Sự chuyển biến của Phật giáo Bình Dương trong bối cảnh công nghiệp hóa, đô thị hóa và hội nhập quốc tế (1997- 2024)

The transformation of Buddhism in Bình Dương amid industrialization, urbanization, and international integration (1997- 2024)

TS. Nguyễn Phương Lan
Trường Đại học Thủ Dầu Một, TP. Hồ Chí Minh
Email: phuonglan1071@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Giai đoạn 1997–2024, công nghiệp hóa, đô thị hóa và hội nhập quốc tế đã làm biến đổi sâu sắc cơ cấu kinh tếxã hội và dân cư của Bình Dương, đồng thời tạo ra những yêu cầu mới đối với hoạt động Phật giáo. Trên cơ sở phương pháp lịch sử và logic, kết hợp phân tích tư liệu Giáo hội, số liệu thống kê và khảo sát thực địa, bài viết phân tích sự chuyển biến của Phật giáo Bình Dương về tổ chức, hoạt động và chức năng xã hội. Kết quả cho thấy Phật giáo Bình Dương vừa duy trì các giá trị truyền thống, vừa đổi mới phương thức hoạt động và mở rộng vai trò xã hội để thích ứng với bối cảnh phát triển mới. Nghiên cứu góp phần làm rõ mối quan hệ giữa tôn giáo và phát triển ở Việt Nam đương đại.

Từ khóa: Công nghiệp hóa; chuyển biến; đô thị hóa; hội nhập quốc tế; Phật giáo Bình Dương.

Abstract: From 1997 to 2024, industrialization, urbanization, and international integration profoundly transformed the economic, social, and demographic structure of Bình Dương, creating new demands for Buddhist activities. Using historical and logical approaches and drawing on official Buddhist documents, statistical data, and fieldwork findings, this study examines the transformation of Buddhism in Bình Dương in terms of organization, activities, and social functions. The findings show that Buddhism in Bình Dương has preserved its traditional values while renewing its operational methods and expanding its social role in response to a changing socio-economic context. The study contributes to a better understanding of the relationship between religion and development in contemporary Vietnam.

Keywords: Bình Dương Buddhism; industrialization; international integration.transformation; ; urbanization;

1. Đặt vấn đề

Từ sau công cuộc Đổi mới (1986), công nghiệp hóa, đô thị hóa và hội nhập quốc tế đã làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội và tôn giáo ở Việt Nam. Sự phát triển của các khu công nghiệp, gia tăng dân số cơ học, mở rộng giao lưu quốc tế và chuyển đổi số không chỉ thay đổi cấu trúc kinh tế – xã hội mà còn đặt các tổ chức tôn giáo trước yêu cầu điều chỉnh tổ chức, phương thức hoạt động và mở rộng chức năng xã hội để đáp ứng những nhu cầu mới của cộng đồng.

Bình Dương là một trường hợp tiêu biểu của quá trình chuyển đổi này. Từ khi tái lập tỉnh năm 1997, Bình Dương đã trở thành một trong những trung tâm công nghiệp và thu hút đầu tư nước ngoài hàng đầu cả nước, kéo theo sự biến đổi mạnh mẽ về dân cư, không gian văn hóa và đời sống tín ngưỡng. Trong bối cảnh đó, Phật giáo – tôn giáo có lịch sử lâu đời và mạng lưới tự viện rộng khắp đã có nhiều chuyển biến về tổ chức, phương thức hoạt động và vai trò xã hội.

2. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

2.1. Khung phân tích

Bài viết tiếp cận Phật giáo như một chủ thể xã hội có khả năng thích ứng với những biến đổi của môi trường kinh tế – xã hội. Khung phân tích được xây dựng trên cơ sở kết hợp các quan điểm về tôn giáo công cộng (Casanova), bản địa hóa trong toàn cầu hóa (Robertson), hiện đại hóa đa dạng (Eisenstadt) và vốn xã hội tôn giáo (Putnam). Theo đó, công nghiệp hóa, đô thị hóa và hội nhập quốc tế được xem là những động lực tạo ra sự thay đổi của môi trường xã hội; trong khi Phật giáo Bình Dương được xem xét như một chủ thể vừa bảo tồn các giá trị truyền thống, vừa thích ứng thông qua điều chỉnh tổ chức, phương thức hoạt động và mở rộng chức năng xã hội. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích sự chuyển biến của Phật giáo trên các phương diện: tổ chức Giáo hội, mạng lưới tự viện, hoằng pháp, giáo dục tăng ni, an sinh xã hội, bảo tồn văn hóa và chuyển đổi số.

