Risk management and natural disaster emergency response in Vietnam – Current situation and solutions
TS. Lê Văn Từ
Phân hiệu Học viện Hành chính và Quản trị công tại tỉnh Đắk Lắk
Email: tulv@apag.edu.vn
(Quanlynhanuoc.vn) – Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi thiên tai do vị trí địa lý, địa hình phức tạp và tác động ngày càng mạnh của biến đổi khí hậu. Bài viết phân tích thực trạng quản trị rủi ro và ứng phó khẩn cấp với thảm họa thiên tai trong thời gian gần đây, chỉ ra những tiến bộ về khung pháp lý, việc ứng dụng công nghệ dự báo và sự chuyển dịch tư duy từ ứng phó thụ động sang chủ động phòng ngừa. Đồng thời, làm rõ những hạn chế và nguyên nhân của công tác này. Trên cơ sở phân tích thực trạng và kinh nghiệm của một số quốc gia, bài viết đề xuất một hệ thống giải pháp đồng bộ. Từ đó, đưa ra khuyến nghị: quản trị rủi ro chủ động, tích hợp sâu vào phát triển kinh tế – xã hội và lấy cộng đồng làm trung tâm thì Việt Nam mới giảm thiểu tối đa thiệt hại do thiên tai, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030 và tầm nhìn 2050.
Từ khóa: Quản trị rủi ro thiên tai; ứng phó khẩn cấp; thảm họa thiên tai; biến đổi khí hậu; quản trị; phát triển bền vững.
Abstract: Vietnam is among the countries most severely affected by natural disasters due to its geographical location, complex terrain, and the intensifying impacts of climate change. This article analyzes the current state of disaster risk governance and emergency response, highlighting advancements in the legal framework, the application of forecasting technologies, and the shift in mindset from passive response to proactive prevention. It also identifies existing limitations and their underlying causes. Based on this analysis and international experiences, the article proposes a comprehensive set of solutions. It concludes that only through proactive risk governance deeply integrated into socio-economic development and centered on the community can Vietnam minimize disaster-related losses and achieve its sustainable development goals for 2030 and the vision for 2050.
Keywords: Disaster risk governance; emergency response; natural disasters; climate change; governance; sustainable development.
1. Đặt vấn đề
Với địa hình phức tạp, khí hậu đa dạng và tác động ngày càng mạnh của biến đổi khí hậu, Việt Nam là một trong những quốc gia dễ bị tổn thương bởi thảm họa thiên tai trên thế giới, với tần suất thiên tai tăng dần trong những thập kỷ gần đây. Từ bão lũ, lũ quét, hạn hán đến sạt lở đất, các sự kiện này không chỉ gây thiệt hại về người và tài sản mà còn đe dọa an ninh lương thực, phát triển kinh tế và sự ổn định của xã hội. Thảm họa thiên tai là không tránh khỏi; vấn đề đặt ra là làm thế nào để giảm thiểu mức độ thiệt hại trong những điều kiện nhất định, tức là làm thế nào để chuyển từ mô hình ứng phó thụ động, chủ yếu dựa vào cứu trợ sau thảm họa, sang quản trị rủi ro chủ động, tích hợp phòng ngừa và giảm thiểu. Theo Luật Phòng, chống thiên tai năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), Nhà nước đã thiết lập khung pháp lý, xác định rõ trách nhiệm của các cấp chính quyền trong việc lập kế hoạch và huy động nguồn lực; tuy nhiên, thực tế cho thấy vẫn tồn tại khoảng trống trong phối hợp, công nghệ và nhận thức của cộng đồng. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu làm tăng cường độ thiên tai, việc nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp trở nên cấp thiết hơn, nhằm góp phần vào mục tiêu phát triển bền vững quốc gia đến năm 2030.
2. Quản trị rủi ro và ứng phó khẩn cấp thảm họa thiên tai
Quản trị rủi ro thảm họa thiên tai (Disaster Risk Management – DRM) là quá trình hệ thống hóa các hoạt động nhằm xác định, đánh giá, giảm thiểu và ứng phó với rủi ro do thiên tai, bao gồm các giai đoạn trước, trong và sau sự kiện. DRM bao gồm việc lập kế hoạch dài hạn, đầu tư cơ sở hạ tầng và nâng cao năng lực của cộng đồng. Vì vậy, DRM không chỉ là việc xây dựng các kịch bản và đề ra các biện pháp kỹ thuật ứng phó với thảm họa thiên tai mà còn là yêu cầu mang tính chiến lược quốc gia.
Hiện nay, khái niệm quản trị rủi ro đang thay thế cho quản lý thiên tai truyền thống. Nếu như quản lý truyền thống thiên về kiểm soát và kỹ thuật của cơ quan nhà nước. Thì quản trị rủi ro nhấn mạnh: cần sự tham gia của cả Nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức xã hội và cộng đồng. Quản trị rủi ro được thực hiện theo một chu trình chính sách khép kín: từ phòng ngừa, giảm thiểu, chuẩn bị, ứng phó đến phục hồi và phát triển. Quản trị rủi ro thiên tai phải được tích hợp vào chiến lược phát triển kinh tế – xã hội quốc gia cũng như của từng địa phương và quy hoạch đô thị, nông thôn. Quản trị rủi ro thiên tai phải mang tính chiến lược, thay vì chỉ là một nhiệm vụ giải quyết các sự kiện phát sinh.
