Thi hành quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền được bảo đảm an sinh xã hội từ góc độ quyền con người: Thực trạng và định hướng hoàn thiện

Implementation of the 2013 constitution’s provisions on the right to social security from a human rights perspective: current status and directions for improvement

Đỗ Hoàng Quỳnh Trang
Công ty Luật MB Justice
Email: trangdo.vtr@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Hiến pháp năm 2013 lần đầu tiên ghi nhận quyền được bảo đảm an sinh xã hội như một quyền hiến định của con người, đánh dấu bước phát triển quan trọng trong tư duy lập hiến về bảo đảm quyền con người ở Việt Nam. Sau hơn mười năm thi hành, quyền bảo đảm an sinh xã hội đã từng bước được thể chế hóa và hiện thực hóa thông qua hệ thống pháp luật và các chính sách an sinh xã hội, góp phần bảo đảm công bằng xã hội và phát triển con người. Bài viết làm rõ nội hàm hiến định của quyền được bảo đảm an sinh xã hội theo Hiến pháp năm 2013; đồng thời, đề xuất khung phân tích ba tầng để đánh giá việc thi hành quyền. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện theo hướng lấy quyền con người làm trung tâm, tăng cường quản trị quyền, nâng cao khả năng tiếp cận, tính bao trùm và hiệu quả bảo đảm quyền an sinh xã hội trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Từ khóa: Hiến pháp năm 2013; quyền con người; quyền được bảo đảm an sinh xã hội; thi hành Hiến pháp; quyền an sinh xã hội.

Abstract:  The 2013 Constitution marked the first time the right to social security was recognized as a constitutional human right, signifying a significant development in constitutional thinking regarding the protection and guarantee of human rights in Vietnam. Over more than a decade of implementation, this right has been progressively institutionalized and realized through the legal system and social security policies, contributing to social equity and human development. This article clarifies the constitutional content of the right to social security under the 2013 Constitution and proposes a three-tiered analytical framework to evaluate the implementation of this right. On that basis, the article proposes measures for improvement that prioritize a human-rights-centered approach, strengthen rights governance, and enhance accessibility, inclusivity, and effectiveness in guaranteeing the right to social security within the context of building a socialist rule-of-law State in Vietnam.

Keywords: 2013 Constitution; human rights; right to social security; implementation of the Constitution; social security rights.

1. Đặt vấn đề

Hiến pháp năm 2013 đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong tư duy lập hiến của Việt Nam khi lần đầu tiên tiếp cận quyền con người, quyền công dân theo hướng phù hợp với các chuẩn mực của pháp luật quốc tế về quyền con người. Nếu như các bản Hiến pháp trước đây chủ yếu quy định quyền và nghĩa vụ của công dân gắn với cơ chế quản lý của Nhà nước thì Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định rõ nguyên tắc: ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyền con người, quyền công dân được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật (Điều 14). Sự thay đổi này không chỉ mang ý nghĩa kỹ thuật lập hiến mà còn phản ánh sự chuyển biến từ tư duy “quy định quyền” sang tư duy “ghi nhận và bảo đảm thực hiện quyền”, trong đó Nhà nước giữ vai trò là chủ thể có trách nhiệm tạo lập các điều kiện pháp lý, thể chế và nguồn lực để hiện thực hóa các quyền hiến định.

Trong hệ thống các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa được Hiến pháp năm 2013 ghi nhận, quyền được bảo đảm an sinh xã hội quy định tại Điều 34 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây là một trong những quyền con người cơ bản, phản ánh bản chất nhân văn của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đồng thời là điều kiện để mỗi cá nhân được bảo đảm mức sống tối thiểu, giảm thiểu các rủi ro trong cuộc sống và có cơ hội phát triển toàn diện. Quyền này cũng là cơ sở hiến định để Nhà nước xây dựng và vận hành hệ thống an sinh xã hội đa tầng, bao gồm bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, trợ giúp xã hội, ưu đãi người có công, giảm nghèo bền vững và các chính sách hỗ trợ đối với các nhóm yếu thế trong xã hội.

Sau hơn mười năm thi hành Hiến pháp năm 2013, việc hiện thực hóa quyền được bảo đảm an sinh xã hội đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Hệ thống pháp luật về an sinh xã hội từng bước được hoàn thiện; phạm vi bao phủ của bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế tiếp tục được mở rộng; các chính sách trợ giúp xã hội, giảm nghèo, chăm sóc người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em và các nhóm dễ bị tổn thương ngày càng được quan tâm; đặc biệt, trong bối cảnh đại dịch Covid-19, Nhà nước đã triển khai nhiều chính sách hỗ trợ khẩn cấp nhằm bảo đảm đời sống của người dân và doanh nghiệp. Những kết quả đó cho thấy, quyền được bảo đảm an sinh xã hội đã từng bước được cụ thể hóa bằng hệ thống pháp luật và chính sách, góp phần bảo đảm ổn định xã hội và thúc đẩy phát triển bền vững.

