Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) tỉnh Thanh Hóa: từ cải thiện thứ hạng đến nâng cao chất lượng điều hành

Provincial Competitiveness Index (PCI) in Thanh Hoa: from improving its ranking to enhancing the quality of governance

Võ Văn Mạnh
NCS Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội

(Quanlynhanuoc.vn) – Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) là công cụ quan trọng đánh giá chất lượng điều hành kinh tế và môi trường kinh doanh địa phương thông qua đánh giá của cộng đồng doanh nghiệp. Mặc dù sở hữu nhiều tiềm năng, tỉnh Thanh Hóa vẫn đối mặt với thứ hạng PCI trung bình và có giai đoạn suy giảm do các điểm nghẽn hệ thống về minh bạch, cải cách thủ tục hành chính, cạnh tranh bình đẳng, chất lượng nhân lực và chuyển đổi số. Bài viết đánh giá thực trạng, làm rõ nguyên nhân và đề xuất các giải pháp tập trung chuyển đổi từ cải thiện thứ hạng sang nâng cao chất lượng thể chế, xây dựng chính quyền phục vụ, tăng minh bạch, bảo đảm cạnh tranh bình đẳng, phát triển nguồn nhân lực và đẩy mạnh chuyển đổi số. Kết quả nhấn mạnh, cải cách thể chế sâu rộng và nâng cao năng lực thực thi là chìa khóa để tỉnh Thanh Hóa nâng cao năng lực cạnh tranh bền vững.

Từ khóa: PCI; năng lực cạnh tranh cấp tỉnh; chất lượng thể chế; cải cách hành chính; tỉnh Thanh Hóa.

Abstract: The PCI is a vital indicator of local economic governance and the business environment, as perceived by the business community. Despite its significant potential, Thanh Hoa’s PCI has remained at a moderate level, with periods of decline due to systemic bottlenecks in transparency, administrative reform, fair competition, human resource quality, and digital transformation. This article assesses the current situation, identifies the underlying causes, and proposes solutions aimed at shifting the focus from improving the ranking to enhancing institutional quality, building service-oriented government, increasing transparency, ensuring fair competition, developing human resources, and accelerating digital transformation. The findings highlight that comprehensive institutional reforms and enhanced implementation capacity are key to improving Thanh Hoa’s sustainable competitiveness.

Keywords: PCI; provincial competitiveness; institutional quality; administrative reform; Thanh Hoa.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh giữa các địa phương ngày càng gia tăng, năng lực điều hành kinh tế của chính quyền cấp tỉnh trở thành yếu tố quan trọng quyết định khả năng thu hút đầu tư và thúc đẩy tăng trưởng. Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) được xây dựng trên cơ sở khảo sát cộng đồng doanh nghiệp, là công cụ phản ánh tương đối toàn diện chất lượng điều hành kinh tế và môi trường kinh doanh ở cấp địa phương.

Thanh Hóa là tỉnh có quy mô lớn, giữ vị trí chiến lược tại khu vực Bắc Trung Bộ, đạt nhiều kết quả tích cực về tăng trưởng kinh tế, phát triển công nghiệp và hạ tầng, với động lực quan trọng từ Khu kinh tế Nghi Sơn. Tuy nhiên, kết quả PCI trong những năm gần đây cho thấy, môi trường đầu tư – kinh doanh của tỉnh chưa thực sự tương xứng với tiềm năng và lợi thế. Thứ hạng PCI còn ở mức trung bình thấp và có xu hướng giảm, phản ánh những hạn chế trong cải cách thủ tục hành chính, tính minh bạch, chất lượng nguồn nhân lực và mức độ cạnh tranh trên địa bàn.

Từ thực tiễn đó, việc phân tích một cách hệ thống thực trạng PCI của tỉnh Thanh Hóa, nhận diện các nguyên nhân chủ yếu và đề xuất giải pháp phù hợp là cần thiết nhằm nâng cao chất lượng điều hành kinh tế, cải thiện môi trường đầu tư – kinh doanh và tăng cường năng lực cạnh tranh của địa phương trong giai đoạn tới.

2. Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và chỉ số PCI

2.1. Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh từ góc độ thể chế

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, cạnh tranh giữa các địa phương không chỉ dựa trên lợi thế về tài nguyên hay quy mô kinh tế mà ngày càng phụ thuộc vào chất lượng thể chế và hiệu quả quản trị công. Theo cách tiếp cận của kinh tế học thể chế, năng lực cạnh tranh cấp tỉnh có thể được hiểu là khả năng của chính quyền địa phương trong việc kiến tạo một môi trường đầu tư – kinh doanh thuận lợi, minh bạch, ổn định và có khả năng dự báo.

Ở cấp địa phương, chất lượng thể chế không chỉ thể hiện ở hệ thống quy định mà quan trọng hơn là ở năng lực tổ chức thực thi chính sách. Những yếu tố, như: tính minh bạch, chi phí tuân thủ, mức độ bảo đảm quyền tài sản và tính công bằng trong cạnh tranh có tác động trực tiếp đến chi phí giao dịch và niềm tin của doanh nghiệp. Do đó, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh về bản chất là quá trình cải thiện chất lượng thể chế và hiệu quả điều hành của chính quyền địa phương.

2.2. Chỉ số PCI – thước đo chất lượng thể chế ở địa phương

Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) được xây dựng trên cơ sở khảo sát cộng đồng doanh nghiệp, phản ánh cảm nhận của các chủ thể trực tiếp tham gia hoạt động sản xuất – kinh doanh. Khác với các chỉ số đánh giá từ phía cơ quan quản lý, PCI tiếp cận từ góc độ “trải nghiệm thực tế”, do đó, có khả năng phản ánh sát hơn hiệu quả thực thi chính sách.

Về bản chất, PCI là một chỉ báo thực nghiệm của chất lượng thể chế kinh tế cấp tỉnh, được cấu thành từ các nhóm yếu tố, như: tính minh bạch, chi phí gia nhập thị trường, chi phí thời gian, chi phí không chính thức, cạnh tranh bình đẳng và chất lượng dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp. Các thành phần này không tồn tại độc lập mà phản ánh ba trụ cột cốt lõi của quản trị địa phương, bao gồm: mức độ trách nhiệm giải trình và tính phản hồi của chính quyền; năng lực xây dựng và thực thi chính sách và mức độ thượng tôn pháp luật và kiểm soát hành vi phi chính thức. Cách tiếp cận này cho phép nhìn nhận PCI không chỉ như một công cụ xếp hạng, mà là một khung phân tích chất lượng thể chế địa phương.

2.3. Các nhân tố chi phối năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

Từ góc độ lý luận, PCI chịu tác động của một hệ thống các yếu tố có mối quan hệ tương tác chặt chẽ. Trước hết là năng lực điều hành của chính quyền, thể hiện qua khả năng tổ chức thực thi chính sách và mức độ chủ động trong hỗ trợ doanh nghiệp. Tiếp đến là mức độ minh bạch và chi phí tuân thủ, có ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí giao dịch và mức độ thuận lợi của môi trường kinh doanh. Bên cạnh đó, tính công bằng trong cạnh tranh và hiệu quả thực thi pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành niềm tin thị trường.

Ngoài ra, các yếu tố nền tảng, như: chất lượng nguồn nhân lực, hạ tầng kinh tế – xã hội và mức độ ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số cũng góp phần quyết định hiệu quả điều hành và khả năng cải thiện PCI. Sự kết hợp của các yếu tố này tạo thành cấu trúc tổng thể của môi trường thể chế địa phương.