Việt Nam đã phê duyệt Chiến lược quốc gia phòng, chống thiên tai đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 tại Quyết định số 379/QĐ-TTg ngày 17/3/2021, trong đó DRM đã được tích hợp vào các kế hoạch phát triển quốc gia, nhấn mạnh chuyển từ ứng phó khẩn cấp sang giảm thiểu rủi ro, với trọng tâm là sử dụng công nghệ dự báo và giáo dục cộng đồng. Việc nâng cao DRM thành chiến lược ở Việt Nam không chỉ giúp giảm thiệt hại mà còn thúc đẩy tăng trưởng bền vững, đòi hỏi sự lãnh đạo mạnh mẽ của chính phủ và sự tham gia của người dân.
Trước đây, các kịch bản ứng phó của Việt Nam thường dựa trên dữ liệu lịch sử và mang tính địa phương, ít liên kết vùng; vì vậy, chúng thường mang tính bị động và kém hiệu quả. Việc quản trị rủi ro thảm họa thiên tai ở Việt Nam trong thời gian gần đây đã có những thay đổi lớn về tư duy và cơ chế vận hành. Về tư duy chuyển từ quản lý thảm họa truyền thống mang tính phản ứng, sự vụ sang tư duy quản trị rủi ro chiến lược mang tính chủ động, hệ thống và đa chủ thể. Về cơ chế vận hành, thay vì phản ứng mang tính kỹ thuật, đối phó khi thiên tai đã xảy ra và khắc phục hậu quả thảm họa, đã chuyển sang chủ động đánh giá, giảm thiểu nguy cơ tổn thương ngay từ khâu hoạch định chính sách mang tính hệ thống. Trong đó, trách nhiệm không chỉ thuộc về bộ máy nhà nước và lực lượng vũ trang mà còn huy động trách nhiệm của toàn xã hội tham gia dưới sự điều phối của Nhà nước. Ngoài tính chủ động, quản lý rủi ro chiến lược còn mang tính hệ thống, không chỉ là các hoạt động độc lập, sự vụ, tách rời khỏi các kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội mà còn được tích hợp sâu vào quy hoạch đô thị, ngân sách quốc gia và chiến lược an sinh. Thực tế thảm họa Làng Nủ – Lào Cai năm 2024 và quy hoạch tích hợp đồng bằng sông Cửu Long (Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 của Chính phủ về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu) là những ví dụ minh chứng cho yêu cầu về cảnh báo sớm, quản trị dựa vào cộng đồng và mô hình chủ động thích ứng.
3. Thực trạng quản trị rủi ro và ứng phó khẩn cấp thảm họa thiên tai ở Việt Nam
3.1. Thực trạng thảm họa thiên tai ở Việt Nam từ năm 2016 – 2025
Trong giai đoạn 2016 – 2025, thiên tai ở Việt Nam tiếp tục diễn biến theo chiều hướng phức tạp, khó lường về tần suất, cường độ và phạm vi tác động, dưới ảnh hưởng ngày càng rõ rệt của biến đổi khí hậu. Các loại hình thiên tai như bão, áp thấp nhiệt đới, mưa lớn, lũ quét, sạt lở đất, hạn hán và xâm nhập mặn xảy ra trên hầu hết các vùng, miền của cả nước, gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản, đồng thời làm gián đoạn các hoạt động kinh tế – xã hội. Thực tiễn này cho thấy thiên tai không còn là những hiện tượng mang tính thời vụ hay cục bộ mà đã trở thành một trong những rủi ro phát triển lớn của quốc gia. Để có cái nhìn tổng quát về mức độ tác động của thiên tai trong giai đoạn nghiên cứu, có thể xem xét các chỉ tiêu cơ bản về số lượng bão, thiệt hại về người và thiệt hại kinh tế được tổng hợp tại Bảng 1 dưới đây.
Bảng 1: Tổng thiệt hại do thiên tai tính từ năm 2016 -2025
| Năm | Số cơn bão | Thiệt hại do thiên tai | |
| Số người chết, mất tích | Thiệt hại kinh tế (tỷ đồng) | ||
| 2016 | 10 | 264 | 39.726 |
| 2017 | 16 | 386 | 59.952 |
| 2018 | 9 | 224 | 16.162 |
| 2019 | 8 | 133 | 6.863 |
| 2020 | 14 | 357 | 39.945 |
| 2021 | 9 | 108 | 5.785 |
| 2022 | 7 | 175 | 19.474 |
| 2023 | 5 | 169 | 9.324 |
| 2024 | 10 | 519 | 91.622 |
| 2025 | 14 | 409 | 85.099 |
| Trung bình | 10,2 | 274,4 | 374.261 |
Trong đó, có thể nêu một vài ví dụ về thiệt hại cụ thể sau:
Bão Yagi năm 2024. Bão Yagi năm 2024 và hàng loạt các thảm họa thiên tai liên tiếp sau lũ lụt, sạt lở đất và mưa lớn kéo dài ở Miền Bắc đã gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản, được đánh giá là cơn bão mạnh nhất trong 30 năm qua; đổ bộ với sức gió mạnh nhất trong 20 năm, gây lũ quét tại Yên Bái, làm sập cầu và cô lập hàng nghìn hộ dân, với 502 km đê kè bị hư hỏng và 94 km bờ sông sạt lở, đã gây thiệt hại khoảng 84,5 nghìn tỷ đồng về tài sản, thiệt hại về người khoảng 345 người chết và mất tích (Wikipeddia, Bão Yagi, 2024).
