The power-control mechanism of China’s National Supervisory Commission and some implications for Vietnam.
ThS. Phạm Văn Dương
TS. Nguyễn Ánh Hồng Minh
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Email: duonglogic@yahoo.com
nahminh1495@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Ở Trung Quốc, cơ chế kiểm soát quyền lực của Nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc thống nhất dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng Cộng sản Trung Quốc và dựa vào các cơ chế giám sát nội bộ của hệ thống chính trị. Những năm gần đây, Nhà nước Trung Quốc đã xây dựng một thiết chế giám sát mạnh mẽ, thống nhất và có thẩm quyền rộng lớn không chỉ nhằm chống tham nhũng mà còn để tăng cường tính chính danh của Nhà nước, bảo đảm kỷ luật hành chính và duy trì ổn định chính trị. Bài viết tập trung phân tích cơ chế kiểm soát quyền lực của Ủy ban Giám sát quốc gia Trung Quốc, trên cơ sở đó, đưa ra một số gợi ý cho Việt Nam hiện nay.
Từ khóa: Cơ chế kiểm soát quyền lực; giám sát nội bộ; Ủy ban Giám sát quốc gia Trung Quốc; kinh nghiệm.
Abstract: In China, the mechanisms for controlling state power are organized according to the principle of unified authority under the comprehensive leadership of the Communist Party of China (CPC), and are based on internal oversight mechanisms within the political system. In recent years, the Chinese state has established a powerful, unified supervisory institution vested with extensive powers, aimed not only at combating corruption but also at strengthening state legitimacy, ensuring administrative discipline, and maintaining political stability. The article focuses on analyzing the power-control mechanisms of China’s National Commission of Supervision and, on that basis, offers several suggestions for Vietnam in the current context.
Keywords: Power-control mechanisms; internal oversight; China’s National Commission of Supervision; lessons and experience.
1. Đặt vấn đề
Kiểm soát quyền lực là một trong những nội dung trọng tâm của cải cách thể chế ở nhiều quốc gia nhằm nâng cao hiệu lực quản trị quốc gia, phòng, chống tham nhũng và củng cố tính chính danh của bộ máy nhà nước. Trong bối cảnh yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền ngày càng được đặt ra mạnh mẽ, nhiều quốc gia đã tiến hành cải cách thể chế kiểm soát quyền lực theo những mô hình khác nhau, phù hợp với điều kiện chính trị, pháp lý và đặc điểm tổ chức quyền lực của mình. Trung Quốc là một trường hợp điển hình khi không vận hành theo nguyên tắc tam quyền phân lập nhưng vẫn không ngừng hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực thông qua cải cách hệ thống giám sát quốc gia, mà dấu mốc quan trọng là việc thành lập Ủy ban Giám sát quốc gia năm 2018 trên cơ sở sửa đổi Hiến pháp và ban hành Luật Giám sát. Việc thành lập Ủy ban Giám sát quốc gia không chỉ nhằm hợp nhất các cơ quan thực hiện chức năng phòng, chống tham nhũng và giám sát công vụ trước đây, mà còn tạo lập một cơ chế giám sát tập trung, thống nhất đối với mọi chủ thể thực thi quyền lực công. Đây được xem là một bước điều chỉnh quan trọng trong cơ chế vận hành quyền lực nhà nước của Trung Quốc, góp phần tăng cường kỷ luật hành chính, nâng cao hiệu quả phòng, chống tham nhũng và hoàn thiện phương thức kiểm soát quyền lực trong điều kiện quyền lực nhà nước thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Ở Việt Nam, xây dựng và hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực đang là yêu cầu quan trọng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) đã xác định tiếp tục hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước, đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia. Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu kinh nghiệm của Trung Quốc có ý nghĩa tham khảo nhất định, góp phần nhận diện những giá trị có thể vận dụng phù hợp với điều kiện chính trị, pháp lý và tổ chức bộ máy nhà nước ở Việt Nam. Do đó, trên cơ sở phân tích cơ sở hiến định, quá trình hình thành, cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của Ủy ban Giám sát quốc gia Trung Quốc, bài viết làm rõ đặc điểm của mô hình kiểm soát quyền lực trong điều kiện quyền lực nhà nước thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc; đồng thời, đưa ra một số gợi ý có giá trị tham khảo đối với việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực ở Việt Nam.
