Nâng cao năng lực quản trị địa phương của chính quyền cấp cơ sở tỉnh Đắk Lắk trong bối cảnh chính quyền địa phương hai cấp

Enhancing local governance capacity of grassroots governments in Dak Lak province in the context of the two-tier local government model

ThS. Phạm Thị Lê Dung
Học viện Chính trị khu vực III
Email: ledunghvctdn@gmail.com  

(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh Việt Nam triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, chính quyền cấp cơ sở được trao nhiều thẩm quyền hơn; đồng thời, phải đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về hiệu lực, hiệu quả quản trị và chất lượng phục vụ người dân. Trên cơ sở tiếp cận quản trị công hiện đại, bài viết phân tích cơ sở lý luận về năng lực quản trị địa phương và đánh giá thực tiễn năng lực quản trị của chính quyền cấp cơ sở ở tỉnh Đắk Lắk. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất khung năng lực quản trị địa phương của chính quyền cấp cơ sở và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản trị, đáp ứng yêu cầu phát triển của tỉnh Đắk Lắk trong bối cảnh mới.

Từ khóa: Chính quyền cấp cơ sở; chính quyền địa phương hai cấp; chuyển đổi số; năng lực quản trị địa phương; quản trị công; tỉnh Đắk Lắk.

Abstract: In the context of Vietnam’s implementation of a two-tier local government model, grassroots governments are granted more authority while simultaneously facing increasingly high demands for governance effectiveness and efficiency and quality of service to the people. Based on a modern public governance approach, this article analyzes the theoretical basis of local governance capacity and assesses the practical governance capacity of grassroots governments in Dak Lak province. On this basis, the article proposes a framework for the local governance capacity of grassroots governments and several solutions to improve governance efficiency, thereby meeting the development requirements of Dak Lak province in the new context.

Keywords: Local government at the grassroots level; two-tier local government; digital transformation; local governance capacity; public governance; Dak Lak.

1. Đặt vấn đề

Cải cách tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp đang trở thành một trong những nội dung trọng tâm của tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đổi mới quản trị quốc gia ở Việt Nam. Việc chính thức vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp từ ngày 01/7/2025 không chỉ làm thay đổi cấu trúc tổ chức bộ máy mà còn chuyển dịch mạnh mẽ thẩm quyền quản lý từ cấp trung gian xuống cấp cơ sở. Trong bối cảnh đó, chính quyền cấp xã không còn chủ yếu thực hiện chức năng hành chính theo cơ chế “thừa hành” mà từng bước trở thành chủ thể quản trị phát triển địa phương, trực tiếp quyết định chất lượng cung ứng dịch vụ công, hiệu quả phân bổ nguồn lực và mức độ hài lòng của người dân.

Trên thế giới, nghiên cứu của UNDP (1997, 2009) và World Bank (2004, 2020) đã khẳng định, hiệu quả của cải cách phân quyền không phụ thuộc vào việc mở rộng thẩm quyền mà phụ thuộc quyết định vào năng lực quản trị của chính quyền địa phương. Theo đó, năng lực quản trị được nhìn nhận, như: khả năng thiết kế và thực thi thể chế, điều phối nguồn lực, cung ứng dịch vụ công, ứng dụng công nghệ số và thực hiện trách nhiệm giải trình nhằm tạo ra giá trị công và thúc đẩy phát triển bền vững. Tuy nhiên, các nghiên cứu quốc tế chủ yếu được xây dựng trên nền tảng các quốc gia có hệ thống tự quản địa phương phát triển, trong khi điều kiện thể chế và mô hình tổ chức chính quyền ở Việt Nam có nhiều khác biệt, đặc biệt trong giai đoạn đầu triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp.