Lũ lụt miền Trung, Tây Nguyên: Bão Damrey năm 2017 và sau đó là trận mưa lịch sử đã khiến 106 người chết, 25 người mất tích, gây thiệt hại về tài sản ước tính 23.000 tỷ đồng. Về tình trạng hạn hán và mưa lũ năm 2019 đã xẩy ra tình trạng nắng nóng diện rộng kéo dài ở khu vực Miền Trung và Tây Nguyên dẫn đến hàng chục ha cây trồng thiếu nước, hàng ngàn hộ dân thiếu nước sinh hoạt nghiêm trọng; cùng với đó là mưa lũ bất thường vào tháng 9/2019 đã làm 4 người chết, hàng ngàn ngôi nhà ngập sâu trong nước, hàng ngàn ha hoa mầu mất trắng (Ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống thiên tai, 2020).
Hạn hán ở đồng bằng sông Cửu Long: từ năm 2016 – 2020, xâm nhập mặn làm giảm sản lượng lúa 20%, ảnh hưởng đến xuất khẩu gạo. Năm 2024, hạn hán tái diễn, thiệt hại 16.135 tỷ đồng trong 9 tháng (Đỗ Hậu, 06/4/2026a); theo Cục Thủy lợi, đến cuối tháng 4/2025, đồng bằng sông Cửu Long có khoảng 1.581 ha lúa và 4.642 ha cây ăn quả có nguy cơ giảm năng suất; khoảng 73.900 hộ dân bị ảnh hưởng do thiếu nước sinh hoạt (Nguyễn Phúc, 07/5/2024).
Chỉ riêng trong năm 2025, Việt Nam đã hứng chịu 14 cơn bão hoặc áp thấp nhiệt đới. Riêng hai cơn bão Bualoi và Matmo vào tháng 9 và tháng 10/2025 đã khiến hơn 80 người thiệt mạng và mất tích, cùng với đó là cơn bão số 13 có tên quốc tế là Kalmaegi đã đổ bộ vào miền Trung và Tây Nguyên gây thiệt hại rất nghiêm trọng cho Việt Nam với tổng giá trị vật chất ước tính lên tới hơn 7.179 tỷ đồng, làm 5 người chết, 3 người mất tích và hàng chục người bị thương (Scott McDonald, 26/11/2025); nếu tính cả năm 2025, theo Báo cáo 451/BC-CTK của Cục Thống kê, số liệu của Bộ Nông nghiệp và Môi trường thiên tai trên cả nước tổng thiệt hại ước tính trên 99.469 tỷ đồng, đã làm 420 người chết, mất tích; 730 người bị thương; 4.193 nhà bị sập, đổ, trôi; 347.883 nhà bị hư hỏng, tốc mái; 541.204 ha lúa, hoa màu bị ngập úng, thiệt hại; 73.300 con gia súc, 5,1 triệu con gia cầm bị chết, cuốn trôi; 171.763 lồng bè thủy sản bị thiệt hại; 1.032km đê, kè, kênh mương bị thiệt hại; 115km bờ sông, bờ biển bị sạt lở; 1.258 km đường giao thông bị thiệt hại với tổng khối lượng đất đá bị sạt lở là 14,5 triệu m3 (Anh Hào, 06/12/2025).
3.2. Thực trạng quản trị rủi ro và ứng phó khẩn cấp thảm họa thiên tai
Một là, DRM ở Việt Nam đã nâng cao năng lực thích ứng, có sự chuyển dịch từ ứng phó sang chủ động phòng ngừa. Từ năm 2013, Luật Phòng, chống thiên tai đã thiết lập khung pháp lý vững chắc, đã hợp nhất quản lý rủi ro và bảo vệ hạ tầng an toàn quốc gia; thống nhất về phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai; bổ sung các quy định về lực lượng xung kích tại chỗ, quỹ phòng chống thiên tai (với đóng góp bắt buộc từ doanh nghiệp và cá nhân), và tích hợp yếu tố biến đổi khí hậu vào lập kế hoạch đã nâng tầm công tác ứng phó khẩn cấp thảm họa thiên tai thành một bộ phận của chiến lược quốc gia về an ninh con người. Cùng với đó, Việt Nam đã ban hành Chiến lược quốc gia về phòng, chống thiên tai đến năm 2030, tầm nhìn 2050; Chiến lược phát triển hệ thống đê điều, hồ chứa và cơ sở hạ tầng phòng, chống thiên tai hiện đại, bảo đảm hài hòa giữa an toàn dân sinh, phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường.
Hai là, DRM ở Việt Nam đã nâng cao năng lực dự báo và ứng dụng công nghệ thông tin, viễn thám trong công tác dự báo, cảnh báo sớm và truyền thông về phòng chống thiên tai; nỗ lực từng bước hiện thực hóa mục tiêu quản lý thiên tai bằng dữ liệu và công nghệ số, nâng tầm từ thế chủ động ứng phó sang giai đoạn quản trị rủi ro toàn diện; đẩy mạnh các chương trình khoa học công nghệ và chuyển đổi số để xây dựng SmartMET, WebGIS cảnh báo, mô hình AI dự báo xoáy thuận, sóng, nước dâng, mưa cực ngắn, xâm nhập mặn và ngập triều đô thị, tạo nền cho vận hành dựa trên dữ liệu thời gian thực. Qua đó, hệ thống ứng phó khẩn cấp đã được cải thiện đáng kể, với mạng lưới dự báo khí tượng thủy văn phủ rộng trên toàn quốc (Hồng Minh, 09/11/2025).