2. Quá trình hình thành Ủy ban Giám sát quốc gia Trung Quốc
Hiến pháp Trung Quốc quy định: “Mọi quyền lực thuộc về Đại hội đại biểu nhân dân… Quyền lực của chính phủ do Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc trao cho” (Đổng Tất Vũ, 1985, tr.218-219). Rõ ràng, Hiến pháp Trung Quốc khẳng định vị thế vượt trội của các cơ quan đại diện của nhân dân so với nhánh hành pháp và tư pháp thể hiện nguyên tắc chủ quyền nhân dân. Hiến pháp không phủ nhận sự phân chia quyền lực nhà nước một cách hợp lý, mà chỉ nhằm làm nổi bật vị thế vượt trội của cơ quan đại diện và sự phục tùng của hành pháp đối với lập pháp theo mô hình cấu hình quyền lực này. Nhiều học giả Trung Quốc cho rằng, nguyên tắc thống nhất quyền lực bảo đảm tốt hơn việc thực hiện chủ quyền nhân dân. Theo nguyên tắc “thống nhất quyền lập pháp và hành pháp”, cơ quan đại biểu nhân dân cao nhất, tức là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, đại diện đầy đủ và toàn diện cho nhân dân toàn quốc trong việc thực hiện quyền lực nhà nước, không đứng trong “cân bằng tam quyền” với các cơ quan nhà nước khác, cũng không bị các cơ quan nhà nước khác kiểm soát, do đó, thực sự áp dụng nguyên tắc “thống nhất” của quyền lập pháp và hành pháp phù hợp với nguyên tắc chủ quyền nhân dân (Vương Hán Bân, 2012, tr.39). Quan điểm này phản ánh cách tiếp cận chính thống của lý luận Hiến pháp Trung Quốc về mô hình quyền lực nhà nước thống nhất.
Từ những năm 50 thế kỷ XX, việc xây dựng Hiến pháp Trung Quốc đã dựa trên nguyên tắc “thống nhất thảo luận và thực thi”, theo đó, Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Về mặt lý luận, nguyên tắc này xuất phát từ quan niệm thống nhất giữa quyền lập pháp và hành pháp. Theo nhà nghiên cứu Đỗ Cường Cường, nguyên tắc “thống nhất quyền lập pháp và hành pháp là một bản tóm tắt về hệ thống Công xã Paris trong lý thuyết hiến pháp” (Đỗ Cường Cường, 2019). Trên cơ sở đó, mô hình tổ chức quyền lực của Trung Quốc không đặt trọng tâm vào cơ chế kiểm soát và cân bằng giữa các nhánh quyền lực như trong các hiến pháp của các nước phương Tây, mà nhấn mạnh sự phân công thực hiện quyền lực trong khuôn khổ quyền lực nhà nước thống nhất. Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng và phát triển của đất nước Trung Quốc, các nhà lãnh đạo và khoa học Trung Quốc nhận ra nguyên tắc “thống nhất thảo luận và thực thi” đã quá nhấn mạnh vào quyền lực của các đảng phái chính trị và các cơ quan quyền lực, điều này dễ dẫn đến sự tập trung quyền lực quá mức và không có lợi cho sự phát triển của nhân quyền và hội nhập quốc tế.
Trong tác phẩm Cải cách chế độ lãnh đạo của Đảng và Nhà nước năm 1980, Đặng Tiểu Bình đặc biệt nhấn mạnh “việc tập trung quyền lực quá mức vào tay cá nhân hoặc một số ít người, với hầu hết mọi người không có quyền quyết định và một số ít người có quyền lực phải gánh chịu gánh nặng quá mức, tất yếu sẽ dẫn đến tình trạng quan liêu, các loại sai lầm và làm tổn hại đến đời sống dân chủ, sự lãnh đạo tập thể, tập trung dân chủ và sự phân chia trách nhiệm cá nhân của Đảng và chính quyền các cấp” (Đỗ Cường Cường, 2019).