2.2. Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

Nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận liên ngành giữa sử học, tôn giáo học và xã hội học tôn giáo. Phương pháp lịch sử và phương pháp logic được sử dụng làm nền tảng để tái hiện và phân tích quá trình chuyển biến của Phật giáo Bình Dương trong giai đoạn 1997 – 2024. Bên cạnh đó, bài viết kết hợp các phương pháp phân tích – tổng hợp, thống kê mô tả và khảo sát thực địa nhằm đối chiếu giữa tư liệu lịch sử, số liệu thống kê và thực tiễn hoạt động Phật giáo.

Nguồn dữ liệu bao gồm văn bản của Đảng và Nhà nước về công tác tôn giáo; tài liệu của Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Bình Dương; niên giám thống kê, báo cáo chuyên ngành, các công trình nghiên cứu liên quan và tư liệu thu thập từ khảo sát thực địa tại một số cơ sở Phật giáo tiêu biểu trên địa bàn tỉnh.

  • 3. Kết quả nghiên cứu

3.1. Những nhân tố thúc đẩy sự chuyển biến của Phật giáo Bình Dương giai đoạn 1997 – 2024

(1) Công nghiệp hóa và sự biến đổi môi trường tôn giáo

Các nghiên cứu về tôn giáo và hiện đại hóa cho thấy hiện đại hóa không tất yếu dẫn đến sự suy giảm của tôn giáo mà thường thúc đẩy các tổ chức tôn giáo điều chỉnh để thích ứng với môi trường xã hội mới (Casanova, 1994; Berger, 1999). Trong bối cảnh Việt Nam đương đại, xu hướng “Phật giáo nhập thế” ngày càng thể hiện rõ qua việc tăng cường gắn bó với đời sống xã hội và nhu cầu của cộng đồng.

Tại Bình Dương, từ khi tái lập tỉnh năm 1997, công nghiệp hóa trở thành động lực trung tâm của phát triển kinh tế. Sự mở rộng các khu công nghiệp và thu hút mạnh vốn đầu tư nước ngoài đã làm thay đổi cơ cấu dân cư, thị trường lao động và môi trường văn hóa – xã hội. Lực lượng lao động nhập cư gia tăng khiến cộng đồng Phật tử trở nên đa dạng hơn, buộc nhiều tự viện phải mở rộng hoạt động hoằng pháp, giáo dục đạo đức, hỗ trợ tinh thần và an sinh xã hội cho người lao động và cư dân nhập cư. Công nghiệp hóa vì vậy không chỉ làm biến đổi bối cảnh kinh tế – xã hội mà còn tái định hình môi trường hoạt động của Phật giáo Bình Dương.

(2) Đô thị hóa và sự tái cấu trúc không gian Phật giáo

Song hành với công nghiệp hóa, đô thị hóa đã làm thay đổi sâu sắc không gian xã hội của Bình Dương. Sự hình thành các đô thị mới, khu công nghiệp và khu dân cư tập trung tạo nên cộng đồng dân cư đa dạng về nghề nghiệp, văn hóa và tín ngưỡng. Theo số liệu của UBND tỉnh và Cục Thống kê Bình Dương (2024), đến năm 2024 tỉnh có khoảng 29 khu đô thị mới và khu vực phát triển đô thị.

Trong bối cảnh đó, nhiều ngôi chùa từ chỗ chủ yếu phục vụ cộng đồng làng xã truyền thống đã trở thành trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng của cư dân đô thị và người lao động nhập cư. Đồng thời, chức năng của các tự viện cũng được mở rộng thông qua các hoạt động khóa tu, giáo dục đạo đức, từ thiện và kết nối cộng đồng. Không gian Phật giáo vì vậy ngày càng hiện diện rõ trong các khu đô thị và khu công nghiệp, phản ánh sự thích ứng của thiết chế Phật giáo trước quá trình tái cấu trúc dân cư và không gian đô thị.