2.4. Hàm ý lý luận cho cải thiện PCI

Từ các phân tích trên có thể rút ra một số hàm ý lý luận quan trọng. (1) PCI không đơn thuần là kết quả của các biện pháp cải cách riêng lẻ mà phản ánh tổng thể chất lượng thể chế và năng lực quản trị công. (2) Việc cải thiện PCI cần được tiếp cận theo hướng hệ thống, gắn với nâng cao hiệu quả thực thi chính sách, tăng cường minh bạch và kiểm soát chi phí phi chính thức. (3) Trong bối cảnh chuyển đổi số và cải cách hành chính hiện nay, đổi mới phương thức quản trị và ứng dụng công nghệ trở thành yếu tố quan trọng giúp nâng cao chất lượng điều hành. Những hàm ý này là cơ sở để phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Thanh Hóa.
3. Thực trạng chỉ số PCI của tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2023 – 2025
Thanh Hóa là địa phương có quy mô dân số và diện tích lớn, giữ vai trò kết nối giữa vùng đồng bằng sông Hồng với Bắc Trung Bộ và được xác định là một cực tăng trưởng mới theo Nghị quyết số 58-NQ/TW ngày 05/8/2020 của Bộ Chính trị. Những năm gần đây, tỉnh duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa với động lực chủ yếu từ Khu kinh tế Nghi Sơn và hệ thống các khu công nghiệp trọng điểm. Cùng với đó, kết cấu hạ tầng giao thông, hạ tầng logistics, hạ tầng số và cải cách hành chính tiếp tục được quan tâm đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho thu hút đầu tư và phát triển doanh nghiệp.
Sự chuyển biến về điều kiện phát triển từng bước được phản ánh qua kết quả PCI trong giai đoạn gần đây. Sau khi rơi xuống vị trí 47/63 tỉnh, thành phố năm 2022, Thanh Hóa đã cải thiện đáng kể, đạt 66,79 điểm và xếp thứ 30 năm 2023; đến năm 2024 tiếp tục tăng lên 68,74 điểm, xếp thứ 21 cả nước (Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, 06/5/2025). Diễn biến này cho thấy, môi trường đầu tư – kinh doanh của tỉnh đã có sự cải thiện tương đối rõ nét, phản ánh hiệu quả bước đầu của các chương trình cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư và chuyển đổi số trong quản lý nhà nước.
Báo cáo PCI 2025 tiếp tục cho thấy, nhiều tín hiệu tích cực trong chất lượng điều hành kinh tế của tỉnh Thanh Hóa. Mặc dù tỉnh vẫn được xếp trong nhóm địa phương có chất lượng điều hành ở mức trung bình, song một số chỉ số thành phần đã vượt mức trung vị của cả nước. Cụ thể, gia nhập thị trường đạt 8,06 điểm, cao hơn mức trung vị toàn quốc (7,07 điểm); chi phí tuân thủ đạt 7,49 điểm, cao hơn trung vị (7,31 điểm); chi phí không chính thức đạt 7,92 điểm, cao hơn trung vị (7,60 điểm); thiết chế pháp lý đạt 7,59 điểm, vượt mức trung vị (7,29 điểm). Đặc biệt, Thanh Hóa đứng thứ hai cả nước về tỷ lệ doanh nghiệp hoàn thành đầy đủ thủ tục để đi vào hoạt động hợp pháp trong thời gian không quá một tuần, đạt 68,5% (Minh Hiền, 2026). Những kết quả này phản ánh nỗ lực cải cách thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ và ứng dụng chuyển đổi số trong đăng ký doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, Báo cáo kinh tế tư nhân năm 2025 ghi nhận, tỷ lệ doanh nghiệp tại Thanh Hóa kinh doanh có lãi ước đạt 65,26%; trong đó, có tới 37,38% doanh nghiệp dự kiến mở rộng sản xuất, kinh doanh trong 2 năm tới (Minh Hằng, 15/5/2026). Những chỉ số này phản ánh mức độ cải thiện về niềm tin của khu vực doanh nghiệp đối với triển vọng phát triển của địa phương, đồng thời cho thấy các chính sách cải thiện môi trường đầu tư đã bắt đầu tạo tác động tích cực đến hoạt động sản xuất – kinh doanh.