Ở Việt Nam, các nghiên cứu gần đây chủ yếu tập trung phân tích mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, cơ chế phân quyền, phân cấp hoặc một số khía cạnh riêng lẻ, như: năng lực số của cán bộ, cải cách hành chính và quản trị tài chính công. Mặc dù đã cung cấp những luận cứ quan trọng cho quá trình cải cách thể chế, các nghiên cứu này vẫn chưa tiếp cận năng lực quản trị địa phương như một năng lực tổng hợp của chính quyền cấp cơ sở; đồng thời, chưa xây dựng được khung phân tích toàn diện gắn với yêu cầu quản trị phát triển trong bối cảnh mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đặc biệt, cho đến nay, chưa có nghiên cứu chuyên sâu đánh giá năng lực quản trị của chính quyền cấp cơ sở tại tỉnh Đắk Lắk – địa phương có quy mô diện tích lớn, dân cư đa dân tộc, điều kiện kinh tế – xã hội còn nhiều khác biệt và đang đối mặt với những yêu cầu mới về phân quyền, chuyển đổi số và phát triển bền vững.

Xuất phát từ khoảng trống nghiên cứu đó, bài viết tập trung phân tích cơ sở lý luận về năng lực quản trị địa phương của chính quyền cấp cơ sở; đánh giá thực trạng năng lực quản trị của chính quyền cấp cơ sở tỉnh Đắk Lắk trong bối cảnh tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, trên cơ sở đó, đề xuất các định hướng và giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản trị theo hướng hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng quản trị địa phương và đáp ứng yêu cầu cải cách nền hành chính nhà nước trong giai đoạn mới.
2. Cơ sở lý luận và khung năng lực quản trị địa phương của chính quyền cấp cơ sở

Quản trị địa phương được hiểu là quá trình tổ chức, điều hành và phối hợp giữa chính quyền, thị trường và xã hội nhằm huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn, tạo lập giá trị công và nâng cao chất lượng phục vụ người dân. Khác với cách tiếp cận quản lý hành chính truyền thống chủ yếu nhấn mạnh việc thực thi quyền lực nhà nước theo quy định pháp luật, quản trị địa phương theo quan điểm quản trị công hiện đại hướng tới hiệu quả quản trị, trách nhiệm giải trình, sự tham gia của người dân, minh bạch và phát triển bền vững. Vì vậy, năng lực quản trị của chính quyền địa phương không chỉ phản ánh khả năng thực thi chức năng quản lý nhà nước mà còn thể hiện năng lực lãnh đạo phát triển, điều phối các chủ thể, huy động nguồn lực và tạo ra giá trị công cho cộng đồng.

Trong bối cảnh Việt Nam triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, chính quyền cấp cơ sở trở thành cấp trực tiếp thực hiện phần lớn chức năng quản lý nhà nước trên địa bàn. Việc mở rộng thẩm quyền thông qua phân quyền, phân cấp tạo điều kiện phát huy tính chủ động, sáng tạo của chính quyền cấp cơ sở; đồng thời, cũng đặt ra yêu cầu cao hơn về năng lực thể chế, năng lực điều hành và trách nhiệm giải trình. Điều này cho thấy, năng lực quản trị địa phương cần được tiếp cận như một hệ thống năng lực tổng hợp, bảo đảm cho chính quyền cấp cơ sở thực hiện hiệu quả quyền hạn được giao, sử dụng hợp lý các nguồn lực và đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của người dân và doanh nghiệp.

Kế thừa các nghiên cứu của UNDP (2009), OECD (2016, 2019), World Bank (2004, 2020), Moore (1995) và North (1990), bài viết xác định năng lực quản trị địa phương của chính quyền cấp cơ sở là khả năng tổ chức, điều hành và thực thi quyền lực công nhằm huy động, quản lý và sử dụng hiệu quả các nguồn lực để cung ứng dịch vụ công, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm minh bạch, trách nhiệm giải trình và tạo lập giá trị công trong điều kiện phân quyền và tự chủ địa phương.

Theo cách tiếp cận này, năng lực quản trị địa phương của chính quyền cấp cơ sở được cấu thành bởi bảy nhóm năng lực có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.