(3) Hội nhập quốc tế và chuyển đổi số

Bên cạnh công nghiệp hóa và đô thị hóa, hội nhập quốc tế và chuyển đổi số đã trở thành những động lực mới thúc đẩy sự chuyển biến của Phật giáo Bình Dương trong những thập niên đầu thế kỷ XXI. Với vị thế là địa phương có mức độ hội nhập kinh tế cao, Bình Dương tạo điều kiện cho Phật giáo mở rộng giao lưu, nâng cao chất lượng đào tạo tăng ni và phát triển các hoạt động văn hóa Phật giáo. Đồng thời, sự phổ biến của internet và mạng xã hội, đặc biệt sau đại dịch Covid-19 đã thúc đẩy nhiều tự viện ứng dụng các nền tảng trực tuyến trong công tác Phật sự và truyền bá giáo lý. Chuyển đổi số không thay thế sinh hoạt truyền thống mà mở rộng không gian hoằng pháp và tăng khả năng kết nối với Phật tử, nhất là giới trẻ và người lao động.

Nhìn chung, công nghiệp hóa, đô thị hóa, hội nhập quốc tế và chuyển đổi số không tồn tại như những quá trình tách biệt mà tương tác chặt chẽ, tạo nên môi trường phát triển mới đối với Phật giáo Bình Dương. Dưới tác động của các nhân tố này, Phật giáo địa phương từng bước điều chỉnh tổ chức, đổi mới hoạt động và mở rộng chức năng xã hội, tạo tiền đề cho những chuyển biến toàn diện trong giai đoạn 1997–2024.

3.2. Quá trình chuyển biến của Phật giáo Bình Dương giai đoạn 1997 – 2024

Một là, chuyển biến về tổ chức và thiết chế Phật giáo.

Một trong những biểu hiện rõ nét của sự chuyển biến của Phật giáo Bình Dương giai đoạn 1997- 2024 là sự củng cố tổ chức Giáo hội và mở rộng hệ thống thiết chế Phật giáo, phản ánh khả năng thích ứng trước những biến đổi do công nghiệp hóa, đô thị hóa và hội nhập quốc tế.

Sau khi tỉnh Bình Dương được tái lập năm 1997, Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh từng bước được kiện toàn qua các nhiệm kỳ Đại hội Phật giáo; đồng thời hệ thống Ban Trị sự cấp huyện, thị xã và thành phố cũng được củng cố, góp phần nâng cao hiệu quả điều phối hoạt động Phật sự.

Song song với sự kiện toàn tổ chức là sự mở rộng mạng lưới tự viện. Nhiều chùa được xây dựng mới, đại trùng tu hoặc mở rộng để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng của cư dân đô thị và người lao động nhập cư. Quá trình đô thị hóa và phát triển khu công nghiệp cũng làm thay đổi sự phân bố không gian của các cơ sở Phật giáo, cho thấy sự thích ứng của Phật giáo với sự dịch chuyển dân cư và nhu cầu tôn giáo trong bối cảnh mới.

Bảng 1. Phát triển hệ thống tự viện ở Bình Dương (giai đoạn 1997- 2024)

Hoạt độngSố lượng (1997 – 2024)
Xây mới hoàn toànkhoảng 30–35 chùa
Đại trùng tu, đại trùng kiếnkhoảng 70–90 chùa
Tôn tạo, mở rộng, xây thêm chánh điện, tăng xá, giảng đường…khoảng 100–130 chùa
Nguồn: Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Bình Dương (1997, 2020, 2024)

Cùng với sự phát triển của hệ thống tự viện, công tác đào tạo tăng ni được chú trọng theo hướng nâng cao trình độ Phật học, thế học, ngoại ngữ và kỹ năng công nghệ thông tin, phản ánh xu hướng chuyên nghiệp hóa trong bối cảnh hội nhập và chuyển đổi số. Đồng thời, phương thức quản trị Phật sự từng bước được chuẩn hóa và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong trao đổi, lưu trữ và phổ biến thông tin. Nhìn chung, Phật giáo Bình Dương không chỉ phát triển về quy mô tổ chức mà còn từng bước nâng cao năng lực quản trị và khả năng thích ứng với môi trường phát triển mới.

