉnh Lào Cai) có đất hiếm nặng nhưng trữ lượng khiêm tốn (khoảng 134.000 tấn). Đất hiếm Việt Nam có thành phần phức tạp, hàm lượng thấp, hạt mịn, tỷ lệ cộng sinh cao và độ phong hóa khác nhau, gây khó khăn cho việc tuyển tách. Hiện tại, Việt Nam mới dừng ở khâu tuyển thô, chưa đạt sự đầu tư đồng bộ từ khai thác đến tinh chế, như: Trung Quốc, Australia hay Ấn Độ (Nguyễn Thu Thuỷ & Nguyễn Văn Trọng, 2025).

Ngành công nghiệp đất hiếm Việt Nam đối mặt với 4 khó khăn chính, gồm: (1) Môi trường pháp lý mới ở giai đoạn đầu; (2) Chưa làm chủ công nghệ tinh luyện từng nguyên tố, khiến sản phẩm chủ yếu ở dạng thô, giá trị thấp và chưa đáp ứng chế tạo công nghệ cao; (3) Nguy cơ ô nhiễm môi trường và phát thải chất phóng xạ trong quá trình khai thác, chế biến (Nguyễn Minh Tuấn, 2024); (4) Thiếu sự đầu tư đồng bộ cho toàn bộ quy trình (Chiến lược quốc gia về đất hiếm vẫn đang xây dựng). Trong đó, việc tự chủ công nghệ tinh chế chính là “điểm nghẽn” then chốt cần khai thông để ngành đất hiếm Việt Nam bứt phá.

3. Kết quả nghiên cứu

3.1. Nhu cầu và nguồn cung đất hiếm của Mỹ hiện nay

(1) Nhu cầu đất hiếm của Mỹ. Là cường quốc phát triển hàng đầu, Mỹ có nhu cầu tiêu thụ khổng lồ về cả đất hiếm nặng lẫn đất hiếm nhẹ. Cấp thiết nhất là các nguyên tố đất hiếm nặng, như: Neodymium (Nd), Praseodymium (Pr), Dysprosium (Dy) và Terbium (Tb)… ứng dụng cốt lõi trong sản xuất nam châm vĩnh cửu và các khí tài quân sự.

Nhiều doanh nghiệp và hệ thống quốc phòng Mỹ phụ thuộc vào đất hiếm, từ xe tăng M1A2 Abrams, radar Aegis-Spy-1, máy bay F-35, tàu ngầm lớp Virginia và Columbia đến UAV, tên lửa, laser và vệ tinh10 (Rick Mills, 2025).

Theo C. Todd Lopez11 (2024), F-35 sử dụng khoảng 418 kg đất hiếm; tàu khu trục Arleigh Burke khoảng 2.600 kg và tàu ngầm lớp Virginia khoảng 4.600 kg (C. Todd Lopez, 2024). Trong khi đó, sản lượng Mountain Pass năm 2025 đạt khoảng 51.000 tấn, chỉ đáp ứng khoảng 15% nhu cầu trong nước (Rick Mills, 2025). Mỹ vẫn phải nhập khẩu khoảng 85%, trong đó Trung Quốc chiếm 71%.

Theo Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ, trữ lượng đất hiếm toàn cầu đạt hơn 85 triệu tấn. Trung Quốc dẫn đầu (44 triệu tấn), tiếp theo là Brazil (21 triệu tấn), Úc (6,3 triệu tấn), Nga (3,8 triệu tấn), Việt Nam đứng thứ năm (3,5 triệu tấn), trong khi Mỹ chỉ đứng thứ sáu (1,9 triệu tấn) (U.S. Geological Survey, 2026). Với nhu cầu toàn cầu khoảng 125.000 tấn/năm và mức tăng trưởng 5%/năm, nguồn tài nguyên này dự kiến cạn kiệt sau gần 1.000 năm (Phùng Anh Tiến, 2010). Việc gia tăng sử dụng vũ khí công nghệ cao trong các xung đột gần đây, như: chiến sự Nga – Ukraine hay căng thẳng Mỹ, Israel với Iran tiếp tục đẩy sản xuất quốc phòng lên cao, kéo theo nhu cầu đất hiếm tăng vọt.