Ba là, về phía các bộ, ngành và chính quyền địa phương các cấp đã có nhiều những biện pháp ứng phó, thích nghi với thảm họa thiên tai đã chủ động xây dựng kế hoạch phòng chống thiên tai tích hợp với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội; tăng cường năng lực phòng ngừa, ứng phó ở cấp địa phương thông qua việc phân công trách nhiệm ở các cấp, huy động và phát huy tối đa nguồn lực 4 tại chỗ và sự tham gia của các chủ thể trong xã hội, tiến hành diễn tập thường xuyên; có sự giám sát, kiểm tra, đánh giá và tổng kết rút kinh nghiệm sau mỗi đợt thiên tai (Đỗ Quỳnh Hoa, 21/01/2025a).
Bên cạnh những kết quả nêu trên, việc quản trị rủi ro và ứng phó khẩn cấp với thảm họa thiên tai ở Việt Nam vẫn còn một số hạn chế.
Thứ nhất, hệ lụy của thảm họa thiên tai vẫn còn quá lớn, mặc dù đã có những bước đi phù hợp và hiệu quả trên bình diện pháp lý cũng như trong triển khai thực tế. Bình quân trong 10 năm trở lại đây, mỗi năm thiên tai gây thiệt mạng và mất tích khoảng 300 người, thiệt hại kinh tế khoảng 1,5 GĐP (Vietnamplus.vn).
Thứ hai, hệ thống dự báo và cảnh báo còn yếu. Năng lực dự báo, cảnh báo sớm đã được nâng lên nhưng vẫn còn thiếu tính kịp thời, độ chính xác về thời điểm, mức độ chi tiết và khả năng tiếp cận (tọa độ/địa điểm), đặc biệt trong những tình huống bất thường, khẩn cấp như lũ quét và sạt lở đất, dẫn đến khả năng ứng phó hiệu quả còn thấp (Phương Linh, 13/5/2025).
Thứ ba, hạ tầng chống thiên tai quá tải, xuống cấp, chưa đáp ứng được các kịch bản cực đoan. Hệ thống đê điều, hồ đập (nhất là ở miền Trung, Tây Nguyên) nhiều nơi đã xuống cấp; khả năng chống chịu của hạ tầng dân sinh (đặc biệt là khu dân cư nông thôn miền núi) trước các thiên tai cực đoan còn hạn chế.
Thứ tư, việc phối hợp thực thi và ý thức cộng đồng trong phòng, chống thảm họa thiên tai còn yếu. Một số địa phương còn lúng túng, bị động khi ứng phó với thiên tai cực đoan; phương châm “nguồn lực 4 tại chỗ” ở một số vùng sâu, vùng miền núi còn rơi vào tình trạng tê liệt do thông tin liên lạc bị mất hoàn toàn, giao thông bị chia cắt, hoặc nguồn lực hạn chế không đáp ứng được nhu cầu thực tế. Ngoài ra, người dân trong vùng chịu tác động của thiên tai còn có tâm lý chủ quan, bám giữ tài sản hoặc không theo sự chỉ đạo dời đi sớm của cơ quan chức năng, cũng như thiếu kỹ năng sinh tồn khi thảm họa ập đến (Đỗ Quỳnh Hoa, 21/01/2025b).
4. Kinh nghiệm của một số quốc gia và tham khảo cho Việt Nam
4.1. Kinh nghiệm của Nhật Bản
Nhật Bản là vùng đất của những thảm họa động đất, núi lửa, lũ lụt và sạt lở đất, và chúng ngày càng trở nên thường xuyên và nghiêm trọng hơn do biến đổi khí hậu. Thiên tai, bão lũ thường xảy ra với thiệt hại trên 1.000 người thiệt mạng và mất tích; những năm gần đây giảm xuống dưới 100 người (riêng 2018 là 271 người) (Yasuhiro Tanaka, 02/01/2024a).
Để quản trị khủng hoảng thiên tai, Nhật Bản đã ban hành Đạo luật cơ bản về quản trị thiên tai số 223 năm 1961; qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung và gần đây nhất là vào năm 2013 đã quy định rõ về các biện pháp kiểm soát thiên tai khẩn cấp, các biện pháp khắc phục hậu quả, các biện pháp ứng phó của Chính phủ cũng như quyền huy động chính quyền địa phương cho các dự án phục hồi sau thảm họa; Luật này cũng phân cấp trách nhiệm: trong việc xác định rõ vai trò và nhiệm vụ của Chính phủ trung ương, chính quyền các cấp tỉnh, thành phố và người dân trong phòng ngừa thiên tai và biện pháp xử lý khi thiên tai xảy ra; xác lập rõ những yêu cầu lập kế hoạch quản lý thảm họa cơ bản, kế hoạch phòng chống thảm họa ở cấp địa phương và các cơ quan công cộng; đồng thời, quy định chi tiết các hoạt động phòng ngừa, chuẩn bị khẩn cấp, ứng phó khi thảm họa xảy ra và khắc phục hậu quả sau thiên tai. Ví dụ theo Điều 2, các “thiệt hại do bão, lốc xoáy, mưa lũ, lũ bùn đá, tuyết rơi dày, lũ lụt, sạt lở, nước dâng do bão, động đất, sóng thần, núi lửa phun trào, sạt lở đất và các hiện tượng thiên nhiên bất thường khác, hoặc các hiện tượng cháy nổ quy mô lớn…” là đối tượng điều chỉnh của Đạo luật này. Đồng thời, Đạo luật cơ bản về quản trị thiên tai cũng quy định tỉnh trưởng, thị trưởng các thành phố có thẩm quyền ban hành chỉ thị về các biện pháp trù bị (Điều 59), lệnh sơ tán (Điều 60), thiết lập các khu vực cảnh báo (Điều 63) và có trách nhiệm bảo vệ tính mạng, tài sản của cư dân khỏi thiên tai. Ngoài ra, với tư cách là đại diện chính quyền địa phương, chính quyền cấp quận có trách nhiệm hỗ trợ chính quyền thành phố trong hoạt động tự quản và thực hiện công tác điều phối (Yasuhiro Tanaka, 02/01/2024b).