Bảng 1. Khung năng lực quản trị địa phương của chính quyền cấp cơ sở

Nhóm năng lựcNội dung chủ yếuKết quả hướng tới
Năng lực thể chếTổ chức thực thi pháp luật, phân quyền, ban hành và triển khai các quyết định quản lýBảo đảm tính hợp pháp, thống nhất và hiệu lực quản lý
Năng lực tổ chức và điều hànhTổ chức bộ máy, điều phối hoạt động, phối hợp liên ngànhBộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu quả
Năng lực cung ứng dịch vụ công và quản trị phát triểnCải cách thủ tục hành chính, cung ứng dịch vụ công, xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triểnNâng cao mức độ hài lòng của người dân và chất lượng phát triển
Năng lực tài chính và huy động nguồn lựcQuản lý ngân sách, tài sản công, huy động nguồn lực xã hộiTăng hiệu quả sử dụng nguồn lực và tính tự chủ tài chính
Năng lực lãnh đạo và quản trị nhân sựLãnh đạo, điều hành, phát triển đội ngũ, tạo động lực làm việcNâng cao chất lượng đội ngũ và hiệu quả thực thi công vụ
Năng lực chuyển đổi số và đổi mới sáng tạoỨng dụng công nghệ số, quản trị dữ liệu, đổi mới phương thức điều hànhXây dựng chính quyền số, quản trị thông minh
Năng lực minh bạch và trách nhiệm giải trìnhCông khai thông tin, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, kiểm soát quyền lựcCủng cố niềm tin xã hội và nâng cao tính chính danh
Nguồn: Tác giả tổng hợp trên cơ sở UNDP (1997; 2009), OECD (2016; 2019), World Bank (2004; 2020) và kết quả nghiên cứu.

Khung năng lực này cho thấy, năng lực quản trị địa phương không phải là tổng hợp rời rạc của các kỹ năng quản lý mà là một hệ thống thống nhất, trong đó mỗi nhóm năng lực vừa có chức năng riêng, vừa bổ trợ cho các nhóm năng lực khác. Năng lực thể chế tạo nền tảng pháp lý cho hoạt động quản trị; năng lực tổ chức và điều hành bảo đảm bộ máy vận hành hiệu quả; năng lực tài chính cung cấp nguồn lực cho phát triển; năng lực lãnh đạo và quản trị nhân sự quyết định chất lượng thực thi; năng lực chuyển đổi số tạo động lực đổi mới phương thức quản trị; còn năng lực minh bạch và trách nhiệm giải trình là điều kiện để kiểm soát quyền lực và củng cố niềm tin của người dân.

Trong điều kiện tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, các nhóm năng lực này không chỉ quyết định hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp cơ sở mà còn tác động trực tiếp đến năng lực quản trị phát triển của địa phương. Do đó, việc đánh giá thực trạng năng lực quản trị của chính quyền cấp cơ sở cần được thực hiện trên cơ sở khung phân tích này; đồng thời, gắn với điều kiện kinh tế – xã hội và đặc thù quản trị của tỉnh Đắk Lắk.
3. Thực trạng năng lực quản trị địa phương của chính quyền cấp cơ sở tỉnh Đắk Lắk trong bối cảnh tổ chức chính quyền địa phương hai cấp

Việc thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp đã tạo ra bước chuyển quan trọng trong tổ chức bộ máy và phương thức quản trị ở địa phương. Theo đó, chính quyền cấp xã trở thành cấp trực tiếp thực hiện phần lớn chức năng quản lý nhà nước trên địa bàn; đồng thời, tiếp nhận nhiều nhiệm vụ được phân cấp từ cấp huyện trước đây. Đối với tỉnh Đắk Lắk, quá trình triển khai mô hình mới diễn ra trong bối cảnh địa phương đang đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng chính quyền số và thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Điều này vừa tạo ra cơ hội nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương, vừa đặt ra yêu cầu cấp thiết về nâng cao năng lực quản trị của chính quyền cấp cơ sở.