(2) Nguồn cung đất hiếm nội địa của Mỹ. Mountain Pass hiện là mỏ khai thác đất hiếm duy nhất còn hoạt động tại Mỹ. Từng cung cấp gần như toàn bộ nhu cầu nội địa từ năm 1952 – 2002, mỏ phải đóng cửa năm 2002 do sự cố rò rỉ chất thải độc hại, chi phí xử lý môi trường cao và áp lực giá rẻ từ Trung Quốc. Từ đó, Mỹ rơi vào cảnh phụ thuộc tới 95% nguồn cung nhập khẩu. Năm 2011, khi Trung Quốc áp hạn ngạch xuất khẩu, Mỹ để Molycorp tái vận hành mỏ vào tháng 8/2012. Tuy nhiên, Trung Quốc lập tức dỡ bỏ hạn ngạch và hạ giá thành khiến Molycorp phá sản, mỏ tiếp tục ngừng hoạt động vào năm 2015. Đến cuối năm 2017, MP Materials mua lại mỏ với trữ lượng ước đạt 1,8 triệu tấn và khôi phục khai thác. Sản lượng của mỏ từ năm 2019 –  2025 tăng dần qua từng năm: 30.000 tấn (năm 2019), 39.000 tấn (năm 2020), 42.400 tấn (năm 2021), 42.500 tấn (năm 2022), 41.600 tấn (năm 2023), 45.500 tấn (năm 2024) và 51.000 tấn (năm 2025) (U.S. Geological Survey, 2026). Dù vậy, phần lớn quặng cô đặc vẫn phải chuyển sang Trung Quốc tinh chế rồi mới quay lại Mỹ (The White House, 2026).

Nhằm khôi phục chuỗi cung ứng nội địa, Bộ Quốc phòng Mỹ (DoD) đã tài trợ hợp đồng 35 triệu USD để MP Materials thiết kế, xây dựng cơ sở phân tách đất hiếm nặng, như: Neodymium, Praseodymium, Lanthanum, Cerium… ngay tại mỏ, phục vụ quốc phòng và thương mại. Trong vòng 5 năm kể từ lô sản xuất đầu tiên, MP Materials có trách nhiệm tối ưu hóa chi phí ngang tầm quốc tế (U.S. Department of Defense, 2022). Dù vậy, khó khăn vẫn còn phía trước: quân đội Mỹ cần khoảng 3.000 tấn nam châm vĩnh cửu mỗi năm, nhưng năng lực của MP Materials hiện mới đáp ứng chưa tới 1/3 (Rick Mills, 2025). Nhu cầu vượt xa năng lực sản xuất buộc Mỹ tiếp tục phụ thuộc lớn vào nguồn cung bên ngoài. Mục tiêu chiến lược của Chính phủ Mỹ là đưa ngành khai thác, chế biến đất hiếm trở lại nội địa, vừa bảo đảm tiêu chuẩn an toàn môi trường, vừa tạo thời gian điều tiết để giảm dần sự phụ thuộc vào Trung Quốc.

3.2. Ảnh hưởng của Trung Quốc và định hướng giảm sự phụ thuộc vào nguồn cung đất hiếm từ Trung Quốc của Mỹ

(1) Sự kiểm soát nguồn cung đất hiếm của Trung Quốc hiện nay.