Để triển khai, Nhật Bản thành lập Hội đồng quốc gia về quản trị thiên tai thuộc Văn phòng nội các, do Thủ tướng Chính phủ đứng đầu, tất cả các bộ trưởng, người đứng đầu các cơ quan nhà nước lớn và một số nhà khoa học trong các lĩnh vực liên quan; Hội đồng này có trách nhiệm lập kế hoạch và điều phối tổng thể chính sách, các hoạt động triển khai các biện pháp cần thiết trong thảm họa quy mô lớn; ngoài việc xây dựng kế hoạch quản trị thiên tai, Hội đồng quốc gia về Quản trị thiên tai chịu trách nhiệm cung cấp các báo cáo và đề xuất với Thủ tướng về các vấn đề liên quan đến quản trị thiên tai. Trong trường hợp xảy ra thảm họa thiên tai, Hội đồng có nhiệm vụ đề xuất các biện pháp khắc phục khẩn cấp. Các thể chế tương tự cũng được thiết lập ở cấp chính quyền địa phương; trong đó, Văn phòng Nội các là cơ quan điều phối chung sau thảm họa. Các bộ, ngành sẽ cử đoàn đến hỗ trợ vùng bị thiên tai. Đồng thời, các phương tiện truyền thông đại chúng có trách nhiệm cung cấp thông tin nhanh chóng, đưa ra cảnh báo và khuyến nghị sơ tán kịp thời. Chính quyền địa phương là đơn vị chịu trách nhiệm chính và phối hợp chặt chẽ với các cơ quan Trung ương và cơ quan Khí tượng trong việc ứng phó với thảm họa (Yasuhiro Tanaka, 02/01/2024c).
Ngoài ra, Nhật Bản còn thực hiện việc chia sẻ kiến thức và thiết bị để ứng phó với thảm họa, nhất là thảm họa quy mô lớn, từ cấp trung ương đến các cấp lãnh đạo và quản lý địa phương. Đồng thời, các khu vực khác trong cả nước không chịu thảm họa phải cung cấp thiết bị, vật liệu hỗ trợ ứng phó với thảm họa (Trung ương xây dựng khung khắc phục thảm họa để các địa phương căn cứ thực hiện). Hằng năm, Chính phủ Nhật Bản tổ chức một cuộc diễn tập toàn diện về ứng phó với thảm họa với giả định là một trận động đất ở khu đô thị đông dân, cũng như các cuộc diễn tập ứng phó với những thiên tai khác trên toàn quốc, với sự tham gia của Trung ương, chính quyền địa phương và người dân (Yasuhiro Tanaka, 02/01/2024d).
Chính phủ Nhật Bản thường xuyên cảnh báo để ứng phó với động đất mạnh; mỗi hộ gia đình nên dự trữ đủ thực phẩm và nước để dùng trong 3–7 ngày, đồng thời chuẩn bị sẵn một lượng thực phẩm cần thiết. Chính quyền địa phương cũng tăng cường đầu tư vào giảm nhẹ thiên tai, thông qua tài trợ của khu vực công, kỹ thuật địa chấn và những tiến bộ trong trí tuệ nhân tạo (AI), nhằm thúc đẩy áp dụng công nghệ và thiết kế để giảm thiệt hại, xây dựng các tòa nhà an toàn hơn và xây dựng những nơi trú ẩn chống thiên tai trong nhà (Thế Tuấn, 24/9/2024).
4.2. Kinh nghiệm của Philippines
Với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên không thuận lợi, Philippines là một trong những quốc gia có nguy cơ cao chịu rủi ro thiên tai như bão nhiệt đới, lũ lụt, sạt lở đất, động đất, sóng thần và núi lửa. Để quản trị rủi ro và ứng phó khẩn cấp trước thảm họa thiên tai hiệu quả, Philippines đã sớm chú trọng và phát triển mô hình quản trị rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng nhằm giảm thiểu thiệt hại về người và tài sản, đồng thời nâng cao khả năng thích ứng của cộng đồng. Philippines đã ban hành Luật Quản lý và Giảm nhẹ Rủi ro Thiên tai năm 2010. Luật quy định cấp xã phải có Ủy ban Quản lý rủi ro thiên tai, với ngân sách tối thiểu 5% dành cho phòng chống và ứng phó thiên tai. Philippines có nhiều kinh nghiệm trong việc tập trung nâng cao năng lực ứng phó và giảm thiểu tổn thương cho các cộng đồng dễ bị tổn thương. Đó là việc trao quyền cho người dân địa phương tham gia tích cực vào các hoạt động, từ đánh giá rủi ro thiên tai đến lập kế hoạch và triển khai các biện pháp giảm nhẹ, nhằm tăng cường khả năng phục hồi và khả năng chống chịu của cộng đồng trước tác động của thiên tai.