Bên cạnh việc phân chia quyền lực theo chức năng, còn có một sự phân chia quyền lực khác là phân chia quyền lực theo quy trình – không chỉ được định hình bởi các văn bản hiến pháp mà còn bởi các văn kiện chính trị của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong việc định hình sự phân chia quyền lực trong các thể chế nhà nước của Trung Quốc. Năm 2002, báo cáo Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ XVI đã sử dụng thuật ngữ “quyết định, chấp hành và giám sát” (Hàn Đại Nguyên biên tập, 2000, tr.30) đề cập đến vấn đề cải cách thể chế chính phủ. Một số học giả đã áp dụng văn kiện này vào việc xem xét cải cách hệ thống hành chính, phân chia quyền lực hành chính thành quyền quyết định, quyền chấp hành và quyền giám sát, được gọi là “hệ thống hành chính tam phân” (Sa Mạnh Vũ, 1981, tr.184). Năm 2007, báo cáo Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ XVII đề xuất “xây dựng và hoàn thiện cơ cấu quyền lực và cơ chế vận hành, trong đó quyền quyết định, quyền chấp hành và quyền giám sát có sự ràng buộc và phối hợp lẫn nhau” (Lowell, 1959, tr.52). Năm 2012, trong bài phát biểu tại Hội nghị toàn thể cán bộ, công chức, viên chức Thủ đô kỷ niệm 30 năm ban hành và thực hiện Hiến pháp hiện hành, ông Tập Cận Bình một lần nữa đề xuất “các cơ quan nhà nước thực hiện phân công quyền lực hợp lý và phối hợp chặt chẽ giữa quyền quyết định, quyền thi hành và quyền giám sát”(Sa Mạnh Vũ, 1981, tr.184).
Như vậy, tư duy phân công quyền lực theo ba khâu “quyết định – chấp hành – giám sát” đã trở thành cơ sở chính trị quan trọng cho cải cách hệ thống giám sát quốc gia. Đến năm 2018, việc xác lập địa vị pháp lý của Ủy ban Giám sát quốc gia vào Hiến pháp và thông qua Luật Giám sát của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 2024 (sau đây viết tắt là Luật Giám sát năm 2024), đã thể hiện sự điều chỉnh quan trọng đối với hệ thống chính trị, quyền lực chính trị và quan hệ chính trị của Trung Quốc. Đặc trưng cốt lõi và ưu thế lớn nhất của chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc là sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc (Hiến pháp nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, 2018). Đây là những cơ sở pháp lý quan trọng cho việc kiểm soát quyền lực thông qua giám sát tại Trung Quốc.
Cũng trong năm 2018, để thiết lập một hệ thống chống tham nhũng tập trung, thống nhất, có thẩm quyền và hiệu quả, Đảng và Nhà nước Trung Quốc đã sát nhập Bộ giám sát hành chính là cơ quan bên trong của Quốc vụ viện với cơ quan chống tham nhũng và chống quan liêu thuộc Viện Kiểm sát để thành lập Ủy ban Giám sát quốc gia nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Cùng với đó, toàn bộ hệ thống của Ủy ban Giám sát quốc gia ở 31 địa phương ở Trung Quốc đã được thành lập và hoạt động dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Điều 123 Hiến pháp quy định: “Ủy ban giám sát các cấp của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là cơ quan giám sát của nhà nước”.
Việc thành lập Ủy ban Giám sát quốc gia Trung Quốc đã “đặt nền tảng hiến pháp vững chắc, có tác động to lớn và sâu rộng đến việc tăng cường sự lãnh đạo thống nhất của Đảng Cộng sản Trung Quốc đối với công tác phòng, chống tham nhũng, thiết lập hệ thống giám sát quốc gia tập trung, thống nhất, có thẩm quyền và hiệu quả; đồng thời, thực hiện giám sát toàn diện đối với tất cả cán bộ, công chức thực thi quyền lực nhà nước” (Chung Kế Yên, 2018). Nhận định này cho thấy, việc hiến định hóa Ủy ban Giám sát quốc gia không chỉ là sự thay đổi về tổ chức bộ máy mà còn đánh dấu bước hoàn thiện quan trọng của cơ chế giám sát quyền lực nhà nước ở Trung Quốc, tạo cơ sở pháp lý để hình thành một thiết chế giám sát thống nhất đối với hoạt động thực thi quyền lực công.
2.2. Cơ chế giám sát quyền lực của Ủy ban Giám sát quốc gia Trung Quốc
Cơ chế giám sát quyền lực của Ủy ban Giám sát quốc gia được quy định trong Luật Giám sát năm 2024.