Hiện nay, Trung Quốc sở hữu một nửa trữ lượng đất hiếm toàn cầu, sản lượng đất hiếm của Trung Quốc chiếm khoảng 70% toàn cầu và chiếm khoảng 90% sản lượng đất hiếm tinh chế toàn cầu. Ngoài ra, phần lớn sản lượng đất hiếm ngoài Trung Quốc đều được tinh chế thông qua các nhà máy của Trung Quốc (Tae-Yoon Kim và cộng sự, 2025). Trung Quốc gần như đang ở vị thế độc quyền trong việc cung ứng đất hiếm toàn cầu. Điều đó cũng lý giải nguyên nhân tại sao việc khai thác đất hiếm ở Mỹ sau những nỗ lực mở cửa trở lại vào năm 2012 nhưng đã phải đóng cửa một lần nữa do không thể cạnh tranh với sản phẩm đất hiếm giá rẻ tới từ Trung Quốc.

Về cơ bản, sức ảnh hưởng rất lớn của Trung Quốc đối với nguồn cung đất hiếm toàn cầu như hiện nay đang giúp cho Trung Quốc có nhiều lợi thế.

Bảng 1. Danh sách các khoáng sản đất hiếm bị Trung Quốc kiểm soát xuất khẩu

Thời điểm Trung Quốc đưa ra hạn chế xuất khẩuNguyên tố đất hiếmCông dụng phổ biến
Ngày 25/4/2025ScandiumHợp kim siêu bền, linh kiện hàng không vũ trụ siêu nhẹ, ống tia X, gậy bóng chày, đèn chiếu sáng, chất bán dẫn
YttriumGốm sứ, hợp kim kim loại, pin sạc, chất phát quang TV, chất siêu dẫn nhiệt độ cao
SamariumNam châm chịu nhiệt cao, thanh điều khiển và tấm chắn lò phản ứng hạt nhân, laser, bộ lọc vi sóng
GadoliniumChất cản quang MRI, chip nhớ, tấm chắn lò phản ứng hạt nhân, đĩa CD
TerbiumChất phát quang xanh, laser, đèn huỳnh quang, bộ nhớ máy tính quang học
DysprosiumNam châm vĩnh cửu, laser, chất xúc tác, lò phản ứng hạt nhân
LutetiumMáy dò PET, chất siêu dẫn, thủy tinh có chiết suất cao, chất phát quang tia X
Ngày 25/10/2025EuropiumMàn hình tinh thể lỏng, đèn huỳnh quang, chất phát quang đỏ và xanh lam
HolmiumLaser, lò phản ứng hạt nhân, chất xúc tác, nam châm
ErbiumLaser, thép vanadi, kính hấp thụ tia hồng ngoại, sợi quang học
ThuliMáy chụp X-quang di động, lò vi sóng
YtterbiumLaser hồng ngoại, chất khử hóa học, pin sạc, sợi quang học
Chưa hạn chế xuất khẩuCeriumChất xúc tác, hợp kim kim loại, tấm chắn bức xạ, máy lọc nước
PraseodymiumNam châm, laser, chất tạo màu, chất làm lạnh đông lạnh
NeodymiumNam châm vĩnh cửu cường độ cao, laser, bộ lọc hồng ngoại, ổ đĩa cứng.
PromethiumPin nguyên tử, nghiên cứu khoa học
Nguồn: (Andrew Foran, 11/2025).

Việc Trung Quốc áp đặt hạn chế xuất khẩu đối với khoáng sản đất hiếm cho thấy những tồn tại trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Và điều này buộc Mỹ phải có những nỗ lực nhằm giải quyết sự phụ thuộc nguồn cung đất hiếm từ Trung Quốc.

(2) Các biện pháp giảm sự phụ thuộc của Mỹ vào nguồn cung đất hiếm từ Trung Quốc.