Hai là, chuyển biến về hoạt động tôn giáo.

Hoạt động tôn giáo của Phật giáo Bình Dương giai đoạn 1997 – 2024 chuyển từ mô hình chủ yếu phục vụ cộng đồng cư dân truyền thống sang mô hình đa dạng, linh hoạt và gắn với nhu cầu của xã hội công nghiệp – đô thị. Một chuyển biến nổi bật là sự đổi mới công tác hoằng pháp. Theo các báo cáo tổng kết Phật sự của Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Bình Dương, nội dung hoằng pháp ngày càng kết hợp giữa truyền bá giáo lý với giáo dục đạo đức, lối sống và trách nhiệm xã hội. Hình thức tổ chức cũng được đa dạng hóa thông qua các khóa tu, pháp thoại chuyên đề và chương trình dành cho thanh thiếu niên, người lao động tại các khu công nghiệp.

Các hoạt động nghi lễ và văn hóa Phật giáo tiếp tục được duy trì theo hướng trang nghiêm, văn minh và phù hợp với điều kiện xã hội đô thị. Nhiều tự viện kết hợp tổ chức các hoạt động văn hóa, giáo dục và giao lưu cộng đồng, cho thấy chức năng của tự viện đã được mở rộng từ không gian thực hành tôn giáo sang không gian văn hóa – xã hội. Nhìn chung, những chuyển biến trên phản ánh quá trình đổi mới hoạt động Phật giáo Bình Dương trong bối cảnh công nghiệp hóa, đô thị hóa và hội nhập quốc tế.

Ba là, chuyển biến về chức năng xã hội.

Trong giai đoạn 1997 – 2024, Phật giáo Bình Dương không chỉ thực hiện chức năng tín ngưỡng mà còn mở rộng sự tham gia vào các lĩnh vực an sinh xã hội, chăm sóc cộng đồng và bảo tồn văn hóa. Theo các báo cáo tổng kết Phật sự của Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Bình Dương, hoạt động từ thiện – an sinh xã hội ngày càng được tổ chức theo chương trình và có sự phối hợp giữa Giáo hội với chính quyền, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội. Nội dung hỗ trợ tập trung vào hộ nghèo, học bổng, khám chữa bệnh, cứu trợ thiên tai và chăm lo các đối tượng yếu thế. Đáng chú ý, Phật giáo Bình Dương đã tham gia tích cực vào quá trình xã hội hóa giáo dục thông qua các chương trình học bổng và lớp học tình thương dành cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn (Nguyễn Phước Trọng, 2026).

Sự gia tăng lao động nhập cư cũng làm xuất hiện những nhu cầu xã hội mới, khiến nhiều tự viện trở thành không gian hỗ trợ tinh thần, giáo dục đạo đức và kết nối cộng đồng cho công nhân và thanh thiếu niên. Trong thời gian đại dịch Covid-19, nhiều cơ sở Phật giáo đã tích cực tham gia hỗ trợ cộng đồng, thể hiện trách nhiệm xã hội của Phật giáo trong bối cảnh khủng hoảng. Bên cạnh các hoạt động an sinh, Phật giáo Bình Dương còn góp phần bảo tồn di sản văn hóa, khuyến học và tăng cường gắn kết cộng đồng. Nhìn chung, chức năng xã hội của Phật giáo Bình Dương đã vượt ra ngoài phạm vi của một thiết chế tôn giáo truyền thống, phản ánh xu hướng đồng hành với phát triển địa phương.

Bốn là, chuyển biến trong chuyển đổi số và hội nhập.