Mặc dù PCI của tỉnh Thanh Hóa đã cải thiện đáng kể trong giai đoạn 2023 – 2025, phân tích các chỉ số thành phần cho thấy những hạn chế của tỉnh chủ yếu tập trung ở chất lượng thể chế và hiệu quả thực thi chính sách hơn là ở điều kiện phát triển kinh tế.
Thứ nhất, khả năng tiếp cận các nguồn lực sản xuất, đặc biệt là đất đai vẫn là một trong những điểm nghẽn quan trọng. Quá trình giao đất, cho thuê đất, giải phóng mặt bằng và hoàn thiện thủ tục đầu tư tại một số địa phương còn kéo dài, làm gia tăng chi phí thời gian và chi phí cơ hội của doanh nghiệp. Báo cáo PCI 2025 cho thấy, chỉ số tiếp cận đất đai của Thanh Hóa chỉ đạt 4,90 điểm, thấp hơn mức trung vị của cả nước, phản ánh khả năng tiếp cận nguồn lực của doanh nghiệp vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển (Minh Hằng, 15/5/2026).
Thứ hai, chất lượng cạnh tranh trên thị trường địa phương. Mặc dù môi trường đầu tư đã có nhiều cải thiện, doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn gặp không ít khó khăn trong tiếp cận đất đai, tín dụng, thông tin và cơ hội tham gia các dự án đầu tư. Chỉ số cạnh tranh bình đẳng đạt 5,36 điểm, thấp hơn mức trung vị toàn quốc cho thấy, việc phân bổ nguồn lực giữa các khu vực doanh nghiệp chưa thực sự bình đẳng, làm giảm động lực đầu tư và đổi mới sáng tạo của khu vực kinh tế tư nhân (Minh Hằng, 15/5/2026).
Thứ ba, vai trò kiến tạo và hỗ trợ doanh nghiệp của chính quyền địa phương vẫn chưa theo kịp yêu cầu phát triển. Báo cáo PCI 2025 ghi nhận, chỉ số chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đạt 5,16 điểm và chỉ số chính quyền kiến tạo đạt 5,29 điểm đều ở mức chưa cao (Minh Hằng, 15/5/2026). Điều này phản ánh khoảng cách giữa chủ trương cải cách của tỉnh với chất lượng thực thi ở cấp cơ sở; sự phối hợp giữa các cơ quan trong giải quyết thủ tục hành chính và hỗ trợ doanh nghiệp chưa thật sự đồng bộ.
Thứ tư, chất lượng nguồn nhân lực cũng tiếp tục là yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của địa phương. Mặc dù tỉnh Thanh Hóa có lợi thế về quy mô lao động, song tỷ lệ lao động có kỹ năng nghề, kỹ năng quản trị và kỹ năng số đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp còn hạn chế. Sự thiếu gắn kết giữa cơ sở đào tạo với nhu cầu của thị trường lao động khiến nhiều doanh nghiệp phải đào tạo lại sau tuyển dụng, làm tăng chi phí sản xuất và ảnh hưởng đến khả năng thu hút các dự án có hàm lượng công nghệ cao.
Đáng chú ý, các điểm nghẽn nêu trên có mối quan hệ tác động qua lại. Khả năng tiếp cận nguồn lực hạn chế làm gia tăng chi phí gia nhập thị trường; cạnh tranh chưa bình đẳng làm giảm động lực đổi mới của doanh nghiệp; trong khi năng lực thực thi chính sách và chất lượng nguồn nhân lực lại quyết định hiệu quả của toàn bộ quá trình cải cách. Điều này cho thấy, chỉ số PCI của tỉnh không chỉ nằm ở một vài chỉ số thành phần mà phản ánh những hạn chế mang tính hệ thống của chất lượng quản trị địa phương.
4. Một số giải pháp
Thứ nhất, nâng cao chất lượng thể chế thay vì chạy theo thứ hạng.