Một là, biện pháp tăng cường sản xuất trong nước. Chiến lược này đạt những thành quả bước đầu khi mỏ Mountain Pass (thuộc MP Materials) khởi động lại từ cuối năm 2017, góp phần giảm tỷ lệ phụ thuộc đất hiếm nhập khẩu của Mỹ từ 95% xuống còn khoảng 67% vào năm 2025 (U.S. Geological Survey, 2026). Năm 2017, trong nhiệm kỳ đầu của Tổng thống Trump, Mỹ triển khai chiến lược liên bang bảo đảm nguồn khoáng sản thiết yếu. Đến năm 2019, Tổng thống Trump sử dụng Đạo luật Sản xuất Quốc phòng để Bộ Quốc phòng Mỹ (DoD) hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp, ưu tiên hợp đồng quốc phòng trước khi cung ứng ra thị trường (David Uren, 2019). Năm 2020, Tổng thống Trump tuyên bố Tình trạng Khẩn cấp Quốc gia nhằm mở rộng ngành khai khoáng, giảm thủ tục cấp phép và cắt giảm phụ thuộc vào nguồn cung đất hiếm từ Trung Quốc.

Chính phủ Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống Biden đã hành động trực diện hơn khi DoD trao hợp đồng 35 triệu USD cho MP Materials xây dựng cơ sở phân tách đất hiếm nặng tại Mountain Pass (U.S. Department of Defense, 2022). Cuối năm 2025, nhà máy Independence của MP Materials bắt đầu sản xuất thương mại kim loại NdPr và thử nghiệm nam châm NdFeB – thành phần cốt lõi trong xe cộ, robot, UAV, thiết bị điện tử và khí tài quân sự. Dự kiến nhà máy đạt sản lượng 1.000 tấn/năm và tăng dần sau đó (Rick Mills, 2025).

Ở nhiệm kỳ hai, Tổng thống Donald Trump đã ban hành các sắc lệnh hành pháp thúc đẩy sản lượng khoáng sản nội địa nhằm củng cố an ninh quốc gia và tạo việc làm (The White House, 2025). Đồng thời, Mỹ chi 400 triệu USD mua 15% cổ phần MP Materials, DoD cho Tập đoàn MP Materials vay 150 triệu USD xây nhà máy tách đất hiếm nặng tại California, ấn định giá sàn cho các sản phẩm đất hiếm nhẹ (Nd, Pr) và bảo đảm đầu ra nam châm trong một thập kỷ. Mô hình hợp tác công – tư cũng được đẩy mạnh với thỏa thuận khoảng 1,4 tỷ USD giữa chính quyền và các nhà đầu tư tư nhân với Vulcan Elements và ReElement (Associated Press, 2025).

Bên cạnh đó, Mỹ còn hợp tác với các tập đoàn nước ngoài đẩy mạnh sản xuất đất hiếm trong nước, như: DoD trao cho Lynas Rare Earths (Australia) các hợp đồng trị giá 30 triệu USD (2021) và 120 triệu USD (2022) để xây dựng các nhà máy phân tách đất hiếm nhẹ và nặng (Dysprosium, Terbium) tại Texas (Matt Blois, 2025).

Hai là, biện pháp thúc đẩy các nguồn cung đất hiếm từ ngoài Trung Quốc. Cuối nhiệm kỳ của Tổng thống Biden, Việt Nam được đánh giá sở hữu trữ lượng đất hiếm lớn thứ hai thế giới (năm 2022) và nằm trong nhóm quốc gia được Mỹ quan tâm thúc đẩy hợp tác chuỗi cung ứng bán dẫn theo Quỹ ITSI (Đạo luật CHIPS 2022) (U.S. Department of State, 2023).

Trong nhiệm kỳ hai của Tổng thống Trump, Mỹ thiết lập các khung hợp tác với (Australia, Nhật Bản) và ký bản ghi nhớ với (Thái Lan, Malaysia) về bảo đảm chuỗi cung ứng khoáng sản quan trọng (The White House, 2025). Đặc biệt, năm 2025, Công ty Lynas (Úc) đã bắt đầu sản xuất oxit đất hiếm nặng tại nhà máy ở Malaysia (Matt Blois, 2025).

Mặc dù các giải pháp trên đã mang lại kết quả bước đầu, Mỹ vẫn cần thêm thời gian để tối ưu hóa hiệu quả và mở rộng mạng lưới đối tác. Trong ngắn hạn, Mỹ vẫn còn phụ thuộc đáng kể vào nguồn cung đất hiếm từ Trung Quốc.