Bên cạnh những chuyển biến về tổ chức, hoạt động và chức năng xã hội, Phật giáo Bình Dương cũng từng bước thích ứng với xu thế hội nhập quốc tế và chuyển đổi số thông qua đổi mới phương thức quản trị, truyền thông và kết nối cộng đồng. Từ giữa thập niên 2010, đặc biệt sau đại dịch Covid-19, nhiều cơ sở Phật giáo đã chủ động ứng dụng công nghệ số nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức và mở rộng phạm vi tiếp cận Phật tử. Theo các báo cáo tổng kết Phật sự của Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Bình Dương, nhiều tự viện đã sử dụng các nền tảng trực tuyến để cập nhật thông tin Phật sự, truyền tải giáo lý và duy trì sự kết nối với Phật tử. Việc ứng dụng công nghệ góp phần mở rộng không gian hoằng pháp, khắc phục những hạn chế về thời gian và địa lý, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động và giới trẻ tiếp cận các hoạt động Phật giáo trong bối cảnh xã hội số.

Song song với chuyển đổi số, quá trình hội nhập quốc tế cũng tạo điều kiện để Phật giáo Bình Dương mở rộng giao lưu, trao đổi kinh nghiệm và nâng cao năng lực tổ chức thông qua các chương trình đào tạo, hội thảo và hoạt động đối ngoại Phật giáo. Tuy nhiên, quá trình này cũng đặt ra yêu cầu phải bảo đảm tính chính xác của thông tin, nâng cao năng lực quản trị nền tảng số và giữ gìn bản sắc của Phật giáo Việt Nam trong bối cảnh giao lưu quốc tế ngày càng sâu rộng.

Bảng 2: Số liệu về chuyển biến trong nâng cao trình độ của tăng, ni (giai đoạn 1997 – 2024)

Nội dungSố liệu đến năm 2024
Tăng ni được đào tạo Trung cấp Phật học480 người
Tăng ni tốt nghiệp Học viện (Cử nhân)220 người
Tăng ni có trình độ Tiến sĩ8 người
Tăng ni có bằng đại học thế học130 người
Tăng ni có khả năng sử dụng ngoại ngữ phục vụ học tập và giao lưu quốc tế107 người
Tăng ni sử dụng thành thạo công nghệ thông tin trong quản trị và hoằng pháp350 người
Tăng ni đi tu học sau địa học (thế học) ở Ấn Độ15 người
Tăng ni đi làm Phật sự bên nước Lào35 người
(Nguồn: Ban trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Bình Dương, 1997, 2020, 2024)

Nhìn chung, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế đã góp phần mở rộng không gian hiện diện và nâng cao khả năng thích ứng của Phật giáo Bình Dương trước những biến đổi của xã hội hiện đại (Đỗ Quang Hưng, 2025).

3.3. Đánh giá quá trình chuyển biến của Phật giáo Bình Dương giai đoạn 1997 – 2024

Kết quả nghiên cứu cho thấy, sự chuyển biến của Phật giáo Bình Dương giai đoạn 1997 – 2024 phản ánh quá trình thích ứng trước những biến đổi kinh tế – xã hội trong bối cảnh công nghiệp hóa, đô thị hóa và hội nhập quốc tế. Quá trình này diễn ra theo hướng thích ứng chủ động khi Giáo hội và các tự viện điều chỉnh tổ chức, đổi mới hoằng pháp, mở rộng hoạt động an sinh xã hội và ứng dụng công nghệ số. Đồng thời, sự chuyển biến được thực hiện trên cơ sở kết hợp giữa kế thừa truyền thống và đổi mới phương thức hoạt động, giúp Phật giáo vừa giữ gìn các giá trị cốt lõi vừa nâng cao khả năng thích ứng với xã hội đương đại.

Một đặc điểm nổi bật khác là xu hướng mở rộng từ chức năng tôn giáo sang chức năng xã hội thông qua giáo dục đạo đức, từ thiện – an sinh xã hội, bảo tồn văn hóa và hỗ trợ cộng đồng, đặc biệt đối với người lao động nhập cư và các nhóm yếu thế. Quá trình này đồng thời gắn với sự chuyên nghiệp hóa tổ chức và quản trị Phật sự.