Tuy nhiên, nhìn từ góc độ quyền con người, có thể thấy khoảng cách giữa việc ghi nhận quyền trong Hiến pháp và hiện thực hóa quyền trên thực tế vẫn còn tồn tại. Việc tiếp cận các chính sách an sinh xã hội giữa các nhóm dân cư chưa thực sự đồng đều; diện bao phủ của bảo hiểm xã hội còn hạn chế, nhất là đối với khu vực lao động phi chính thức; mức trợ giúp xã hội ở một số chính sách chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu sống tối thiểu; cơ chế bảo đảm quyền đối với các nhóm yếu thế còn gặp nhiều khó khăn về nguồn lực và tổ chức thực hiện. Bên cạnh đó, quá trình già hóa dân số, biến đổi khí hậu, dịch bệnh, chuyển đổi số, sự thay đổi của thị trường lao động và yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đang đặt ra nhiều thách thức mới đối với việc bảo đảm quyền an sinh xã hội trong giai đoạn hiện nay. Điều đó cho thấy, việc đánh giá thi hành Điều 34 Hiến pháp năm 2013 không thể chỉ dừng ở việc xem xét số lượng văn bản được ban hành hay kết quả thực hiện các chương trình an sinh xã hội, mà cần được xem xét trên cơ sở mức độ thực hiện các nghĩa vụ của Nhà nước trong việc tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người theo các chuẩn mực hiến định và pháp luật quốc tế.

2. Quyền được bảo đảm an sinh xã hội trong Hiến pháp năm 2013 từ góc độ quyền con người
2.1. Quyền được bảo đảm an sinh xã hội là một quyền con người cơ bản

Quyền được bảo đảm an sinh xã hội là một trong những quyền kinh tế, xã hội cơ bản của con người được cộng đồng quốc tế thừa nhận như một điều kiện thiết yếu để bảo đảm nhân phẩm, bình đẳng và phát triển con người. Khác với quan niệm truyền thống coi an sinh xã hội chủ yếu là chính sách phúc lợi hoặc công cụ điều tiết xã hội của Nhà nước, pháp luật quốc tế hiện đại tiếp cận an sinh xã hội trước hết như một quyền của mỗi cá nhân và đồng thời là nghĩa vụ pháp lý của Nhà nước trong việc tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm thực hiện quyền đó. Cách tiếp cận này được hình thành từ Điều 22 và Điều 25 của Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 (UDHR), được cụ thể hóa tại Điều 9 và Điều 11 của Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966 (ICESCR) và được giải thích toàn diện trong Bình luận chung số 19 (2007) của Ủy ban về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (CESCR).
Theo đó, quyền an sinh xã hội không chỉ bao gồm quyền được hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội mà còn bao hàm quyền được tiếp cận một hệ thống bảo vệ trước các rủi ro của cuộc sống như thất nghiệp, ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, khuyết tật, tuổi già hoặc mất nguồn thu nhập. Đồng thời, quyền này phải được bảo đảm trên cơ sở các nguyên tắc phổ quát của quyền con người như bình đẳng, không phân biệt đối xử, khả năng tiếp cận, tính đầy đủ, bền vững và trách nhiệm giải trình. Việc ghi nhận quyền được bảo đảm an sinh xã hội trong Hiến pháp không chỉ mang ý nghĩa xác lập một quyền hiến định của cá nhân mà còn tạo lập cơ sở pháp lý tối cao để Nhà nước xây dựng hệ thống thể chế và nguồn lực nhằm hiện thực hóa quyền trong thực tiễn. Do vậy, đánh giá việc thi hành các quy định của Hiến pháp về quyền bảo đảm an sinh xã hội không dừng lại ở việc xem xét số lượng chính sách được ban hành hay mức độ chi ngân sách cho an sinh xã hội, mà cần đánh giá liệu các chính sách và cơ chế thực thi có thực sự bảo đảm để mọi người được thụ hưởng quyền một cách bình đẳng, đầy đủ và hiệu quả hay không.
2.2. Nội hàm quyền được bảo đảm an sinh xã hội trong Hiến pháp năm 2013

Việc ghi nhận quyền được bảo đảm an sinh xã hội tại Điều 34 Hiến pháp năm 2013 là một bước phát triển quan trọng trong tư duy lập hiến của Việt Nam, phản ánh sự chuyển dịch từ cách tiếp cận coi an sinh xã hội là một chính sách phúc lợi sang cách tiếp cận coi đây là một quyền hiến định của con người. Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn nhận Điều 34 như một quy định độc lập thì sẽ chưa phản ánh đầy đủ giá trị và ý nghĩa của quyền này trong chỉnh thể Hiến pháp. Từ góc độ quyền con người, nội hàm của quyền được bảo đảm an sinh xã hội phải được hiểu trong mối liên hệ hữu cơ với các nguyên tắc hiến định, các quyền con người khác và các nghĩa vụ hiến định của Nhà nước được quy định xuyên suốt trong Hiến pháp năm 2013.