3.3. Triển vọng ngành công nghiệp đất hiếm Việt Nam và khả năng hợp tác với Mỹ

(1) Triển vọng ngành công nghiệp đất hiếm Việt Nam

Ngành đất hiếm Việt Nam vẫn ở giai đoạn đầu, chủ yếu dừng ở các liên doanh hợp tác khai thác và xây dựng nhà máy. Khả năng sản xuất sản phẩm tinh chế còn ở thì tương lai. Hiện nay, Việt Nam mới bước đầu thỏa thuận hợp tác với các tập đoàn Hàn Quốc, trong khi hợp tác với Mỹ vẫn dừng ở mức tiềm năng, thỏa thuận trên giấy.

Tháng 12/2022, Công ty cổ phần Đất hiếm Việt Nam (VTRE) đã ký hợp đồng xuất khẩu hằng năm từ 1.000 – 2.000 tấn đất hiếm sang Hàn Quốc. Theo đó, công ty Việt Nam sẽ cung cấp oxit đất hiếm trị giá 50 triệu USD trong vòng 5 năm, từ năm 2023 cho Korean Strategic Materials Metals (KSMM), một công ty con của Australian Strategic Materials Limited (ASM) (Gia Chính, 2022).

Năm 2024, tập đoàn Trident Global Holdings của Hàn Quốc và Zoetic Global của Mỹ đã tuyên bố sẽ thành lập liên doanh hợp tác với Tập đoàn Hưng Hải của Việt Nam để cùng phát triển các mỏ đất hiếm cao cấp tại Việt Nam, bảo đảm nguồn cung các nguyên tố quan trọng cho nhiều công ty (Phúc Lam, 2025).

Tháng 02/2025, Công ty LS Eco Enegy của Hàn Quốc đã phê duyệt kế hoạch đầu tư 21 triệu USD để xây dựng hạ tầng sản xuất kim loại đất hiếm tại Việt Nam, với mục tiêu chuyển hóa oxit đất hiếm thành kim loại tinh chế (Anh Khôi, 2025).

Như vậy, các đối tác tới từ Hàn Quốc đang thể hiện mức độ quan tâm lớn tới việc khai thác cũng như đầu tư xây dựng nhà máy chế biến sâu đối với đất hiếm. Trong khi đó, phía Mỹ mới chỉ quan tâm ở mức hỗ trợ tập huấn kỹ thuật và vẫn đang tìm kiếm cơ hội hợp tác.

(2) Triển vọng hợp tác với Mỹ trong ngành công nghiệp đất hiếm.

Nhu cầu đất hiếm của Mỹ hiện rất lớn, đặc biệt cấp thiết đối với các nguyên tố đất hiếm nặng. Điều này giải thích lý do Mỹ tập trung nhiều nguồn vốn và dự án đầu tư hơn vào các nhà máy tinh chế nhóm nguyên tố này. Mặc dù Trung Quốc đang giữ vị thế số một thế giới về công nghệ phân tách, Mỹ vẫn chứng minh năng lực tự phát triển vượt trội thông qua sự phối hợp giữa Chính phủ Mỹ (nắm 15% cổ phần) và Tập đoàn MP Materials với nhà máy Independence cho ra sản phẩm tinh chế chỉ sau 3 năm (kể từ năm 2022). Đây là minh chứng cho thấy, các quốc gia hoàn toàn có thể tự chủ công nghệ nếu hợp tác sâu rộng với Mỹ. Nhìn vào trữ lượng đất hiếm toàn cầu (trên 1 triệu tấn), các nước thuộc nhóm BRICS (Trung Quốc, Nga, Brazil, Ấn Độ, Nam Phi) hiện nắm giữ phần lớn, do đó Mỹ đang từng bước tái cấu trúc chuỗi cung ứng ngoài Trung Quốc theo các “lớp” dựa trên các liên minh và đối tác chiến lược. Trong đó, nhóm QUAD (Mỹ, Australia, Nhật Bản, Ấn Độ) đóng vai trò nòng cốt: Úc sở hữu trữ lượng đứng thứ ba thế giới với công ty Lynas Rare Earths nhận đầu tư từ Mỹ để xây nhà máy phân tách cả đất hiếm nặng lẫn nhẹ; Nhật Bản tuy không có tài nguyên và phụ thuộc vào Trung Quốc nhưng sở hữu nhiều công ty giàu kinh nghiệm về phân tách và chế tạo nam châm vĩnh cửu; Malaysia tập trung nhà máy tinh chế của Lynas để xử lý quặng nội địa cũng như nguồn nguyên liệu từ Thái Lan và các nước châu Á; đồng thời, Việt Nam dự kiến sẽ là điểm đến tiếp theo.