Các hoạt động gồm: (1) Nâng cao nhận thức và giáo dục cộng đồng về thiên tai và rủi ro thiên tai thông qua các chương trình phổ biến kiến thức được tổ chức thường xuyên tại cộng đồng, trường học, và các buổi tập huấn kỹ năng ứng phó với bão, lũ, động đất. (2) Đánh giá rủi ro thiên tai có sự tham gia của cộng đồng. Người dân cùng với chính quyền địa phương triển khai lập bản đồ nguy cơ thiên tai tại khu vực, xác định các khu vực dễ bị tổn thương và thống kê các nhóm dân cư dễ bị ảnh hưởng. (3) Xây dựng và thực hiện kế hoạch phòng ngừa, ứng phó thiên tai; các cộng đồng chủ động xây dựng kế hoạch quản lý thiên tai, như kế hoạch sơ tán dân, thành lập đội ứng phó khẩn cấp tại cộng đồng, chuẩn bị điểm tránh trú an toàn và dự trữ nhu yếu phẩm. (4) Xây dựng hệ thống cảnh báo sớm dựa vào cộng đồng: sử dụng loa phát thanh, tin nhắn điện thoại; cử người theo dõi mực nước sông, thời tiết; truyền thông tin kịp thời đến từng hộ gia đình. (5) Phục hồi tái thiết sau thiên tai: cộng đồng cùng tham gia sửa chữa nhà cửa, cơ sở hạ tầng; khôi phục sinh kế nông nghiệp, đánh bắt cá; hỗ trợ tâm lý cho các nạn nhân (Đỗ Hậu, 06/4/2026b).
4.3. Kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam
Một là, cần pháp chế hóa hoàn diện, phân cấp ngân sách bắt buộc và phân quyền mạnh mẽ hơn cho người đứng đầu địa phương. Các cấp chính quyền địa phương phải thành lập ủy ban quản lý rủi ro thiên tai và phân quyền mạnh mẽ hơn cho người đứng đầu địa phương, đồng thời quy chuẩn hóa quy trình phối hợp liên ngành nhằm bảo đảm tính thống nhất, chủ động và kịp thời trong ứng phó với thảm họa thiên tai. Các địa phương phải trích quỹ phòng chống thiên tai tối thiểu 5% ngân sách địa phương và chủ động trong việc mua sắm trang thiết bị, nhu yếu phẩm dự phòng.
Hai là, xây dựng việc số hóa hệ thống cảnh báo sớm đến thiết bị đầu cuối và giáo dục sinh tồn: có sự phối hợp chặt chẽ giữa địa phương và các tập đoàn viễn thông công nghệ, gửi cảnh báo thiên tai tức thì, diện rộng lên màn hình điện thoại cho người dân trong vùng thiên tai, cũng như các phương tiện truyền thông khác có thể. Đồng thời, đưa giáo dục kỹ năng sinh tồn trong thảm họa thiên tai vào giáo dục phổ thông từ sớm.
Ba là, lấy cộng đồng làm trung tâm trong ứng phó, cứu hộ và phục hồi tại chỗ, chuẩn hóa quy trình quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng.
Bốn là, xây dựng các trung tâm lánh nạn chuyên dụng bền vững như nhà tránh lũ cộng đồng, tích hợp quy hoạch nhà văn hóa lưỡng dụng có khả năng chống chịu thảm họa thiên tai cao để có thể sử dụng làm trung tâm lánh nạn trong các thảm họa thiên tai.
5. Một số giải pháp
Thứ nhất, hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế quản trị chiến lược quốc gia. Sửa đổi, bổ sung Luật Phòng, chống thiên tai hiện hành (và các luật liên quan, như: Luật Đê điều, Luật Phòng thủ dân sự) theo hướng quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn của người đứng đầu địa phương trong tình huống khẩn cấp để bảo đảm tính chủ động, quyết đoán và kịp thời ứng phó thảm họa; đồng thời, quy chuẩn hóa cơ chế, quy trình phối hợp liên ngành/liên vùng nhanh chóng, tránh chồng chéo thẩm quyền, cũng như thiết lập cơ chế quản trị liên vùng để điều phối hiệu quả nguồn lực ứng phó. Các cấp chính quyền địa phương cần thành lập Ủy ban Quản lý rủi ro thiên tai (với các ban chỉ huy và các đội ứng phó khẩn cấp ở cơ sở) với ngân sách tối thiểu 5% dành riêng cho phòng chống và ứng phó (bao gồm mua sắm trang thiết bị, dự trữ nhu yếu phẩm). Trung ương hỗ trợ xây dựng khung quốc gia để địa phương chủ động triển khai thực thi. Đưa quản trị rủi ro thiên tai trở thành nội dung bắt buộc trong quy hoạch quốc gia, quy hoạch tỉnh/thành, quy hoạch đô thị và quy hoạch nông thôn. Ưu tiên kịch bản biến đổi khí hậu cực đoan trong mọi dự án đầu tư công.
Thứ hai, nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo sớm và ứng dụng công nghệ số.Tiếp tục đẩy mạnh các chương trình chuyển đổi số, ứng dụng (AI), công nghệ viễn thám, WebGIS để nâng cao độ chính xác và tính kịp thời của các bản tin dự báo cực ngắn, đặc biệt là cảnh báo các loại hình thiên tai bất thường, nguy hiểm như lũ quét, sạt lở đất. Cụ thể, cảnh báo sớm thời gian thực, tiếp cận đến từng người dân, đẩy mạnh SmartMET, AI dự báo, kết hợp với viễn thông (tin nhắn, ứng dụng di động, loa phát thanh cộng đồng) để cảnh báo tức thì theo tọa độ cụ thể thông qua sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan chức năng, chính quyền địa phương với các tập đoàn viễn thông để gửi tin nhắn cảnh báo khẩn cấp tức thời, diện rộng trực tiếp đến từng người dân trong vùng bị ảnh hưởng. Xây dựng trung tâm dữ liệu quốc gia về thiên tai, tích hợp thông tin từ các bộ, ngành (Khí tượng Thủy văn, Nông nghiệp, Giao thông, Quốc phòng). Tăng cường hợp tác quốc tế để tiếp cận công nghệ tiên tiến (viễn thám, mô hình dự báo sóng thần, nước dâng, lũ quét).