Kết quả cải cách hành chính của tỉnh trong thời gian qua cho thấy, năng lực quản trị địa phương đã có nhiều chuyển biến tích cực.

Bảng 2. Một số chỉ số phản ánh năng lực quản trị và cải cách hành chính của tỉnh Đắk Lắk

Chỉ tiêuKết quả năm 2025Thứ hạngĐánh giá
Chỉ số cải cách hành chính (PAR Index)89,38%22/34Thuộc nhóm khá của cả nước
Chỉ số hài lòng của người dân (SIPAS)81,53%Chất lượng phục vụ được cải thiện
Chính quyền sốTiếp tục được hoàn thiệnLà một trong những nhiệm vụ trọng tâm của tỉnh
Nguồn: Bộ Nội vụ (2026); UBND tỉnh Đắk Lắk (2026).

Các chỉ số trên phản ánh xu hướng tích cực trong đổi mới phương thức điều hành của chính quyền tỉnh. Việc cải thiện Chỉ số cải cách hành chính và Chỉ số hài lòng của người dân cho thấy, các nỗ lực tinh gọn bộ máy, cải cách thủ tục hành chính và nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công bước đầu phát huy hiệu quả. Tuy nhiên, kết quả này chủ yếu phản ánh mặt bằng chung của cấp tỉnh; năng lực quản trị giữa các xã, phường vẫn còn có sự khác biệt đáng kể, đặc biệt tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa và vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Thứ nhất, năng lực thể chế và thực thi phân quyền từng bước được củng cố.

Sau khi triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, nhiều nhiệm vụ trước đây thuộc thẩm quyền cấp huyện đã được chuyển giao cho cấp xã. Điều này giúp rút ngắn quy trình xử lý công việc, tăng tính chủ động trong giải quyết các vấn đề phát sinh tại địa phương và nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu của người dân.

Tuy nhiên, quá trình phân quyền vẫn bộc lộ những hạn chế nhất định. Một số quy định hướng dẫn chưa được ban hành đầy đủ hoặc còn thiếu thống nhất giữa các ngành, lĩnh vực; việc phân định trách nhiệm giữa cấp tỉnh và cấp cơ sở trong một số nhiệm vụ chưa thật sự rõ ràng. Vì vậy, ở nhiều trường hợp, chính quyền cấp xã vẫn phải xin ý kiến hoặc chờ hướng dẫn từ cấp trên, làm giảm tính chủ động và kéo dài thời gian giải quyết công việc.
Thứ hai, năng lực tổ chức điều hành được cải thiện nhưng chịu nhiều áp lực sau sắp xếp đơn vị hành chính.

Sau sáp nhập, quy mô quản lý của nhiều xã trên địa bàn Đắk Lắk tăng đáng kể cả về diện tích, dân số và khối lượng công việc. Điều này đòi hỏi chính quyền cơ sở phải chuyển từ phương thức quản lý hành chính truyền thống sang quản trị phát triển, tăng cường năng lực điều phối, phối hợp liên ngành và quản trị theo kết quả. Đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở đã có nhiều nỗ lực thích ứng với yêu cầu mới thông qua đổi mới phương thức làm việc, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và nâng cao trách nhiệm phục vụ người dân. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, vẫn còn tình trạng thiếu nhân lực có trình độ chuyên môn sâu về quản trị công, quản trị số và phân tích chính sách; áp lực kiêm nhiệm nhiều lĩnh vực làm ảnh hưởng đến chất lượng điều hành, nhất là tại các địa bàn miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Thứ ba, chuyển đổi số và cải cách hành chính tạo nền tảng quan trọng cho nâng cao năng lực quản trị.