Về mặt tổ chức, ở cấp quốc gia, Ủy ban Giám sát quốc gia do Đại hội đại biểu Nhân dân toàn quốc thành lập và chịu trách nhiệm về công tác giám sát toàn quốc. Ủy ban Giám sát quốc gia, gồm có: chủ nhiệm, một số phó chủ nhiệm và một số ủy viên. Chủ nhiệm do Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc bầu ra, trong khi các phó chủ nhiệm và ủy viên do Ủy ban Thường vụ Quốc hội bổ nhiệm và bãi nhiệm theo đề nghị của Chủ nhiệm Ủy ban Giám sát quốc gia. Nhiệm kỳ của Chủ nhiệm Ủy ban Giám sát quốc gia trùng với nhiệm kỳ của Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc. Ủy ban Giám sát quốc gia chịu sự giám sát của Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc và Ủy ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc. Ở cấp địa phương, Ủy ban giám sát địa phương các cấp do Đại hội đại biểu nhân dân các cấp thành lập và chịu trách nhiệm giám sát công tác trong phạm vi khu vực hành chính của mình. Ủy ban giám sát địa phương các cấp gồm có: chủ nhiệm, một số phó chủ nhiệm và một số ủy viên. Chủ nhiệm do Đại hội đại biểu nhân dân cùng cấp bầu, trong khi các phó chủ nhiệm và Ủy viên do Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân cùng cấp bổ nhiệm và bãi nhiệm theo đề nghị của Chủ nhiệm Ủy ban Giám sát. Nhiệm kỳ của Chủ nhiệm Ủy ban Giám sát địa phương các cấp bằng nhiệm kỳ của Đại hội đại biểu nhân dân cùng cấp. Ủy ban Giám sát địa phương các cấp chịu trách nhiệm và chịu sự giám sát của Đại hội đại biểu nhân dân cùng cấp, Ủy ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân và Ủy ban Giám sát cấp trên trực tiếp.
Luật Giám sát năm 2024 được thông qua tại Phiên họp thứ 13 của Ủy ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc khóa 14 ngày 25/12/2024 quy định phạm vi quyền hạn của Ủy ban Giám sát quốc gia là giám sát tất cả công chức thực thi quyền lực công, việc tuân thủ đạo đức và tác phong minh bạch liêm khiết trong thi hành quyền lực của công chức. Điều tra các hành vi vi phạm nhiệm vụ và tội phạm trong khi thi hành công vụ, thực hiện công tác phòng chống tham nhũng, gian lận và lãng phí tài sản nhà nước, thúc đẩy liêm chính, bảo vệ uy tín của Hiến pháp và pháp luật. Đồng thời, Luật Giám sát cũng phân chia hoạt động của hệ thống Ủy ban Giám sát cụ thể như sau:
Ở cấp trung ương, “Ủy ban Giám sát quốc gia Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là cơ quan giám sát cao nhất” (Điều 7 Luật Giám sát năm 2024) thực hiện lãnh đạo công tác của Ủy ban Giám sát các cấp ở địa phương.
Ở cấp địa phương, các tỉnh, thành phố, khu tự trị, châu tự trị, huyện, huyện tự trị, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc khu thành lập Ủy ban giám sát.
Ủy ban Giám sát cấp trên lãnh đạo Ủy ban Giám sát cấp dưới.
Theo Điều 4 Luật Giám sát năm 2024, Ủy ban giám sát thực hiện quyền giám sát độc lập theo quy định của pháp luật, không chịu sự can thiệp của các cơ quan hành chính, tổ chức xã hội hoặc cá nhân. Khi xử lý các vụ việc vi phạm nghĩa vụ và tội phạm trong khi thi hành công vụ, cơ quan giám sát phải phối hợp và kiểm tra, giám sát các cơ quan tư pháp, cơ quan kiểm sát và các cơ quan thực thi pháp luật.
Thẩm quyền của Ủy ban Giám sát không chỉ dừng lại ở việc giám sát thông thường, mà còn có quyền điều tra và thậm chí là xử lý đối với các hành vi vi phạm kỷ luật Đảng cũng như các quy định của pháp luật. Cụ thể, “Ủy ban giám sát thực hiện nhiệm vụ giám sát, điều tra và kỷ luật theo quy định của Luật này và các luật liên quan” (Điều 11 Luật Giám sát năm 2024). Ủy ban Giám sát quốc gia có quyềnthực hiện điều tra các hành vi vi phạm và trong quá trình điều tra đó có thể áp dụng một loạt biện pháp khác nhau căn cứ vào tình hình.