Quá trình chuyển biến của Phật giáo Bình Dương tạo ra những giá trị quan trọng trên cả phương diện tôn giáo, xã hội và học thuật. Đối với Giáo hội, quá trình này góp phần nâng cao năng lực tổ chức, quản trị và hiệu quả hoạt động Phật sự. Đối với địa phương, những đóng góp trong giáo dục đạo đức, an sinh xã hội, bảo tồn văn hóa và hỗ trợ cộng đồng cho thấy Phật giáo có thể trở thành một nguồn lực xã hội quan trọng trong phát triển bền vững.

Về phương diện học thuật, nghiên cứu trường hợp Bình Dương bổ sung bằng chứng thực chứng về xu hướng vận động của Phật giáo Việt Nam trong bối cảnh hiện đại hóa, đồng thời cho thấy sự chuyển biến của Phật giáo là kết quả của quá trình thích ứng chủ động thông qua điều chỉnh tổ chức, đổi mới hoạt động và mở rộng chức năng xã hội.

4. Thảo luận và hàm ý chính sách

Bên cạnh những kết quả tích cực, quá trình chuyển biến của Phật giáo Bình Dương cũng đặt ra một số yêu cầu mới. Trước hết là nâng cao năng lực tổ chức và quản trị Phật sự, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số khi mức độ ứng dụng công nghệ giữa các tự viện còn chưa đồng đều. Bên cạnh đó, quá trình đổi mới cần bảo đảm sự hài hòa giữa bảo tồn truyền thống và thích ứng với xã hội hiện đại, giữ gìn bản sắc và tính trang nghiêm của sinh hoạt Phật giáo. Sự phát triển nhanh của Bình Dương cũng đòi hỏi Phật giáo tiếp tục tăng cường gắn kết với cộng đồng và mở rộng cơ chế phối hợp với chính quyền, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội nhằm nâng cao hiệu quả các chương trình an sinh và phát triển bền vững.

Cần tăng cường cơ chế phối hợp giữa chính quyền, Giáo hội Phật giáo và các tổ chức xã hội trong triển khai các chương trình an sinh xã hội, giáo dục đạo đức và hỗ trợ đời sống tinh thần cho người lao động nhập cư và các nhóm yếu thế. Đồng thời, cần nâng cao năng lực chuyển đổi số trong hoạt động Phật sự thông qua đào tạo kỹ năng công nghệ thông tin, truyền thông số và quản trị trực tuyến cho đội ngũ tăng ni. Trong quá trình đô thị hóa và phát triển công nghiệp, cần chú trọng bảo tồn các giá trị văn hóa và di sản Phật giáo gắn với lịch sử địa phương, đồng thời tiếp tục xây dựng các chính sách phát huy vai trò của tôn giáo như một nguồn lực xã hội trong phát triển bền vững.

Sau khi Bình Dương được sáp nhập vào TP. Hồ Chí Minh từ ngày 01/7/2025, môi trường hoạt động của Phật giáo trên địa bàn tiếp tục có những chuyển biến theo hướng liên kết vùng và mở rộng không gian Phật sự. Theo số liệu tổng hợp từ Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam TP. Hồ Chí Minh và báo cáo Phật sự khu vực Bình Dương năm 2025 – 2026, hiện có khoảng 212 cơ sở tự viện, hơn 1.100 tăng ni và khoảng 1,2 triệu tín đồ, người thường xuyên tham gia sinh hoạt Phật giáo. Việc trở thành một bộ phận của đô thị đặc biệt với quy mô dân số trên 14 triệu người đã tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động hoằng pháp, đào tạo tăng ni, truyền thông số và phối hợp an sinh xã hội ở quy mô lớn hơn. Trong năm 2025, các cơ sở Phật giáo khu vực Bình Dương đã tham gia trên 320 chương trình từ thiện – an sinh xã hội, với tổng kinh phí ước khoảng 48 tỉ đồng, tăng khoảng 18% so với năm 2024. Đồng thời, số lượng chùa vận hành trang thông tin điện tử hoặc nền tảng mạng xã hội phục vụ Phật sự đạt khoảng 165 cơ sở (gần 78%), cho thấy xu hướng chuyển đổi số tiếp tục được đẩy mạnh trong bối cảnh quản trị Phật giáo theo mô hình đô thị liên thông của TP. Hồ Chí Minh.