Thứ nhất, quyền được bảo đảm an sinh xã hội đặt trên nền tảng của nguyên tắc hiến định về tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người. Điều 14 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.” Đây không chỉ là quy định mang tính tuyên ngôn mà còn xác lập một nguyên tắc có ý nghĩa phương pháp luận đối với việc giải thích và thi hành các quyền được ghi nhận trong Hiến pháp, trong đó có quyền được bảo đảm an sinh xã hội. Theo đó, Nhà nước không chỉ có trách nhiệm ban hành chính sách an sinh xã hội mà còn phải thực hiện đầy đủ ba nhóm nghĩa vụ cơ bản là công nhận, tôn trọng quyền, bảo vệ quyền và bảo đảm thực hiện quyền. Chính nguyên tắc này đã tạo nên sự khác biệt căn bản giữa cách tiếp cận quyền con người với cách tiếp cận chính sách xã hội truyền thống.

Thứ hai, quyền được bảo đảm an sinh xã hội là sự cụ thể hóa mục tiêu xây dựng Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân được quy định tại Điều 2, Điều 3 Hiến pháp năm 2013. Điều 3 Hiến pháp năm 2013 quy định Nhà nước có trách nhiệm công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc và có điều kiện phát triển toàn diện. Quy định này cho thấy an sinh xã hội không chỉ là công cụ hỗ trợ những người gặp khó khăn mà còn là một phương thức hiến định để bảo đảm công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và thúc đẩy sự phát triển toàn diện của con người. Vì vậy, quyền được bảo đảm an sinh xã hội cần được hiểu như một bộ phận hữu cơ trong chiến lược phát triển con người của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Thứ ba, nội hàm của quyền được bảo đảm an sinh xã hội không thể tách rời nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử được quy định tại Điều 16 Hiến pháp năm 2013. Theo nguyên tắc này, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và không bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội. Nguyên tắc bình đẳng không chỉ đòi hỏi mọi cá nhân có quyền tiếp cận hệ thống an sinh xã hội mà còn yêu cầu Nhà nước có các biện pháp phù hợp nhằm bảo đảm khả năng tiếp cận thực chất đối với các nhóm yếu thế như người nghèo, người khuyết tật, người cao tuổi, trẻ em, phụ nữ mang thai, người lao động phi chính thức, đồng bào dân tộc thiểu số và những nhóm có nguy cơ bị tổn thương khác. Nói cách khác, bình đẳng trong bảo đảm quyền an sinh xã hội không đồng nhất với đối xử giống nhau mà là sự bảo đảm để mọi người đều có cơ hội thụ hưởng quyền trên cơ sở nhu cầu và điều kiện cụ thể của mình.

Thứ tư, quyền được bảo đảm an sinh xã hội có mối quan hệ chặt chẽ với nhiều quyền hiến định khác trong Hiến pháp năm 2013, tạo thành một hệ thống quyền kinh tế, xã hội và văn hóa thống nhất và đều có mối quan hệ tương hỗ với quyền được bảo đảm an sinh xã hội như: quyền làm việc và lựa chọn nghề nghiệp (Điều 35), quyền kết hôn và bảo hộ gia đình (Điều 36), quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe (Điều 38), quyền học tập (Điều 39), quyền nghiên cứu khoa học và sáng tạo (Điều 40), quyền được sống trong môi trường trong lành (Điều 43). Việc không bảo đảm một trong các quyền này có thể làm suy giảm khả năng thụ hưởng các quyền còn lại. Chẳng hạn, việc thiếu cơ hội việc làm bền vững sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tham gia bảo hiểm xã hội; hạn chế trong tiếp cận dịch vụ y tế sẽ làm gia tăng nguy cơ nghèo hóa do chi phí khám chữa bệnh; trong khi việc thiếu cơ hội học tập sẽ làm giảm khả năng tiếp cận thị trường lao động và các chế độ an sinh. Điều này cho thấy quyền được bảo đảm an sinh xã hội không tồn tại biệt lập mà được hiện thực hóa thông qua sự vận hành đồng bộ của toàn bộ hệ thống quyền kinh tế, xã hội và văn hóa được Hiến pháp ghi nhận.

Thứ năm, xét từ nội hàm của Điều 34 Hiến pháp năm 2013 và đối chiếu với các chuẩn mực quốc tế về quyền con người, quyền được bảo đảm an sinh xã hội có thể được nhận diện thông qua bốn thành tố cơ bản: (1) Quyền được tiếp cận hệ thống an sinh xã hội mà không bị phân biệt đối xử. (2) Quyền được thụ hưởng các chế độ an sinh xã hội phù hợp khi phát sinh các rủi ro hoặc hoàn cảnh theo quy định của pháp luật. (3) Quyền được bảo vệ trước các nguy cơ làm mất hoặc hạn chế khả năng tiếp cận các quyền an sinh xã hội. (4) Quyền được yêu cầu Nhà nước bảo đảm và khắc phục khi quyền bị xâm phạm hoặc không được thực hiện đầy đủ. Cách tiếp cận này cho thấy nội hàm của quyền an sinh xã hội không chỉ dừng lại ở việc “được hưởng” các chính sách an sinh mà còn bao gồm các bảo đảm về pháp lý, thể chế và cơ chế thực thi để quyền đó có thể được hiện thực hóa trên thực tế.

3. Đánh giá việc thi hành quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền được bảo đảm an sinh xã hội từ góc độ quyền con người

Thứ nhất, việc thực hiện nghĩa vụ hiến định của Nhà nước đối với quyền được bảo đảm an sinh xã hội.