Trong quá trình điều tra các vụ việc phức tạp, để phòng tránh sự cản trở quá trình điều tra, Ủy ban Giám sát quốc gia có thể căn cứ theo pháp luật để thực hiện tự phê chuẩn buộc đối tượng giám sát lưu trú tại vị trí đặc biệt theo quy định pháp luật có liên quan của nhà nước. Bên cạnh đó, Ủy ban Giám sát quốc gia có quyền ban hành các quyết định xử lý kỷ luật theo quy định đối với công chức vi phạm pháp luật; truy cứu trách nhiệm đối với cán bộ lãnh đạo vô trách nhiệm trong thực thi công vụ. Sau khi thực hiện điều tra các hành vi cấu thành tội phạm về chức vụ, Ủy ban Giám sát quốc gia sẽ chuyển kết quả điều tra cho Viện kiểm sát để thực hiện thẩm tra theo quy định pháp luật, khởi động quá tình tố tụng, đưa các kiến nghị giám sát đến đơn vị nơi đối tượng giám sát công tác.
Cùng với việc giám sát thực thi quyền lực công của đội ngũ công chức, Ủy ban Giám sát quốc gia còn có chức năng thực hiện công tác giáo dục đạo đức pháp chế, đề cao truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc Trung Hoa nhằm xây dựng cơ chế ngăn ngừa tham nhũng và tiêu cực một cách bền vững. “Giáo dục công chức về phòng, chống tham nhũng, giám sát, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ đúng pháp luật, sử dụng quyền lực công bằng, liêm chính trong chính trị, công tác và đạo đức công vụ” (Điều 10 Luật Giám sát năm 2024). Đảng Cộng sản và Nhà nước Trung Quốc mong muốn hoạt động giám sát của hệ thống Ủy ban Giám sát Quốc gia có thể nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm tra kỷ luật Đảng, tăng cường năng lực giám sát thực thi quyền lực công của công chức nhà nước, mở rộng phạm vi giám sát bao trùm toàn bộ hoạt động của Nhà nước, để quyền lực được nhốt trong “cái lồng” và cán bộ không thể tham nhũng.
2.3. Một số gợi ý cho Việt Nam
Ủy ban Giám sát quốc gia Trung Quốc được hình thành trong điều kiện chính trị, pháp lý và mô hình tổ chức quyền lực đặc thù của Trung Quốc. Vì vậy, kinh nghiệm của Trung Quốc cần được tham khảo có chọn lọc, phù hợp với điều kiện cụ thể và hệ thống chính trị của Việt Nam. Giá trị chủ yếu của mô hình này nằm ở tư duy xây dựng cơ chế giám sát thống nhất, bao quát việc thực thi quyền lực công, kết hợp giữa phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm; đồng thời, đặt hoạt động giám sát trong khuôn khổ pháp luật và trách nhiệm giải trình. Trên cơ sở đó, chúng tôi đưa ra một số gợi ý đối với việc kiểm soát quyền lực ở Việt Nam, cụ thể như sau:
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện cơ chế phối hợp thống nhất trong kiểm tra, giám sát việc thực thi quyền lực công.
Hoạt động kiểm soát quyền lực ở Việt Nam hiện được thực hiện thông qua nhiều cơ chế và thiết chế, bao gồm kiểm tra của Đảng, giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân, thanh tra, kiểm toán nhà nước, điều tra, kiểm sát, xét xử, giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội, báo chí và Nhân dân. Cơ chế nhiều tầng, nhiều chiều này tạo điều kiện kiểm soát quyền lực từ các phương diện khác nhau, nhưng cũng có thể phát sinh sự giao thoa về chức năng, trùng lặp trong hoạt động hoặc thiếu liên thông trong trao đổi thông tin và xử lý kết quả kiểm tra, giám sát.