Mặc dù phạm vi nghiên cứu chính dừng ở năm 2024, những biến đổi hành chính từ ngày 01/7/2025 cho thấy, nhiều xu hướng mới đáng chú ý của Phật giáo trên địa bàn Bình Dương cũ.

5. Kết luận

Nghiên cứu về sự chuyển biến của Phật giáo Bình Dương giai đoạn 1997- 2024 cho thấy, công nghiệp hóa, đô thị hóa và hội nhập quốc tế đã tạo ra những động lực quan trọng thúc đẩy sự chuyển biến của Phật giáo trên nhiều phương diện. Phật giáo Bình Dương không chỉ duy trì các hoạt động tín ngưỡng truyền thống mà còn kiện toàn tổ chức Giáo hội, mở rộng mạng lưới tự viện, đổi mới hoằng pháp, phát triển an sinh xã hội và ứng dụng công nghệ số trong hoạt động Phật sự. Sự chuyển biến của Phật giáo Bình Dương mang những đặc điểm nổi bật: thích ứng chủ động với quá trình hiện đại hóa; kết hợp giữa kế thừa truyền thống và đổi mới phương thức hoạt động; mở rộng từ chức năng tôn giáo sang chức năng xã hội; và ngày càng gắn kết với quá trình phát triển kinh tế – xã hội của địa phương. Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tăng ni, hiện đại hóa quản trị và bảo đảm sự hài hòa giữa đổi mới với giữ gìn các giá trị truyền thống vẫn là những vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu, đặc biệt là những biến đổi tiếp theo sau khi Bình Dương được sáp nhập cùng với Bà Rịa – Vùng Tàu vào TP. Hồ Chí Minh từ 1/7/2025.

Tài liệu tham khảo:
* Nghiên cứu này được tài trợ bởi Trường Đại học Thủ Dầu Một trong đề tài mã số DT.25.1-299.
Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Bình Dương (2020 – 2024). Báo cáo tổng kết công tác Phật sự các năm 2020, 2021, 2022, 2023 và 2024.
Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh (2026). Báo cáo sơ kết công tác Phật sự khu vực Bình Dương sau sáp nhập hành chính giai đoạn 2025 – 2026.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2024). Báo cáo tình hình thu hút đầu tư nước ngoài năm 2024.
Bộ Thông tin và Truyền thông (2023). Báo cáo Chỉ số chuyển đổi số cấp tỉnh (DTI) năm 2023.
Casanova, J (1994). Public Religions in the Modern World, University of Chicago Press.
Cục Thống kê tỉnh Bình Dương (2024). Niên giám thống kê tỉnh Bình Dương năm 2024.
Đỗ Quang Hưng (2025). Như một tôn giáo khác – một nghiên cứu về tính hiện đại và tôn giáo hiện nay. Nxb Hà Nội.
Giáo hội Phật giáo Việt Nam (2022). Văn kiện Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ IX (nhiệm kỳ 2022 – 2027). Nxb Tôn giáo.
Marshall, K (2013). Global Institutions of Religion: Ancient Movers, Modern Shakers. Routledge.
Trần Hồng Liên (2000). Phật giáo Nam Bộ từ thế kỷ XVII đến năm 1975. Nxb Khoa học Xã hội.
Nguyễn Phước Trọng (2026). Xã hội hóa giáo dục phổ thông ở vùng Đông Nam Bộ giai đoạn 1986 – 2018, Luận án Tiến sĩ Sử học.
Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương (2024). Báo cáo tình hình phát triển kinh tế – xã hội năm 2024.
Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương (2024). Quy hoạch tỉnh Bình Dương thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh (2026). Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội và công tác tôn giáo năm 2025 – 2026.
Viện Nghiên cứu Tôn giáo (2014). Tôn giáo và phát triển bền vững ở Việt Nam. Nxb Khoa học Xã hội.
Weber, M (2002). The Protestant Ethic and the Spirit of Capitalism (T. Parsons, Trans.). Routledge.