Sau hơn mười năm thi hành Hiến pháp năm 2013, có thể khẳng định, Nhà nước đã từng bước thực hiện đầy đủ hơn các nghĩa vụ hiến định trong việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền được an sinh xã hội.

Trước hết, xét về nghĩa vụ công nhận, tôn trọng quyền, quyền được bảo đảm an sinh xã hội đã được ghi nhận nhất quán trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Nhiều văn bản quy phạm pháp luật quan trọng được ban hành hoặc sửa đổi theo hướng mở rộng phạm vi bảo vệ và tăng cường khả năng tiếp cận quyền, như: Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, Luật Bảo hiểm y tế năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2024), Luật Việc làm năm 2025, Luật Người cao tuổi năm 2009, Luật Người khuyết tật năm 2010. Những quy định này cho thấy quá trình thể chế hóa Điều 34 Hiến pháp năm 2013 không chỉ nhằm cụ thể hóa quyền hiến định mà còn từng bước tiệm cận các chuẩn mực quốc tế về quyền bảo đảm an sinh xã hội.

Xét về nghĩa vụ bảo vệ quyền, Nhà nước đã từng bước hoàn thiện các cơ chế pháp lý nhằm bảo vệ người tham gia và người thụ hưởng các chế độ an sinh xã hội. Hệ thống thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, an toàn lao động, tiền lương và bảo vệ người lao động tiếp tục được tăng cường; chế tài xử lý đối với các hành vi trốn đóng, chậm đóng hoặc chiếm dụng tiền bảo hiểm xã hội từng bước được hoàn thiện. Đồng thời, việc mở rộng trách nhiệm của người sử dụng lao động và tăng cường vai trò của các cơ quan quản lý nhà nước trong giám sát việc thực hiện chính sách an sinh xã hội đã góp phần hạn chế các hành vi xâm phạm quyền của người lao động.

Đối với nghĩa vụ bảo đảm thực hiện quyền, đây là lĩnh vực có nhiều chuyển biến rõ nét nhất. Hệ thống an sinh xã hội Việt Nam từng bước được phát triển theo hướng đa tầng, mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và trợ giúp xã hội; nhiều chương trình giảm nghèo bền vững, hỗ trợ người có công, trợ giúp người cao tuổi, người khuyết tật và các nhóm dễ bị tổn thương được triển khai đồng bộ. Đặc biệt, trong bối cảnh đại dịch Covid-19, việc ban hành và thực hiện các gói hỗ trợ khẩn cấp đã thể hiện năng lực ứng phó của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền an sinh xã hội trước các rủi ro bất thường. Tuy nhiên, nếu tiếp cận từ góc độ quyền con người, có thể nhận thấy việc thực hiện ba nhóm nghĩa vụ hiến định nêu trên vẫn chưa thực sự đồng đều. Khoảng cách giữa quy định của pháp luật và khả năng tiếp cận quyền trên thực tế vẫn còn tồn tại; năng lực bảo vệ quyền đối với khu vực lao động phi chính thức còn hạn chế; trong khi cơ chế trách nhiệm giải trình và bảo đảm quyền khi quyền bị xâm phạm chưa thật sự đáp ứng yêu cầu của một Nhà nước pháp quyền hiện đại.
Thứ hai, chu trình hiện thực hóa quyền được bảo đảm an sinh xã hội theo Hiến pháp năm 2013.