Vì vậy, cần tiếp tục rà soát, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm của từng cơ quan; đồng thời, hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa kiểm tra của Đảng với thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố và xét xử. Kết quả kiểm tra, giám sát của cơ quan này cần được chuyển giao, kế thừa và sử dụng hiệu quả trong hoạt động của cơ quan khác, hạn chế tình trạng một vụ việc phải trải qua nhiều cuộc kiểm tra có nội dung tương tự hoặc kết luận giám sát không được xử lý kịp thời. Cùng với đó, cần tăng cường chia sẻ dữ liệu về tài sản, thu nhập, ngân sách, đầu tư công, đấu thầu, đất đai và công tác cán bộ nhằm nâng cao khả năng phát hiện sớm nguy cơ lạm quyền, tham nhũng và lợi ích nhóm. Tăng cường phối hợp không đồng nghĩa với tập trung toàn bộ thẩm quyền kiểm tra, giám sát và xử lý vào một cơ quan. Yêu cầu đặt ra là bảo đảm sự thống nhất trên cơ sở phân công rõ ràng, duy trì tính chuyên môn, tính độc lập tương đối và khả năng kiểm tra, giám sát lẫn nhau giữa các thiết chế.
Thứ hai, hoàn thiện phạm vi kiểm soát theo hướng bao quát mọi chủ thể và mọi quá trình thực thi quyền lực công.
Một đặc điểm nổi bật của cơ chế giám sát quốc gia của Trung Quốc là phạm vi giám sát không chỉ giới hạn đối với cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính mà được mở rộng tới tất cả những người thực thi quyền lực công, kể cả những người không phải là đảng viên. Một số tổ chức, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước hoặc cá nhân được giao quản lý nguồn lực công, cung ứng dịch vụ công, thực hiện nhiệm vụ công hay tham gia quyết định những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của người dân cũng có thể phát sinh khả năng lạm dụng quyền hạn được giao. Như vậy, kiểm soát quyền lực cần được xác định theo bản chất của quyền lực được thực thi, chứ không chỉ căn cứ vào địa vị hành chính hoặc tư cách biên chế của người thực hiện quyền lực.
Do đó, ở Việt Nam, chúng ta cần tiếp tục hoàn thiện tiêu chí xác định chủ thể chịu sự kiểm soát theo hướng mọi tổ chức, cá nhân được trao quyền quyết định, quản lý hoặc sử dụng nguồn lực công đều phải chịu sự giám sát tương ứng. Kiểm soát quyền lực cũng cần được thực hiện trong toàn bộ chu trình vận hành quyền lực, từ xác lập thẩm quyền, xây dựng phương án, ra quyết định, tổ chức thực hiện đến đánh giá kết quả và xác định trách nhiệm. Trách nhiệm giữa chủ thể tham mưu, người ra quyết định, cơ quan tổ chức thực hiện và chủ thể kiểm tra, giám sát phải được phân định rõ, tránh để quyền quyết định và quyền kiểm tra việc thực hiện quyết định tập trung vào cùng một cá nhân hoặc đơn vị mà không có cơ chế giám sát độc lập.
Thứ ba, kết hợp chặt chẽ giữa phòng ngừa, giám sát thường xuyên, điều tra và xử lý vi phạm.
Cơ chế hoạt động của Ủy ban Giám sát quốc gia Trung Quốc thực hiện đồng thời các nhóm nhiệm vụ cơ bản gồm giám sát, tiếp nhận thông tin để điều tra và xử lý. Trong quá trình này, Ủy ban Giám sát có thể áp dụng các biện pháp điều tra, xử lý kỷ luật đối với người vi phạm và chuyển vụ việc có dấu hiệu tội phạm cho cơ quan kiểm sát để thực hiện thủ tục tố tụng. Cơ chế đó tạo nên sự liên kết giữa phát hiện, xác minh, xử lý hành chính, xử lý kỷ luật và truy cứu trách nhiệm hình sự. Đồng thời, cơ chế giám sát của Trung Quốc còn chú trọng giáo dục pháp luật, đạo đức công vụ và xây dựng văn hóa liêm chính. Luật Giám sát của Trung Quốc xác định yêu cầu giải quyết đồng thời biểu hiện và nguyên nhân gốc rễ của tham nhũng; tăng cường giám sát và trách nhiệm giải trình; hoàn thiện thể chế để kiềm chế quyền lực; kết hợp giáo dục pháp luật, đạo đức và các biện pháp xử lý nghiêm minh. Mục tiêu được đặt ra là hình thành cơ chế lâu dài làm cho cán bộ “không dám tham nhũng, không thể tham nhũng và không muốn tham nhũng”.