Thứ ba, xây dựng và nâng cấp hạ tầng chống chịu thiên tai.Hiện đại hóa hệ thống đê điều, hồ chứa và hạ tầng dân sinh; ưu tiên đầu tư cho các khu vực dễ tổn thương (miền Trung, Tây Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long, miền núi phía Bắc) nhằm đáp ứng yêu cầu chống chịu trước các kịch bản thời tiết cực đoan. Xây dựng các công trình theo tiêu chuẩn chống chịu cực đoan, kết hợp bảo vệ môi trường (không gian xanh, mặt nước). Xây dựng hệ thống lánh nạn bền vững như các trung tâm lánh nạn lưỡng dụng (nhà văn hóa, nhà cộng đồng, trường học, bệnh viện) có kết cấu bền vững, khả năng chống chịu bão lũ cao để làm nơi lánh nạn chuyên dụng, an toàn cho người dân khi xảy ra thiên tai; tích hợp các kịch bản rủi ro thiên tai cực đoan vào quy hoạch đô thị và nông thôn. Mỗi khu vực dân cư phải có kế hoạch sơ tán rõ ràng, cùng điểm trú ẩn và dự trữ thực phẩm, nước uống dự trữ trong 3-7 ngày cho mỗi hộ gia đình.
Thứ tư, tăng cường phối hợp đa bên và quản trị dựa trên cộng đồng. Các chủ thể cùng tham gia gồm nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức xã hội, cộng đồng theo nguyên tắc “4 tại chỗ”, nhưng được Trung ương kịp thời hỗ trợ khi vượt quá khả năng của địa phương. Chuẩn hóa quy trình diễn tập thường xuyên (toàn quốc và địa phương) với các kịch bản phức tạp. Xây dựng mô hình quản trị thảm họa thiên tai dựa vào cộng đồng nhằm thu hút người dân địa phương tham gia tích cực vào chu trình quản trị rủi ro; người dân phối hợp với chính quyền lập bản đồ hiểm họa thiên tai, xác định các khu vực sụt lún, sạt lở nguy hiểm tại nơi sinh sống. Thành lập và tập huấn định kỳ cho các đội ứng phó khẩn cấp trong cộng đồng. Đồng thời, nâng cao nhận thức và năng lực cộng đồng, đưa giáo dục phòng, chống thiên tai vào chương trình phổ thông từ tiểu học (kỹ năng sinh tồn, sơ tán, ứng phó với động đất/bão/lũ). Tổ chức định kỳ các buổi diễn tập ứng phó với thiên tai giả định quy mô lớn với sự tham gia phối hợp chặt chẽ của các cấp chính quyền, lực lượng vũ trang và người dân địa phương. Đẩy mạnh tuyên truyền thay đổi nhận thức của người dân, loại bỏ tâm lý chủ quan bám giữ tài sản, chấp hành lệnh di dời, sơ tán sớm của cơ quan chức năng khi có thiên tai cực đoan.
Thứ năm, hoàn thiện cơ chế tài chính, nguồn lực và cơ chế phục hồi sau thiên tai. Đa dạng hóa nguồn lực, tăng cường quỹ phòng chống thiên tai (đóng góp bắt buộc từ doanh nghiệp, cá nhân), hợp tác công – tư, bảo hiểm rủi ro thiên tai. Sau mỗi thảm họa, ưu tiên tái thiết hạ tầng theo tiêu chuẩn chống chịu cao hơn, khôi phục sinh kế nhanh chóng và hỗ trợ tâm lý cho người dân.
Thứ sáu, thiết lập hệ thống giám sát, đánh giá và hợp tác quốc tế. Định kỳ sau mỗi trận/mùa thiên tai để rút ra những bài học kinh nghiệm làm cơ sở cho việc hoàn thiện thể chế, tổ chức bộ máy thực thi và các giải pháp ứng phó cho những năm tiếp theo. Đồng thời, tăng cường hợp tác với các quốc gia và các tổ chức quốc tế trong lĩnh vực chuyển giao công nghệ, đào tạo và chia sẻ kinh nghiệm liên quan đến quản trị rủi ro và ứng phó khẩn cấp với thảm họa thiên tai.
6. Kết luận
Quản trị rủi ro và ứng phó khẩn cấp trước thảm họa thiên tai không còn là nhiệm vụ giải quyết sự vụ đơn lẻ mà đã trở thành một yêu cầu mang tính chiến lược quốc gia, gắn liền với an ninh con người và sự phát triển bền vững của Việt Nam. Mặc dù hệ thống pháp lý và năng lực dự báo thời tiết của Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể, vẫn còn những khoảng trống lớn về hạ tầng, cơ chế phối hợp liên ngành và nhận thức của cộng đồng trước các kịch bản thời tiết cực đoan. Để giảm thiểu tối đa thiệt hại về người và tài sản, Việt Nam cần chuyển đổi toàn diện từ tư duy ứng phó sau thảm họa sang quản trị rủi ro chủ động, tích hợp sâu sắc yếu tố thiên tai vào quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội. Thực hiện đồng bộ các giải pháp về phân cấp ngân sách bắt buộc, số hóa cảnh báo sớm theo thời gian thực đến thiết bị đầu cuối của người dân, nâng cấp hạ tầng lưỡng dụng và trang bị kỹ năng sinh tồn cho cộng đồng ngay từ nhà trường là chìa khóa quyết định. Chỉ khi có sự đồng hành tích cực của cả Nhà nước, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và từng người dân dưới một cơ chế điều phối thống nhất, Việt Nam mới có thể xây dựng được một quốc gia an toàn, chủ động thích ứng và kiên cường trước các thảm họa thiên tai trong tương lai.