Từ kết quả phân tích thực trạng cho thấy, những hạn chế của PCI tại Thanh Hóa không chỉ xuất phát từ sự suy giảm của các chỉ số thành phần mà phản ánh những điểm nghẽn mang tính cấu trúc của hệ thống quản trị địa phương. Vì vậy, việc nâng cao PCI cần được tiếp cận theo hướng chuyển từ cải thiện thứ hạng sang nâng cao chất lượng thể chế và hiệu quả điều hành kinh tế.

Theo đó, cải cách cần dựa trên ba trụ cột: chuyển đổi mạnh mẽ từ mô hình quản lý hành chính sang mô hình chính quyền phục vụ doanh nghiệp; bảo đảm tính nhất quán giữa cải cách chính sách và năng lực thực thi ở cấp cơ sở; gắn cải cách thể chế với chuyển đổi số nhằm nâng cao minh bạch, giảm chi phí giao dịch và tăng tính dự báo của môi trường kinh doanh. Đây là điều kiện nền tảng để các giải pháp cụ thể phát huy hiệu quả một cách bền vững.
Thứ hai, xử lý các điểm nghẽn và nâng cao hiệu quả thực thi.

Trước hết, cần cải thiện điều kiện gia nhập thị trường và khả năng tiếp cận nguồn lực, đặc biệt là đất đai, thông qua việc đơn giản hóa và chuẩn hóa thủ tục hành chính theo hướng giảm thời gian, chi phí và rủi ro cho doanh nghiệp. Việc công khai thông tin quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và quy trình giải quyết thủ tục trên nền tảng số sẽ góp phần giảm bất cân xứng thông tin và hạn chế chi phí không chính thức. Cùng với đó, bảo đảm cạnh tranh bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp là yêu cầu mang tính then chốt. Điều này đòi hỏi phải rà soát các cơ chế ưu đãi, loại bỏ các yếu tố phân biệt đối xử trong tiếp cận nguồn lực và tăng cường giám sát thực thi, qua đó, củng cố niềm tin của khu vực tư nhân và nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực trong nền kinh tế.

Một trụ cột quan trọng khác là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực theo hướng gắn kết chặt chẽ với nhu cầu của doanh nghiệp. Việc chuyển từ đào tạo theo khả năng cung ứng sang đào tạo theo nhu cầu thị trường; đồng thời, chú trọng kỹ năng thực hành và kỹ năng số sẽ góp phần nâng cao năng suất lao động và khả năng hấp thụ đầu tư của địa phương.

Ở tầm thể chế, cần tăng cường minh bạch và trách nhiệm giải trình trong toàn bộ quá trình xây dựng và thực thi chính sách. Đồng thời, nâng cao hiệu quả thiết chế pháp lý thông qua việc chuẩn hóa quy trình giải quyết tranh chấp, cải thiện chất lượng dịch vụ pháp lý và siết chặt kỷ luật hành chính. Vai trò của người đứng đầu cần được gắn trực tiếp với kết quả cải thiện môi trường kinh doanh, qua đó tạo động lực cải cách thực chất.

Bên cạnh đó, cần phát huy tính năng động và vai trò kiến tạo của chính quyền thông qua cơ chế đối thoại doanh nghiệp thường xuyên, thực chất và có phản hồi rõ ràng. Chính quyền không chỉ dừng ở việc giải quyết vướng mắc mà cần chủ động nhận diện và tháo gỡ các rào cản thể chế, qua đó nâng cao khả năng thích ứng trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt.
Thứ ba, bảo đảm tính bền vững của cải cách trong bối cảnh tái cấu trúc bộ máy.