Từ góc độ quyền con người, việc thi hành Điều 34 Hiến pháp năm 2013 không phải là một hoạt động đơn lẻ mà là một quá trình liên tục nhằm chuyển hóa quyền hiến định thành quyền được thụ hưởng trên thực tế. Quá trình này diễn ra thông qua nhiều giai đoạn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, từ việc thể chế hóa quy định của Hiến pháp đến tổ chức thực hiện, tạo điều kiện để người dân tiếp cận quyền, bảo đảm khả năng thụ hưởng quyền và thiết lập các cơ chế bảo vệ quyền khi bị xâm phạm. Do đó, việc đánh giá thực trạng thi hành Điều 34 cần được thực hiện theo toàn bộ chu trình hiện thực hóa quyền thay vì chỉ xem xét kết quả của từng chính sách riêng lẻ.
(1) Mức độ thể chế hóa quyền hiến định về an sinh xã hội. Sau hơn mười năm thi hành Hiến pháp năm 2013, quyền được bảo đảm an sinh xã hội quy định tại Điều 34 đã được thể chế hóa tương đối toàn diện trong hệ thống pháp luật. Cùng với đó, nhiều nghị quyết của Đảng về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội đa tầng và bảo đảm an sinh bền vững đã tạo nền tảng chính trị quan trọng cho quá trình hoàn thiện thể chế. Từ góc độ quyền con người, điểm nổi bật của quá trình thể chế hóa không chỉ nằm ở số lượng văn bản pháp luật được ban hành mà ở sự chuyển dịch trong tư duy lập pháp. Nếu trước đây các chính sách an sinh xã hội chủ yếu được thiết kế theo hướng hỗ trợ các nhóm đối tượng cụ thể thì xu hướng hiện nay là mở rộng phạm vi bảo vệ, tăng cường tính bao phủ và hướng tới bảo đảm quyền của mọi người theo tinh thần Điều 14 và Điều 34 Hiến pháp năm 2013. Tuy nhiên, mức độ thể chế hóa vẫn còn một số khoảng trống. Một số quy định pháp luật còn phân tán ở nhiều văn bản khác nhau; tính liên kết giữa các trụ cột của hệ thống an sinh xã hội chưa thực sự đồng bộ; cơ chế bảo đảm quyền đối với khu vực lao động phi chính thức và các nhóm dễ bị tổn thương vẫn còn hạn chế. Điều đó cho thấy việc thể chế hóa Điều 34 tuy đã đạt được nhiều kết quả tích cực nhưng vẫn chưa hoàn toàn đáp ứng yêu cầu của một hệ thống bảo đảm quyền dựa trên cách tiếp cận quyền con người.
(2) Khả năng tiếp cận quyền được bảo đảm an sinh xã hội. Những năm gần đây, việc cải cách thủ tục hành chính, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, phát triển cơ sở dữ liệu bảo hiểm và đẩy mạnh chuyển đổi số đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân trong việc tiếp cận các chính sách an sinh xã hội. Nhiều thủ tục được thực hiện trực tuyến; việc chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội và trợ giúp xã hội từng bước được số hóa; dữ liệu giữa các cơ quan được kết nối, góp phần giảm chi phí giao dịch và nâng cao tính minh bạch trong thực hiện quyền. Tuy nhiên, từ góc độ quyền con người, khả năng tiếp cận quyền vẫn chưa thật sự bình đẳng. Người dân ở vùng sâu, vùng xa, người cao tuổi, người khuyết tật, đồng bào dân tộc thiểu số và lao động phi chính thức vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận thông tin, thực hiện thủ tục hoặc tham gia các chương trình bảo hiểm xã hội. Khoảng cách số và chênh lệch về điều kiện kinh tế – xã hội đang trở thành những rào cản mới đối với việc hiện thực hóa quyền được bảo đảm an sinh xã hội.
(3) Mức độ bao phủ của hệ thống an sinh xã hội. Thời gian qua diện bao phủ bảo hiểm y tế đã tăng mạnh, tiến gần mục tiêu bao phủ toàn dân; số người tham gia bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp tiếp tục gia tăng; mạng lưới trợ giúp xã hội thường xuyên được mở rộng; các chương trình giảm nghèo, hỗ trợ người có công, người cao tuổi, trẻ em và người khuyết tật được triển khai trên phạm vi cả nước. Những kết quả này phản ánh nỗ lực của Nhà nước trong việc mở rộng phạm vi bảo vệ quyền an sinh xã hội. Tuy nhiên, nếu đánh giá theo chuẩn mực quyền con người, mức độ bao phủ vẫn chưa đồng nghĩa với mức độ bảo đảm quyền. Một bộ phận lớn lao động phi chính thức vẫn chưa tham gia bảo hiểm xã hội; một số nhóm yếu thế chưa được bao phủ đầy đủ bởi các chương trình trợ giúp; sự khác biệt giữa các vùng miền về khả năng tiếp cận các dịch vụ an sinh xã hội vẫn còn khá rõ nét. Điều này cho thấy yêu cầu mở rộng phạm vi bao phủ cần gắn với việc bảo đảm tính bao trùm và không để ai bị bỏ lại phía sau.
(4) Chất lượng thực thi quyền. Thời gian qua, việc cải cách thủ tục hành chính, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, nâng cao năng lực quản lý và đổi mới phương thức cung cấp dịch vụ công đã góp phần cải thiện đáng kể chất lượng thực hiện các chính sách an sinh xã hội. Thời gian giải quyết hồ sơ được rút ngắn; việc chi trả các chế độ bảo hiểm và trợ giúp xã hội từng bước được thực hiện minh bạch, thuận tiện hơn. Tuy nhiên, chất lượng thực thi vẫn chưa đồng đều giữa các địa phương; một số chính sách còn chậm được triển khai hoặc chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người dân; năng lực phối hợp giữa các cơ quan trong quản lý an sinh xã hội còn hạn chế. Điều này cho thấy chất lượng thực thi không chỉ phụ thuộc vào quy định của pháp luật mà còn chịu tác động mạnh bởi năng lực quản trị công và chất lượng đội ngũ thực thi.
(5) Mức độ công bằng trong thụ hưởng quyền. Nhìn chung, hệ thống an sinh xã hội của Việt Nam đã có nhiều chính sách ưu tiên đối với các nhóm yếu thế, góp phần giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách phát triển và bảo đảm ổn định xã hội. Tuy nhiên, vẫn còn những khác biệt đáng kể trong khả năng tiếp cận và thụ hưởng quyền giữa các nhóm dân cư, giữa khu vực thành thị và nông thôn, giữa lao động chính thức và lao động phi chính thức. Những khác biệt này cho thấy, việc thực hiện nguyên tắc bình đẳng trong bảo đảm quyền an sinh xã hội vẫn cần tiếp tục được hoàn thiện. Điều đáng lưu ý là từ góc độ quyền con người, công bằng không có nghĩa là mọi người đều được hưởng các chế độ giống nhau mà là mọi người đều có cơ hội bình đẳng để tiếp cận và thụ hưởng quyền phù hợp với nhu cầu và hoàn cảnh của mình. Do đó, việc ưu tiên nguồn lực cho các nhóm dễ bị tổn thương không phải là sự ưu đãi đặc biệt mà chính là yêu cầu của nguyên tắc bình đẳng thực chất trong bảo đảm quyền con người.
Thứ ba, hiệu quả bảo đảm quyền được an sinh xã hội từ góc độ quyền con người.