Tài liệu tham khảo:
Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống thiên tai (2020). Kỷ yếu “Nhìn lại 20 năm lũ lớn miền Trung”. https://phongchongthientai.mard.gov.vn/FileUpload/2025-07.pdf
Chính phủ (2021). Quyết định số 379/QĐ-TTg ngày 17/03/2021 phê duyệt Chiến lược quốc gia phòng, chống thiên tai đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Anh Hào (06/12/2025). Thống kê thiệt hại do thiên tai từ năm 2025. Chính sách pháp luật mới. https://thuvienphapluat.vn/chinh-sach-phap-luat-moi/vn/ho-tro-phap-luat/thong-tin-huu-ich/100066/thong-ke-thiet-hai-do-thien-tai-tu-dau-nam-2025
Đỗ Hậu (06/4/2026). Kinh nghiệm quốc tế về quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng và bài học cho Việt Nam. Tạp chí điện tử của Bộ Xây dựng. https://tapchixaydung.vn/kinh-nghiem-quoc-te-ve-quan-ly-rui-ro-thien-tai-dua-vao-cong-dong-20201224000037166.html
Đỗ Quỳnh Hoa (21/01/2025). Nâng cao năng lực quản trị của chính quyền địa phương trong việc ứng phó với các thảm họa thiên nhiên ở Việt Nam hiện nay. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/01/21/nang-cao-nang-luc-quan-tri-cua-chinh-quyen-dia-phuong-trong-ung-pho-voi-cac-tham-hoa-thien-nhien-o-viet-nam-hien-nay/
Hồng Minh (09/11/2025). Từ những con đê giữ nước đến nền quản trị hiện đại: Dấu ấn của quản lý đê điều và phòng chống thiên tai. Tạp chí điện tử Nông nghiệp Môi trường. https://nnmt.net.vn/tu-nhung-con-de-giu-nuoc-den-nen-quan-tri-rui-ro-hien-dai-dau-an-cua-cuc quan-ly-de-dieu-va-phong-chong-thien-tai
Lưu Hiệp (09/12/2025). Bài toán thủy điện xả lũ khi thiên tai bất thường (bài cuối): Khẩn cấp xây dựng hệ thống quản trị rủi ro hiện đại. Tạp chí điện tử Công an nhân dân. https://baomoi.com/bai-cuoi-khan-cap-xay-dung-he-thong-quan-tri-rui-ro-hien-dai-c53959675.epi
McDonald, S. (26/11/2025). Rủi ro ngập lụt biến chuyển, Việt Nam cần chuyển mình trong ứng phó. Tạp chí điện tử RMIT Việt Nam. https://www.rmit.edu.vn/vi/tin-tuc/tat-ca-tin-tuc/2025/nov/rui-ro-ngap-lut-bien-chuyen-viet-nam-can-chuyen-minh-trong-ung-pho
Nguyễn Phúc (07/5/2024). Hạn hán xâm nhập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long ngày càng khó lường. Báo điện tử Nhân Dân. https://nhandan.vn/han-han-xam-nhap-man-o-dong-bang-song-cuu-long-ngay-cang-kho-luong-post808201.html
Phương Linh (13/5/2025). Ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý rủi ro lũ lụt tại Việt Nam. Tạp chí điện tử Quân đội nhân dân. https://www.qdnd.vn/giao-duc-khoa-hoc/tin-tuc/ung-dung-khoa-hoc-cong-nghe-trong-quan-ly-rui-ro-lu-lut-tai-viet-nam-828190
Quốc hội (2020). Luật số 60/2020/QH14 ngày 17/6/2020 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều.
Tanaka, Y. (02/01/2024). Kinh nghiệm quản trị khủng hoảng thiên tai của Nhật Bản và bài học tham khảo cho Việt Nam. Tạp chí điện tử Lãnh đạo và Chính sách. https://vjol.info.vn/Lanhdaovachinhsach/en/article/view/90481/76692/
Thế Kha (03/12/2025). Thay đổi tư duy chống sang sống cùng lũ. Tạp chí điện tử Dân trí. https://dantri.com.vn/thoi-su/thay-doi-tu-duy-tu-chong-sang-song-cung-voi-lu-251126203623920.htm
Thế Tuấn (24/9/2024). Quản lý rủi ro thiên tai để trở nên kiên cường hơn. Tạp chí điện tử Đại Đoàn kết. https://daidoanket.vn/quan-ly-rui-ro-thien-tai-de-tro-nen-kien-cuong-hon-10290972.html
Thông tấn xã Việt Nam (14/7/2026). Kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về công tác phòng, chống thiên tai. Tạp chí điện tử Quân đội nhân dân. https://www.qdnd.vn/chinh-tri/tin-tuc/ket-luan-cua-tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-ve-cong-tac-phong-chong-thien-tai-1049148
Vietnamplus.vn. Quản lý rủi ro thiên tai trong APEC: một sáng kiến mang tầm thế kỷ. https://www.vietnamplus.vn/special/apec2017/vi/quan-ly-rui-do-thien-tai-trong-apec-sang-kien-mang-tam-the-ky.html Wikipedia – Bách khoa toàn thư mở (2024). Bão Yagi. https://vi.wikipedia.org/wiki.