Điều này gợi mở cho Việt Nam tiếp tục chuyển mạnh trọng tâm kiểm soát quyền lực sang chủ động phòng ngừa và cảnh báo sớm. Xử lý nghiêm minh vẫn là yêu cầu cần thiết để duy trì kỷ luật, kỷ cương và tính răn đe nhưng nếu chỉ dựa vào trừng phạt thì chưa thể giải quyết đầy đủ những điều kiện làm phát sinh tham nhũng và lạm quyền. Đặc biệt, cần kiểm soát chặt chẽ những khâu thiếu minh bạch trong quy trình ra quyết định, nơi tiêu chí lựa chọn chưa rõ ràng hoặc phạm vi thẩm quyền được trao quá lớn. Việc số hóa hoạt động quản lý nhà nước, xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung và lưu vết điện tử trong quá trình xử lý công việc sẽ góp phần nâng cao tính minh bạch, xác định rõ trách nhiệm cá nhân và hỗ trợ phát hiện các dấu hiệu bất thường. Các cơ quan kiểm soát cần từng bước tăng cường ứng dụng dữ liệu trong nhận diện và cảnh báo nguy cơ vi phạm, thay vì chủ yếu dựa vào kiểm tra định kỳ hoặc xử lý vụ việc sau khi đã xảy ra.
Cùng với hoàn thiện thể chế, cần gắn giáo dục đạo đức công vụ và xây dựng văn hóa liêm chính với môi trường tổ chức và cơ chế thực thi cụ thể. Đạo đức công vụ chỉ được củng cố bền vững khi chuẩn mực hành vi được xác định rõ, người đứng đầu thực sự nêu gương, việc đánh giá cán bộ gắn với kết quả và trách nhiệm, còn hành vi vi phạm được phát hiện và xử lý công bằng, không có ngoại lệ. Do đó, cần kết hợp giữa giáo dục, sự tự giác và cơ chế buộc phải tuân thủ, qua đó hình thành môi trường mà cán bộ vừa nhận thức được trách nhiệm đạo đức, vừa không có điều kiện lợi dụng quyền lực vì lợi ích cá nhân.
Thứ tư, tăng cường thẩm quyền giám sát và hoàn thiện cơ chế kiểm soát đối với chính các cơ quan và người thực hiện chức năng kiểm soát quyền lực.
Các cơ quan kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, kiểm sát và xét xử cần được bảo đảm địa vị pháp lý, thẩm quyền, nguồn lực và mức độ độc lập cần thiết để thực hiện hiệu quả chức năng kiểm soát quyền lực. Tuy nhiên, cơ quan giám sát cũng là chủ thể thực thi quyền lực công nên không thể đứng ngoài cơ chế kiểm soát. Thẩm quyền càng lớn thì yêu cầu kiểm soát việc sử dụng thẩm quyền càng phải chặt chẽ, nhất là đối với quyền yêu cầu cung cấp thông tin, kiểm tra, xác minh, điều tra, áp dụng các biện pháp hạn chế quyền hoặc kiến nghị xử lý.
Vì vậy, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện đồng thời cơ chế kiểm soát nội bộ và kiểm soát từ bên ngoài đối với các cơ quan thực hiện chức năng kiểm soát quyền lực. Thẩm quyền, điều kiện, trình tự và thời hạn áp dụng các biện pháp kiểm tra, xác minh, điều tra phải được pháp luật quy định cụ thể; mọi quyết định tác động đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân phải có căn cứ, được lập thành hồ sơ và chịu sự kiểm tra của cơ quan có thẩm quyền. Đồng thời, cần xác định rõ trách nhiệm cá nhân của người ra quyết định và người trực tiếp thực hiện nhiệm vụ; hoàn thiện cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý hành vi lạm quyền, bao che hoặc cố ý làm sai lệch kết quả kiểm tra, giám sát. Hoạt động giám sát của cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, báo chí và Nhân dân đối với các chủ thể kiểm soát quyền lực cần được bảo đảm bằng cơ chế cung cấp thông tin và trách nhiệm giải trình phù hợp. Bên cạnh đó, phải chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra, giám sát có năng lực chuyên môn, bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp và tinh thần chịu trách nhiệm, bởi hiệu quả của cơ chế kiểm soát phụ thuộc rất lớn vào tính liêm chính của chính những người được giao nhiệm vụ kiểm soát người khác.