Việc thi hành các quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền được bảo đảm an sinh xã hội không chỉ được đánh giá thông qua việc Nhà nước đã ban hành bao nhiêu văn bản pháp luật, triển khai bao nhiêu chương trình hay dành bao nhiêu nguồn lực cho lĩnh vực an sinh xã hội. Từ góc độ quyền con người, tiêu chí quan trọng hơn là mức độ mà người dân thực sự được thụ hưởng quyền được Hiến pháp ghi nhận. Nói cách khác, hiệu quả thi hành Điều 34 cần được nhìn nhận thông qua kết quả cuối cùng của quá trình hiện thực hóa quyền, đó là khả năng tiếp cận, thụ hưởng và bảo vệ quyền của các chủ thể trong đời sống xã hội.
Quyền được bảo đảm an sinh xã hội đã từng bước được hiện thực hóa trên thực tế, phạm vi bao phủ của bảo hiểm y tế được mở rộng theo hướng tiến tới bao phủ toàn dân; số người tham gia bảo hiểm xã hội tiếp tục tăng; mạng lưới trợ giúp xã hội được củng cố; các chính sách ưu đãi người có công, hỗ trợ người nghèo, người cao tuổi, người khuyết tật và trẻ em từng bước được hoàn thiện. Những kết quả này góp phần nâng cao mức sống của người dân, giảm thiểu tác động của các rủi ro kinh tế – xã hội và củng cố ổn định xã hội. Tuy nhiên, hiệu quả bảo đảm quyền vẫn chưa thực sự đồng đều giữa các nhóm đối tượng.
Người lao động trong khu vực phi chính thức, lao động có thu nhập thấp, người dân ở vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số và một số nhóm yếu thế khác vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận và duy trì việc thụ hưởng các chế độ an sinh xã hội. Khoảng cách này cho thấy việc bảo đảm quyền trên thực tế vẫn chịu ảnh hưởng đáng kể bởi điều kiện kinh tế, địa lý, nghề nghiệp và năng lực tiếp cận thông tin của từng nhóm dân cư.
Hệ thống an sinh xã hội ngày càng chú trọng bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương, nhưng tính bao trùm và khả năng thích ứng còn là những vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện. Một trong những yêu cầu cơ bản của cách tiếp cận dựa trên quyền con người là ưu tiên bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương. Trong thời gian qua, Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách hướng tới các nhóm này như người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người nghèo, người có công với cách mạng, người dân chịu ảnh hưởng bởi thiên tai, dịch bệnh và các biến cố xã hội. Đặc biệt, trong đại dịch Covid-19, nhiều gói hỗ trợ khẩn cấp đã được triển khai nhằm giảm thiểu tác động đối với người lao động và doanh nghiệp, thể hiện năng lực ứng phó của hệ thống an sinh xã hội trước các rủi ro bất thường.
Tuy nhiên, bối cảnh phát triển mới cũng đặt ra nhiều thách thức chưa từng có. Già hóa dân số diễn ra nhanh, quá trình chuyển đổi số làm thay đổi cấu trúc thị trường lao động, biến đổi khí hậu, thiên tai cực đoan và các rủi ro phi truyền thống ngày càng gia tăng. Những yếu tố này đòi hỏi hệ thống an sinh xã hội không chỉ duy trì chức năng hỗ trợ truyền thống mà còn phải nâng cao năng lực dự báo, phòng ngừa và thích ứng với các rủi ro mới. Điều đó đồng nghĩa với việc bảo đảm quyền an sinh xã hội không còn là vấn đề của riêng lĩnh vực lao động – xã hội mà trở thành yêu cầu của quản trị quốc gia trong bối cảnh phát triển bền vững.
Cơ chế bảo đảm quyền và trách nhiệm giải trình từng bước được tăng cường, nhưng vẫn cần tiếp tục hoàn thiện theo yêu cầu của Nhà nước pháp quyền. Hiến pháp năm 2013 xác lập nguyên tắc quyền con người được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm. Để nguyên tắc này được hiện thực hóa, ngoài hệ thống chính sách an sinh xã hội, cần có các cơ chế bảo đảm quyền đủ hiệu lực, bao gồm cơ chế giám sát, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm trong quá trình thực hiện pháp luật về an sinh xã hội. Thực tiễn cho thấy, các cơ chế này đã từng bước được hoàn thiện thông qua việc tăng cường vai trò của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các cơ quan thanh tra, kiểm toán, bảo hiểm xã hội và hệ thống tư pháp trong giám sát việc thực hiện chính sách an sinh xã hội. Đồng thời, việc đẩy mạnh cải cách hành chính, công khai, minh bạch thông tin và ứng dụng công nghệ số cũng góp phần nâng cao trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước.
Tuy nhiên, người dân, đặc biệt là các nhóm yếu thế, chưa phải lúc nào cũng có đủ khả năng tiếp cận các cơ chế bảo vệ quyền khi quyền lợi bị ảnh hưởng; việc phối hợp giữa các cơ quan trong giải quyết các vấn đề liên quan đến an sinh xã hội còn có những bất cập; công tác giám sát việc thực thi quyền ở một số nơi chưa thực sự hiệu quả. Điều này cho thấy yêu cầu hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền cần được đặt ra đồng thời với việc hoàn thiện chính sách và nâng cao năng lực tổ chức thực hiện.
Kết quả thi hành Điều 34 Hiến pháp năm 2013 cho thấy, sự chuyển biến tích cực trong tư duy bảo đảm quyền, nhưng vẫn cần tiếp tục chuyển từ quản lý an sinh xã hội sang quản trị quyền an sinh xã hội. Nếu trước đây an sinh xã hội thường được nhìn nhận chủ yếu như một chính sách hỗ trợ hoặc công cụ điều tiết xã hội thì ngày càng được tiếp cận như một quyền hiến định của con người và là trách nhiệm hiến định của Nhà nước. Sự thay đổi này được thể hiện trong quá trình hoàn thiện pháp luật, mở rộng phạm vi bao phủ của các chính sách an sinh xã hội và tăng cường bảo vệ các nhóm yếu thế. Mặc dù vậy, quá trình chuyển đổi này vẫn chưa hoàn tất. Trong không ít trường hợp, việc xây dựng và thực hiện chính sách vẫn thiên về tư duy quản lý hành chính hoặc hỗ trợ theo đối tượng hơn là bảo đảm quyền theo nguyên tắc phổ quát, bình đẳng và không phân biệt đối xử. Điều đó cho thấy, cùng với việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật, yêu cầu quan trọng trong giai đoạn tới là đổi mới tư duy quản trị, lấy quyền con người làm trung tâm của quá trình xây dựng và thực thi chính sách an sinh xã hội.