Bên cạnh đó, tham vọng của Mỹ tại Greenland được nhắc tới trong cả hai nhiệm kỳ của Tổng thống Trump (Đình Thiện & Hoài Thu, 2026) cho thấy, các dự án khai thác tại đây sớm  triển khai, nhất là khi Đan Mạch là thành viên NATO. Đối với Việt Nam, trữ lượng đất hiếm nặng không quá lớn, lại bị phong hóa gây khó khăn cho phân tách nên chưa phải là ưu tiên cấp bách hàng đầu của Mỹ, dù vẫn nhận được sự quan tâm nhất định. Bên cạnh đó, tiến trình tự chủ công nghệ của Việt Nam còn chậm do thiếu đầu tư đồng bộ và quy mô công nghiệp còn ở mức kế hoạch, khiến các hoạt động hợp tác với Mỹ hiện chủ yếu dừng ở mức thăm dò và việc đầu tư, chuyển giao công nghệ (Jamie Underwood, 2025) sẽ “nằm ở thì tương lai”. Mặc dù việc hợp tác với Nhật Bản, Đức, Hàn Quốc đã giúp Việt Nam tiến gần hơn tới tự chủ, nhưng việc hợp tác với Mỹ sẽ giúp tận dụng trực tiếp năng lực đổi mới sáng tạo để nhanh chóng làm chủ công nghệ phân tách.

Từ mô hình thành công của Mỹ, Việt Nam cần đầu tư phát triển một tập đoàn công nghiệp đất hiếm đủ mạnh, đồng thời, thúc đẩy các liên doanh giữa doanh nghiệp hai nước để đẩy nhanh quá trình tiếp nhận chuyển giao và tự chủ công nghệ trong tương lai.

4. Kết luận

Chuyển dịch chuỗi cung ứng đất hiếm của Hoa Kỳ là một quá trình tái cấu trúc địa – kinh tế có tính chất phân tầng, trong đó việc mở rộng hợp tác với các quốc gia sở hữu tiềm năng tài nguyên như Việt Nam đóng vai trò đa dạng hóa nguồn cung dài hạn. Tuy nhiên, thực tiễn chứng minh, trữ lượng khoáng sản không tự động chuyển hóa thành vị thế trong chuỗi giá trị nếu thiếu năng lực công nghệ chế biến sâu và cơ chế kiểm soát môi trường bền vững. Đối với Việt Nam, bước chuyển từ tư duy quản lý tài nguyên thô sang bảo vệ và chế biến sâu là hướng đi bắt buộc nhưng mới chỉ là điều kiện cần. Để định vị vững chắc trong chuỗi cung ứng toàn cầu nói chung và hợp tác với Hoa Kỳ nói riêng, Việt Nam cần đồng thời thực hiện ba yêu cầu chiến lược: hoàn thiện thể chế gắn với chính sách thu hút chuyển giao công nghệ lõi; phát triển năng lực doanh nghiệp nội địa đủ sức tham gia liên doanh công nghệ cao và chủ động đa dạng hóa đối tác quốc tế làm đòn bẩy nâng cao năng lực kiểm chứng thực tế. Đây chính là con đường cốt lõi để hiện thực hóa tiềm năng tài nguyên thành động lực phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm an ninh chiến lược quốc gia.