Chuyển đổi số đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới quản trị địa phương ở tỉnh Đắk Lắk. Hệ thống một cửa điện tử, dịch vụ công trực tuyến và quản lý văn bản điện tử được triển khai đồng bộ từ cấp tỉnh đến cấp xã góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và giảm thời gian giải quyết thủ tục hành chính.

Mặc dù đạt được những kết quả bước đầu, chuyển đổi số ở cấp cơ sở vẫn chủ yếu tập trung vào số hóa quy trình hành chính, trong khi việc khai thác dữ liệu phục vụ hoạch định chính sách và điều hành theo thời gian thực còn hạn chế. Hạ tầng số giữa các địa phương chưa đồng đều; kỹ năng số của đội ngũ cán bộ, công chức chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu quản trị hiện đại. Đây là một trong những rào cản lớn đối với việc xây dựng chính quyền số ở cấp cơ sở.
Thứ tư, năng lực huy động nguồn lực và quản trị tài chính còn nhiều hạn chế.

Việc mở rộng thẩm quyền của chính quyền cấp cơ sở chưa đi đôi với mức độ tự chủ tài chính tương ứng. Phần lớn ngân sách của các xã vẫn phụ thuộc vào cấp trên; khả năng huy động nguồn lực xã hội và triển khai các mô hình hợp tác công – tư còn hạn chế. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thực hiện các chương trình phát triển kinh tế – xã hội tại địa phương.
Thứ năm, minh bạch và trách nhiệm giải trình từng bước được tăng cường nhưng chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu quản trị hiện đại.

Việc công khai thủ tục hành chính, đối thoại với người dân và nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu đã góp phần cải thiện chất lượng quản trị công. Tuy nhiên, minh bạch trong quản trị không chỉ dừng ở công khai thông tin mà còn phải gắn với khả năng giải trình, giám sát xã hội và sử dụng dữ liệu để đánh giá hiệu quả thực thi công vụ.

Nhìn tổng thể, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đã tạo động lực quan trọng để tỉnh Đắk Lắk đổi mới phương thức quản trị theo hướng hiện đại, lấy người dân làm trung tâm và tăng cường trách nhiệm giải trình. Tuy nhiên, giữa yêu cầu phân quyền mạnh mẽ và năng lực thực thi của chính quyền cấp cơ sở vẫn còn khoảng cách đáng kể. Những hạn chế về chất lượng nguồn nhân lực, năng lực quản trị số, tự chủ tài chính và cơ chế phối hợp liên ngành cho thấy, việc nâng cao năng lực quản trị địa phương không chỉ là yêu cầu trước mắt mà còn là điều kiện quyết định để mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu quả, tạo ra giá trị công và thúc đẩy phát triển bền vững ở tỉnh Đắk Lắk.

4. Một số đề xuất

Một là, phân quyền chỉ phát huy hiệu quả khi đi kèm với nâng cao năng lực thực thi của chính quyền cấp cơ sở. Đây là kết luận phù hợp với quan điểm của OECD (2019), theo đó, phân quyền chỉ tạo ra giá trị khi chính quyền địa phương được trao đầy đủ thẩm quyền, nguồn lực tài chính, nhân lực và cơ chế giải trình. Thực tiễn tỉnh Đắk Lắk cho thấy, mặc dù nhiều nhiệm vụ đã được chuyển giao xuống cấp xã, nhưng khả năng thực hiện còn chịu tác động bởi sự thiếu đồng bộ của hệ thống văn bản hướng dẫn, hạn chế về chất lượng đội ngũ và mức độ tự chủ trong huy động nguồn lực. Điều này phản ánh khoảng cách giữa “phân quyền về pháp lý” và “phân quyền về năng lực thực thi”, vốn là thách thức phổ biến trong quá trình cải cách quản trị địa phương ở nhiều quốc gia đang phát triển.