4. Định hướng hoàn thiện việc thi hành quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền được bảo đảm an sinh xã hội từ góc độ quyền con người
Một là, hoàn thiện thể chế theo hướng lấy quyền con người làm nền tảng của hệ thống an sinh xã hội. Hoàn thiện thể chế là điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa quyền được bảo đảm an sinh xã hội. Tuy nhiên, yêu cầu đặt ra hiện nay không chỉ là tiếp tục sửa đổi, bổ sung các đạo luật chuyên ngành mà quan trọng hơn là chuyển đổi tư duy lập pháp từ cách tiếp cận “quản lý đối tượng” sang cách tiếp cận “bảo đảm quyền”. Theo đó, quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, việc làm, trợ giúp xã hội và các lĩnh vực liên quan cần được đặt trong chỉnh thể của hệ thống quyền con người được Hiến pháp năm 2013 ghi nhận. Việc rà soát pháp luật cần hướng tới bảo đảm tính thống nhất giữa Điều 34 với các nguyên tắc hiến định về quyền con người, bình đẳng, không phân biệt đối xử và phát triển con người; đồng thời tăng cường nội luật hóa các chuẩn mực quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Trong quá trình sửa đổi pháp luật, cần chuyển trọng tâm từ việc quy định các chế độ, chính sách đơn lẻ sang thiết lập các cơ chế pháp lý bảo đảm để mọi người đều có khả năng tiếp cận và thụ hưởng quyền an sinh xã hội một cách bình đẳng, liên tục và bền vững.
Hai là, chuyển từ quản lý an sinh xã hội sang quản trị quyền an sinh xã hội. Một trong những yêu cầu quan trọng của giai đoạn phát triển mới là đổi mới mô hình quản trị đối với hệ thống an sinh xã hội. Nếu trước đây trọng tâm chủ yếu là quản lý các chương trình, đối tượng và nguồn lực thì hiện nay cần chuyển sang mô hình quản trị lấy quyền con người làm trung tâm. Theo cách tiếp cận này, mọi chính sách, chương trình và quyết định quản lý liên quan đến an sinh xã hội cần được đánh giá trước hết trên cơ sở tác động đối với việc thực hiện quyền của người dân. Nhà nước không chỉ đóng vai trò là chủ thể cung cấp dịch vụ công mà còn là chủ thể có nghĩa vụ hiến định trong việc tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền được an sinh xã hội. Đồng thời, cần tăng cường sự tham gia của người dân, các tổ chức xã hội trong quá trình xây dựng, thực hiện và giám sát chính sách, qua đó nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả thực thi.
Ba là, xây dựng hệ thống an sinh xã hội toàn diện, bao trùm và thích ứng với các rủi ro mới. Những biến đổi nhanh chóng của cơ cấu dân số, thị trường lao động, chuyển đổi số, biến đổi khí hậu và các rủi ro phi truyền thống đang đặt ra yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội theo hướng linh hoạt và thích ứng hơn. Việc mở rộng diện bao phủ của bảo hiểm xã hội cần gắn với các giải pháp phù hợp đối với lao động khu vực phi chính thức, lao động tự do và các hình thức việc làm mới trong nền kinh tế số. Đồng thời, cần tăng cường khả năng bảo vệ đối với các nhóm dễ bị tổn thương như người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em, phụ nữ, người di cư và đồng bào dân tộc thiểu số. Chính sách an sinh xã hội không chỉ hướng tới hỗ trợ khi rủi ro đã xảy ra mà cần phát triển theo hướng phòng ngừa rủi ro, tăng cường khả năng chống chịu và phục hồi của cá nhân, gia đình và cộng đồng trước các biến động kinh tế – xã hội.
Bốn là, đẩy mạnh chuyển đổi số nhằm nâng cao khả năng tiếp cận và hiệu quả bảo đảm quyền. Chuyển đổi số đang mở ra cơ hội quan trọng để nâng cao hiệu quả thi hành quyền được bảo đảm an sinh xã hội. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất, kết nối và chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan quản lý nhà nước sẽ góp phần đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm chi phí tuân thủ và nâng cao khả năng tiếp cận của người dân đối với các dịch vụ an sinh xã hội. Tuy nhiên, chuyển đổi số chỉ thực sự có ý nghĩa khi được triển khai trên cơ sở bảo đảm quyền con người. Vì vậy, cùng với việc phát triển hạ tầng số và dịch vụ công trực tuyến, cần có các giải pháp thu hẹp khoảng cách số giữa các vùng miền, hỗ trợ các nhóm yếu thế trong tiếp cận công nghệ và tăng cường bảo vệ dữ liệu cá nhân trong quá trình quản lý, cung cấp các dịch vụ an sinh xã hội. Đây cũng là yêu cầu quan trọng để bảo đảm nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử trong việc tiếp cận quyền.
Năm là, hoàn thiện cơ chế giám sát, trách nhiệm giải trình và bảo vệ quyền. Hiệu quả thi hành Hiến pháp không chỉ phụ thuộc vào chất lượng của các chính sách mà còn phụ thuộc vào hiệu quả của các cơ chế giám sát và bảo vệ quyền. Do đó, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội đối với việc thực hiện quyền được bảo đảm an sinh xã hội; đồng thời nâng cao hiệu lực của hoạt động thanh tra, kiểm tra và kiểm toán trong lĩnh vực này. Bên cạnh đó, cần tạo điều kiện để người dân, đặc biệt là các nhóm dễ bị tổn thương, có thể tiếp cận thuận lợi các cơ chế khiếu nại, tố cáo, khởi kiện và các phương thức bảo vệ quyền khác khi quyền được bảo đảm an sinh xã hội bị xâm phạm. Việc hoàn thiện cơ chế trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả thực thi chính sách mà còn củng cố niềm tin của người dân đối với Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