Tài liệu tham khảo:
Anh Khôi (21/12/2025). “Đại gia” Hàn Quốc rót 21 triệu USD vào Việt Nam khai thác loại khoáng sản nước ta có trữ lượng đứng thứ hai thế giới. https://cafef.vn/dai-gia-han-quoc-rot-21-trieu-usd-vao-viet-nam-khai-thac-loai-khoang-san-nuoc-ta-co-tru-luong-dung-thu-hai-the-gioi-188251221075634672.chn.
Associated Press (05/11/2025). Trump administration and private investors sign off on $1.4 billion deal with rare earth startups. https://apnews.com/article/vulcan-reelement-rare-earths-us-government-investment-17647d7219ab8b8098fce5fc66975fdd
Blois, M. (11/7/2025). US invests in rare earth firm MP Materials. https://cen.acs.org/business/investment/US-invests-rare-earth-firm/103/web/2025/07.
Brian Daigle & DeCarlo, S. (2021). Rare Earths and the U.S. Electronics Sector: Supply Chain Developments and Trends. https://www.usitc.gov/publications/332/working_papers/rare_earths_and_the_electronics_sector_final_070921_2-compliant.pdf
Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam (20/3/2024). Giải pháp phát triển bền vững tài nguyên đất hiếm tại Việt Nam. https://dcks.mae.gov.vn/hoat-dong-cua-cuc/giai-phap-phat-trien-ben-vung-tai-nguyen-dat-hiem-tai-viet-nam-1433.htm.
David Uren. (09/10/2019). Rare earths: Is there a case for government intervention? https://cdn.sanity.io/files/ooh1fq7e/production/429645b98daf0f73b21ad229d8fc40eb4cb49dad.pdf.
Đình Thiện và Hoài Thu (2026). Tham vọng thâu tóm Greenland của Mỹ – Căn nguyên, lịch sử và hệ luỵ. https://hvctcand.bocongan.gov.vn/tham-vong-thau-tom-greenland-cua-my-can-nguyen-lich-su-va-he-luy-8296.
Đỗ Phong. (04/2/2026). Xây dựng Chiến lược quốc gia về đất hiếm. https://vneconomy.vn/xay-dung-chien-luoc-quoc-gia-ve-dat-hiem.htm.
Foran, A (2025). Fractured supply chains & U.S. contingency planning: Rare earth minerals. https://economics.td.com/us-rare-earth-minerals-fractured-supply-chains.
Freshfields (2025). Shaping Asia’s Infrastructure: Rare Earth Elements in Vietnam – opportunities and challenges. https://riskandcompliance.freshfields.com/post/102luhd/shaping-asias-infrastructure-rare-earth-elements-in-vietnam-opportunities-and
Gia Chính (15/12/2022). Khai thác đất hiếm Yên Bái xuất khẩu sang Hàn Quốc. https://vnexpress.net/khai-thac-dat-hiem-yen-bai-xuat-khau-sang-han-quoc-4548699.html.
Jamie Underwood (2025). Japan – US Rate Earths Agreement: Critical minerals, policy, and the energy transition. https://www.sfa-oxford.com/market-news-and-insights/japan-us-rare-earths-deal-critical-minerals-supply-chain/#:~:text=Building%20Allied%20Resilience%20in%20Critical,investment%20and%20coordinated%20industrial%20policy.
Khương Trung (01/12/2025). Sẽ có chiến lược quốc gia về đất hiếm. https://mae.gov.vn/se-co-chien-luoc-quoc-gia-ve-at-hiem-20489.htm (Truy cập ngày 10/3/2026).
Lopez, T. C. (2024). DOD looks to establish ‘Mine-to-Magnet’ supply chain for rare earth materials. https://www.war.gov/News/News-Stories/Article/Article/3700059/dod-looks-to-establish-mine-to-magnet-supply-chain-for-rare-earth-materials/ (Truy cập ngày 06/3/2026).
Mantelet, T. (2022). Rare Earth Metals and F-35 Supply Chain. https://finabel.org/rare-earth-metals-and-f-35-supply-chain/