3. Kết luận
Ủy ban Giám sát quốc gia là mô hình kiểm soát quyền lực theo đặc trưng chính trị của Trung Quốc. Mục tiêu của cơ quan này không chỉ là chống tham nhũng mà còn nhằm bảo đảm sự lãnh đạo tập trung của Đảng Cộng sản Trung Quốc, vừa tăng cường pháp trị trong quản lý nhà nước và thúc đẩy hiệu quả quản trị và duy trì trật tự chính trị – xã hội. Ủy ban Giám sát quốc gia là một mô hình tiêu biểu cho cách thức xây dựng hệ thống kiểm soát quyền lực mà không dựa trên mô hình tam quyền phân lập nhưng vẫn bảo đảm sự ổn định và hiệu lực trong quản trị. Cơ chế giám sát của Ủy ban Giám sát quốc gia vừa mang lại quả đáng kể trong việc củng cố kỷ luật và liêm chính trong việc thực thi quyền lực công của cán bộ, công chức. Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy, hiệu quả kiểm soát quyền lực không chỉ phụ thuộc vào việc thành lập một cơ quan có thẩm quyền mạnh mà còn phụ thuộc vào phạm vi giám sát, khả năng phối hợp giữa các thiết chế, sự kết hợp giữa phòng ngừa và xử lý cũng như cơ chế kiểm soát đối với chính chủ thể giám sát.
Đối với Việt Nam, vấn đề cốt lõi không phải là thành lập một cơ quan theo mô hình Ủy ban Giám sát quốc gia của Trung Quốc mà là tiếp tục hoàn thiện hệ thống kiểm soát quyền lực theo hướng đồng bộ, bao quát, minh bạch và có trách nhiệm giải trình; bảo đảm quyền lực được phân công rõ ràng, phối hợp chặt chẽ và kiểm soát hiệu quả trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Việc tham khảo kinh nghiệm Trung Quốc vì vậy cần gắn với đặc điểm của hệ thống chính trị, mô hình tổ chức quyền lực và yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Tài liệu tham khảo:
Bài viết là sản phẩm của Nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ cấp Bộ 2025-2026: “Kiểm soát quyền lực chính trị ở một số quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”, Mã số: KHXH/NV/2025-59, do TS. Nguyễn Ánh Hồng Minh làm chủ nhiệm, tổ chức chủ trì: Viện Triết học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.
Chung Kế Yên (2018). Trao Quy chế Hiến pháp cho Ủy ban Giám sát nhằm hoàn thiện hệ thống giám sát của Đảng và Nhà nước. http://www.xinhuanet.com/politics/2018-03/02/c_1122477636.htm
Đỗ Cường Cường (2019). Nguyên tắc thống nhất thảo luận và thực thi và phân bổ quyền lực nhà nước Trung Quốc.
Đổng Tất Vũ (1985). Về vấn đề chế độ dân chủ mới. Tuyển tập tác phẩm của Đổng Tất Vũ. Nxb Bắc Kinh.
Hàn Đại Nguyên (biên tập) (2000). Hiến pháp nước ngoài. Nxb Đại học Nhân dân Trung Quốc.
Hiến pháp nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (sửa đổi năm 2018). https://www.gov.cn/guoqing/2018-03/22/content_5276318.htm
Lowell (1959). Chính phủ Anh: Bộ Chính quyền Trung ương (người dịch Thu Thủy). Nxb Nhân dân Thượng Hải.
Luật Giám sát của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (được Kỳ họp thứ nhất Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc khóa XIII thông qua ngày 20/3/2018; sửa đổi theo Quyết định sửa đổi Luật Giám sát nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được thông qua tại Kỳ họp thứ mười ba Ủy ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc khóa XVIII ngày 25/12/2024). https://www.stats.gov.cn/gk/tjfg/xgfxfg/202503/t20250310_1958921.html
Sa Mạnh Vũ (1981). Chính trị học. Công ty sách Tam Dân.
Vương Hán Bân (2012). Trải nghiệm xây dựng chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa và hệ thống pháp luật trong thời đại mới. Nxb Dân chủ và hệ thống pháp luật Trung Quốc. http://www.calaw.cn/article/default.asp?id=13044