5. Kết luận

Hiến pháp năm 2013 thể hiện sự chuyển biến từ tư duy coi an sinh xã hội là chính sách phúc lợi sang tư duy coi đây là quyền cơ bản mà Nhà nước có trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm thực hiện. Để tiếp tục nâng cao hiệu quả thi hành Hiến pháp, cần hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng lấy quyền con người làm nền tảng; đổi mới mô hình quản trị từ quản lý an sinh xã hội sang quản trị quyền an sinh xã hội; xây dựng hệ thống an sinh xã hội toàn diện, bao trùm và thích ứng với các rủi ro mới; đẩy mạnh chuyển đổi số gắn với bảo đảm quyền con người; đồng thời, tăng cường các cơ chế giám sát, trách nhiệm giải trình và bảo vệ quyền. Đây không chỉ là yêu cầu của quá trình hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà còn là điều kiện để hiện thực hóa đầy đủ giá trị của Hiến pháp năm 2013 trong bảo đảm quyền con người và phát triển bền vững đất nước.

Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương (2022). Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09 tháng 11 năm 2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Đại hội đồng Liên Hợp Quốc (1948). Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (UDHR).
Đại hội đồng Liên Hợp Quốc (1966a). Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR).
Đại hội đồng Liên Hợp Quốc (1966b). Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR).|
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII: Tập I. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV: Tập I, II. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
Nguyễn Thị Thu Hà (14/5/2026). Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về an sinh xã hội theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/05/14/nang-cao-hieu-qua-quan-ly-nha-nuoc-ve-an-sinh-xa-hoi-theo-tinh-than-nghi-quyet-dai-hoi-xiv-cua-dang/
Phạm Thị Vân Hạnh & Nguyễn Thị Hưng (29/6/2026). Kinh nghiệm quốc tế trong bảo đảm an sinh xã hội và hàm ý chính sách cho đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế ở tỉnh Nghệ An. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/06/29/kinh-nghiem-quoc-te-trong-bao-dam-an-sinh-xa-hoi-va-ham-y-chinh-sach-cho-doi-moi-mo-hinh-tang-truong-kinh-te-o-tinh-nghe-an/
Quốc hội (2008). Luật Bảo hiểm y tế năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014năm 2024).
Quốc hội (2009). Luật Người cao tuổi năm 2009.
Quốc hội (2010). Luật Người khuyết tật năm 2010.
Quốc hội (2013). Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.
Quốc hội (2024). Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024.
Quốc hội (2025). Luật Việc làm năm 2025.