Trong bối cảnh tinh giản tổ chức bộ máy và chuyển đổi mô hình chính quyền địa phương, đây cũng là cơ hội để nâng cao hiệu quả quản trị nếu được triển khai đồng bộ. Việc chuẩn hóa quy trình hành chính, phát triển nền tảng số dùng chung và nâng cao năng lực thực thi ở cấp cơ sở sẽ giúp giảm chồng chéo, rút ngắn thời gian xử lý và nâng cao chất lượng dịch vụ công. Quan trọng hơn, cần từng bước hình thành mô hình “chính quyền phục vụ doanh nghiệp” ở cấp cơ sở, kết hợp với cơ chế giám sát minh bạch và hệ thống phản hồi hiệu quả. Khi đó, cải cách tổ chức không chỉ là điều chỉnh bộ máy mà trở thành động lực trực tiếp nâng cao chất lượng thể chế và năng lực cạnh tranh của địa phương.

5. Kết luận

Bài viết tiếp cận vấn đề nâng cao PCI của Thanh Hóa từ góc độ chất lượng thể chế và hiệu quả điều hành kinh tế. Phân tích cho thấy những hạn chế của tỉnh không chỉ nằm ở thứ hạng mà chủ yếu xuất phát từ các điểm nghẽn hệ thống về minh bạch chính sách, cạnh tranh bình đẳng, tiếp cận nguồn lực và chất lượng nguồn nhân lực. Mặc dù đã có những cải thiện gần đây, xu hướng này chưa bền vững nếu thiếu cải cách đồng bộ. Bài viết nhấn mạnh cần chuyển đổi mô hình quản trị từ “quản lý” sang “phục vụ doanh nghiệp”, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình, đẩy mạnh chuyển đổi số và nâng cao năng lực thực thi ở cấp cơ sở. Chỉ khi thực hiện nhất quán các giải pháp này, tỉnh Thanh Hóa mới phát huy được tiềm năng, xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi và nâng cao vị thế cạnh tranh bền vững trong dài hạn.

Tài liệu tham khảo:
Ambastha and Momaya (2004). Competitiveness of Firms: Review of Theory. Frameworks and Models.
Ban Tuyên giáo Trung ương (2011). Tài liệu phục vụ nghiên cứu các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứXII của Đảng. H. NXB Chính trị quốc gia.
Barney, J. (1991). Firm Resources and Sustained Competitive.Journal of Management, 99-120.
Barney, J. B. (2001). Resource-based theories of competitive advantage: A ten- year retrospective on the resource-based view. Journal of Management, 643-650.
Beamon, B.M.(1998). Supply chain design and analysis: Models and Methods. International Journal of Production
Bộ Chính trị (2013). Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/4/2013 về hội nhập quốc tế.
Bộ Chính trị (2020). Nghị quyết số 58-NQ/TW ngày 05/8/2020 về xây dựng và phát triển tỉnh Thanh Hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Bộ Tư pháp (2013). Báo cáo số 11/BC-BTP ngày 14/01/2013 về tình hình thực hiện công tác cải cách thủ tục hành chính tại các bộ, ngành, địa phương trong năm 2012.
Chính phủ (2004). Nghị quyết số 08/NQ-CP ngày 30/6/2004 về tiếp tục đẩy mạnh phân cấp quản lý nhà nước giữa Chính phủ và chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (06/5/2025). Thanh Hóa tăng 9 bậc trên bảng xếp PCI. https://pcivietnam.vn/tin-tuc-su-kien/thanh-hoa-tang-9-bac-tren-bang-xep-pci-ct4504.html
Minh Hiền (18/5/2026). PCI 2025: Những tín hiệu tích cực của Thanh Hóa. Tạp chí điện tử Doanh nghiệp và Hội nhập. https://doanhnghiephoinhap.vn/pci-2025-nhung-tin-hieu-tich-cuc-cua-thanh-hoa-136179.html
Minh Hằng (15/5/2026). 37,38% doanh nghiệp Thanh Hóa dự kiến mở rộng sản xuất, kinh doanh trong 2 năm tới. Báo Thanh Hóa. https://baothanhhoa.vn/37-38-doanh-nghiep-thanh-hoa-du-kien-mo-rong-san-xuat-kinh-doanh-trong-2-nam-toi-287779.htm