Mills, R. (2025). US-China deal, and more DoD money will not loosen China’s grip on military-grade rare earths magnets. https://www.mining.com/us-china-deal-and-more-dod-money-will-not-loosen-chinas-grip-on-military-grade-rare-earths-magnets/ .
Nguyễn Minh Tuấn (2024). Tiềm năng cung ứng đất hiếm của Việt Nam trong bối cảnh mới. https://vias.vass.gov.vn/tieu-diem/Tiem-nang-cung-ung-dat-hiem-cua-Viet-Nam-trong-boi-canh-moi-41.0
Nguyễn Thu Thuỷ & Nguyễn Văn Trọng (2025). Phát triển ngành công nghiệp đất hiếm tại Việt Nam: Hiện trạng, rào cản công nghệ và giải pháp chiến lược. Tạp chí Khoa học và Công nghệ QUI, 03(03 – 2025).
Phúc Lam (07/02/2025). ‘Kho báu’ trữ lượng lớn thứ 2 thế giới của Việt Nam được nhiều ông lớn ‘gõ cửa’, Mỹ đặc biệt quan tâm. https://nguoiquansat.vn/kho-bau-tru-luong-lon-thu-2-the-gioi-cua-viet-nam-duoc-nhieu-ong-lon-go-cua-my-dac-biet-quan-tam-196973.html
Phùng Anh Tiến (2010). Khai thác và sử dụng đất hiếm hiện nay trên thế giới. Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia.
Tae-Yoon Kim và cộng sự. (2025). With new export controls on critical minerals, supply concentration risks become reality. https://www.iea.org/commentaries/with-new-export-controls-on-critical-minerals-supply-concentration-risks-become-reality
The White House (2025). Fact sheet: President Donald J. Trump takes immediate action to increase American mineral production. https://www.whitehouse.gov/fact-sheets/2025/03/fact-sheet-president-donald-j-trump-takes-immediate-action-to-increase-american-mineral-production/ The White House (2025). Immediate measures to increase American mineral production. https://www.whitehouse.gov/presidential-actions/2025/03/immediate-measures-to-increase-american-mineral-production/
The White House (2025). Memorandum of understanding between the government of the United States of America and the government of the Kingdom of Thailand concerning cooperation to diversify global critical minerals supply chains and promote investments. https://www.whitehouse.gov/briefings-statements/2025/10/memorandum-of-understanding-between-the-government-of-the-united-states-of-america-and-the-government-of-the-kingdom-of-thailand-concerning-cooperation-to-diversify-global-critical-minerals-supply-cha/.
The White House (2026). Adjusting imports of processed critical minerals and their derivative products into the United States. https://www.whitehouse.gov/presidential-actions/2026/01/adjusting-imports-of-processed-critical-minerals-and-their-derivative-products-into-the-united-states/.
Thuỳ Linh (2023). Tham vọng đất hiếm của Blackstone Minerals. https://viettimes.vn/tham-vong-dat-hiem-cua-blackstone-minerals-post170935.html.
U.S. Department of Defense (2022). DoD awards $35 million to MP Materials to build U.S. heavy rare earth separation capacity. https://www.defense.gov/News/Releases/Release/Article/2941793/dod-awards-35-million-to-mp-materials-to-build-us-heavy-rare-earth-separation-c/
U.S. Department of State (2023). New partnership with Vietnam to explore semiconductor supply chain opportunities. https://2021-2025.state.gov/new-partnership-with-vietnam-to-explore-semiconductor-supply-chain-opportunities/
U.S. Geological Survey (2026). Mineral Commodity Summaries, February 2026. https://pubs.usgs.gov/periodicals/mcs2026/mcs2026-rare-earths.pdf .