Hai là, năng lực quản trị địa phương cần được tiếp cận theo hướng quản trị phát triển thay vì quản lý hành chính truyền thống. Mặc dù cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số đã tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, song phương thức điều hành ở nhiều địa phương vẫn thiên về xử lý công việc hành chính hơn là quản trị dựa trên kết quả. Điều này cho thấy, quá trình chuyển đổi từ mô hình “chính quyền quản lý” sang “chính quyền kiến tạo phát triển” vẫn đang trong giai đoạn đầu. Theo Moore (1995), mục tiêu cuối cùng của quản trị công không chỉ là thực hiện đúng quy trình mà phải tạo ra giá trị công, tức là nâng cao chất lượng dịch vụ công, cải thiện chất lượng sống của người dân và thúc đẩy phát triển bền vững. Vì vậy, đánh giá năng lực quản trị của chính quyền cấp cơ sở cần được mở rộng từ việc xem xét hiệu quả thực thi nhiệm vụ sang khả năng tạo ra giá trị phát triển cho cộng đồng.

Ba là, chuyển đổi số đang trở thành nhân tố quyết định nâng cao năng lực quản trị địa phương, nhưng hiệu quả phụ thuộc vào khả năng sử dụng dữ liệu trong điều hành. Những kết quả tích cực về cải cách hành chính và xây dựng chính quyền số của tỉnh Đắk Lắk cho thấy, công nghệ số đã góp phần nâng cao tính minh bạch và rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính. Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ hiện nay vẫn chủ yếu tập trung vào số hóa quy trình, trong khi quản trị dựa trên dữ liệu chưa trở thành phương thức điều hành phổ biến. Điều này cũng phù hợp với nhận định của Ngân hàng Thế giới (2020) rằng, chuyển đổi số trong khu vực công chỉ thực sự tạo ra hiệu quả khi dữ liệu trở thành nền tảng cho hoạch định chính sách, phân bổ nguồn lực và giám sát kết quả thực thi. Do đó, xây dựng chính quyền số ở Đắk Lắk cần chuyển trọng tâm từ “ứng dụng công nghệ” sang “quản trị thông minh dựa trên dữ liệu”.

Bốn là, là tỉnh có diện tích lớn, địa bàn rộng, nhiều xã vùng sâu, vùng xa và đông đồng bào dân tộc thiểu số nên việc triển khai mô hình chính quyền hai cấp ở Đắk Lắk phải có năng lực điều phối phát triển, huy động cộng đồng và bảo đảm tiếp cận bình đẳng đối với dịch vụ công. Trong bối cảnh đó, năng lực quản trị địa phương cần được nhìn nhận như năng lực thích ứng với đặc thù vùng miền, chứ không chỉ là khả năng thực thi các quy định hành chính thống nhất. Đây cũng là cơ sở để tỉnh xây dựng các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phù hợp với yêu cầu quản trị tại khu vực Tây Nguyên.

Năm là, kết quả nghiên cứu cho thấy, mối quan hệ chặt chẽ giữa năm cấu phần của năng lực quản trị địa phương, bao gồm: năng lực thể chế, tổ chức và điều hành, quản trị tài chính, chuyển đổi số và trách nhiệm giải trình. Các cấu phần này không tồn tại độc lập mà tác động qua lại lẫn nhau. Chẳng hạn, phân quyền sẽ khó phát huy hiệu quả nếu thiếu nguồn lực tài chính; chuyển đổi số sẽ không mang lại giá trị nếu thiếu đội ngũ có năng lực khai thác dữ liệu; trong khi minh bạch và trách nhiệm giải trình là điều kiện để bảo đảm quyền lực được thực thi đúng mục tiêu phát triển. Do đó, nâng cao năng lực quản trị địa phương cần được triển khai theo cách tiếp cận hệ thống, thay vì cải thiện từng yếu tố riêng lẻ.
5. Kết luận

Việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp tại tỉnh Đắk Lắk đã tạo ra nhiều chuyển biến tích cực trong cải cách hành chính, đổi mới phương thức điều hành và xây dựng chính quyền số. Các chỉ số cải cách hành chính và mức độ hài lòng của người dân được cải thiện; cơ chế phân quyền từng bước được mở rộng; việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và cung ứng dịch vụ công có nhiều tiến bộ. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng bộc lộ những hạn chế, như: chất lượng nguồn nhân lực chưa đồng đều, năng lực quản trị số còn hạn chế, mức độ tự chủ tài chính của chính quyền cấp cơ sở còn thấp và cơ chế phối hợp trong thực thi nhiệm vụ chưa thật sự đồng bộ. Những hạn chế này cho thấy vẫn còn khoảng cách giữa yêu cầu của mô hình chính quyền hai cấp với năng lực quản trị thực tế của chính quyền cấp cơ sở.

Từ các kết quả nghiên cứu có thể khẳng định, nâng cao năng lực quản trị địa phương của chính quyền cấp cơ sở không chỉ là yêu cầu trước mắt nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu quả mà còn là điều kiện nền tảng để xây dựng nền hành chính hiện đại, chuyên nghiệp, minh bạch và phục vụ. Đối với tỉnh Đắk Lắk, quá trình này cần được triển khai đồng bộ theo hướng hoàn thiện thể chế phân quyền, phát triển đội ngũ cán bộ, công chức có năng lực quản trị hiện đại, tăng cường tự chủ tài chính, đẩy mạnh chuyển đổi số và hoàn thiện cơ chế minh bạch, trách nhiệm giải trình gắn với sự tham gia của người dân và cộng đồng.

Tài liệu tham khảo:
Ban Chỉ đạo Cải cách hành chính của Chính phủ (2026). Báo cáo Chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS) năm 2025.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2025). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2025 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Chính trị (2022). Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Bộ Nội vụ (2025). Báo cáo tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp và phân cấp, phân quyền trong quản lý nhà nước.
Bộ Nội vụ (2026). Báo cáo Chỉ số cải cách hành chính (PAR Index) năm 2025.
Bovens, M. (2007). Analysing and assessing accountability: A conceptual framework. European Law Journal, 13(4), 447-468.
Chính phủ (2025). Báo cáo về kết quả triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Moore, M. H. (1995). Creating Public Value: Strategic Management in Government. Harvard University Press.
North, D. C. (1990). Institutions, Institutional Change and Economic Performance. Cambridge University Press.
Organisation for Economic Co-operation and Development. (2019). Making Decentralisation Work: A Handbook for Policy-Makers. OECD Publishing.
Organisation for Economic Co-operation and Development. (2019). Government at a Glance 2019. OECD Publishing.
Organisation for Economic Co-operation and Development. (2023). Government at a Glance 2023. OECD Publishing.
Quốc hội (2013, 2025). Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Quốc hội (2015, 2025). Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Quốc hội (2015). Luật Ngân sách nhà nước năm 2015.
Rhodes, R. A. W. (1997). Understanding Governance: Policy Networks, Governance, Reflexivity and Accountability. Open University Press.
Thủ tướng Chính phủ (2025). Quyết định phê duyệt Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2026–2030.
United Nations Development Programme (1997). Governance for Sustainable Human Development. UNDP.
United Nations Development Programme (2009). Capacity Development: A UNDP Primer. UNDP.
United Nations Development Programme (2022). Human Development Report 2021/2022. UNDP.
Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk (2026). Báo cáo công tác cải cách hành chính năm 2025.
Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk (2026a). Báo cáo kết quả thực hiện chuyển đổi số năm 2025.
Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk (2026b). Báo cáo tình hình phát triển kinh tế -xã hội năm 2025 và phương hướng nhiệm vụ năm 2026.
World Bank (2004). World Development Report 2004: Making Services Work for Poor People. World Bank.
World Bank (2011). Public Financial Management Handbook. World Bank.
World Bank (2020). Digital Government Handbook. World Bank.
World Bank (2023). World Development Report 2023: Migrants, Refugees, and Societies. World Bank.