Một số giải pháp đẩy mạnh xây dựng môi trường văn hóa ở Trường Sĩ quan Kỹ thuật quân sự hiện nay

Some solutions to promote the development of a cultural environment at the Military Technical Officer School

Trung tá Nguyễn Hải Nam
Trường Sĩ quan Kỹ thuật quân sự
Email: namvhp@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Xây dựng môi trường văn hóa trong nhà trường quân đội là quá trình kiến tạo hệ giá trị, chuẩn mực, quan hệ, thiết chế và phương thức ứng xử có khả năng định hướng nhân cách quân nhân, củng cố kỷ luật, nuôi dưỡng động cơ học tập và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Bài viết phân tích kết quả, hạn chế và nguyên nhân trong xây dựng môi trường văn hóa ở Trường Sĩ quan Kỹ thuật quân sự; đồng thời đặt ra yêu cầu phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, xây dựng nhà trường thông minh và phát triển văn hóa trên không gian số. Từ đó, đề xuất các giải pháp từ đầu tư cơ sở vật chất, quản trị hệ sinh thái văn hóa, lấy con người và giá trị làm trung tâm, kết hợp kỷ luật quân sự với văn hóa, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Từ khóa: Môi trường văn hóa; văn hóa quân sự; văn hóa kỹ thuật; nhà trường quân đội; chuyển đổi số; Trường Sĩ quan Kỹ thuật quân sự.

Abstract: Building a cultural environment in military schools is a process of establishing a system of values, standards, relationships, institutions, and behavioral norms capable of shaping the character of military personnel, reinforcing discipline, fostering a motivation to learn, and promoting innovation. This article analyzes the results, limitations, and underlying causes in building a cultural environment at the Military Technical Officers’ School; it also outlines the need to promote the qualities of “Uncle Ho’s Soldiers,” build a smart school, and develop culture in the digital space. Based on this, it proposes solutions ranging from investment in infrastructure and the management of the cultural ecosystem to a people- and value-centered approach that combines military discipline with culture, innovation, and digital transformation.

Keywords: Cultural environment; military culture; technical culture; military academy; digital transformation; Military Technical Officers’ School.

1. Đặt vấn đề

Trường Sĩ quan Kỹ thuật quân sự (Trường Đại học Trần Đại Nghĩa), được thành lập ngày 12/5/1975, thuộc Tổng cục Hậu cần – Kỹ thuật, Bộ Quốc phòng. Nhà trường có cơ sở tại phường Long Hưng, tỉnh Đồng Nai (trước ngày 01/7/2025 sáp nhập tỉnh, thành phố, cơ sở thuộc phường Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh) thực hiện nhiệm vụ đào tạo sĩ quan kỹ thuật, kỹ sư và nguồn nhân lực kỹ thuật phục vụ Quân đội và đất nước (Trường Sĩ quan Kỹ thuật quân sự, n.d.). Nhà trường vừa là một tổ chức quân sự chính quy, vừa là cơ sở giáo dục đại học kỹ thuật, tạo nên yêu cầu riêng đối với việc xây dựng môi trường văn hóa phải thống nhất về giá trị, chuẩn mực và kỷ luật, đồng thời khuyến khích tư duy khoa học, sáng tạo, hợp tác và khả năng thích ứng với công nghệ.

Về phương diện lý luận, môi trường văn hóa trong nhà trường quân đội không nên được đồng nhất với hoạt động văn nghệ, cảnh quan hay hệ thống thiết chế. Có thể tiếp cận rằng, đây là tổng thể các giá trị, chuẩn mực, quan hệ xã hội, hành vi, biểu tượng, thiết chế và điều kiện vật chất – số được hình thành, duy trì trong quá trình thực hiện nhiệm vụ giáo dục, đào tạo và xây dựng đơn vị. Môi trường ấy tác động thường xuyên đến nhận thức, tình cảm, động cơ và hành vi của cán bộ, giảng viên, học viên, sinh viên, nhân viên, chiến sĩ; qua đó thực hiện đồng thời 3 chức năng: định hướng giá trị, điều chỉnh hành vi và tạo động lực phát triển. Trong nhà trường kỹ thuật quân sự, ba chức năng này còn phải gắn với đạo đức nghề nghiệp kỹ thuật, tinh thần chính xác, an toàn, trách nhiệm, sáng tạo và ý thức làm chủ vũ khí, trang bị kỹ thuật.

Cách tiếp cận trên phù hợp với yêu cầu mới của Đảng về phát triển văn hóa. Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị xác định văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh và động lực phát triển; đồng thời yêu cầu xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh từ gia đình, nhà trường, xã hội đến không gian số và phát huy giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” (Bộ Chính trị, 2026). Trong Quân đội, Quyết định số 3672/QĐ-BQP ngày 15/8/2022 của Tổng cục Chính trị về thực hiện Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030 trong Quân đội nhân dân Việt Nam với chủ trương phát triển văn hóa Quân đội nhân dân Việt Nam để xây dựng phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” và Thông tư số 138/2020/TT-BQP ngày 10/11/2020 của Bộ Quốc phòng về chế độ, định mức, tiêu chuẩn đời sống văn hóa, tinh thần tạo cơ sở quan trọng để chuẩn hóa điều kiện bảo đảm và hoạt động văn hóa (Bộ Quốc phòng, 2020a, 2020b).

Vì vậy, nâng cao chất lượng môi trường văn hóa ở Trường Sĩ quan Kỹ thuật quân sự hiện nay không chỉ là yêu cầu nâng cao đời sống tinh thần, mà còn trực tiếp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo, xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật, phát triển năng lực khoa học – công nghệ và hình thành mẫu người sĩ quan kỹ thuật đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội “tinh, gọn, mạnh, hiện đại”.

2. Kết quả, hạn chế và những vấn đề đặt ra

Thời gian qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy, Ban Giám hiệu và sự hướng dẫn của cơ quan cấp trên, Nhà trường đã quan tâm triển khai quy hoạch, củng cố hệ thống thiết chế và tổ chức các hoạt động văn hóa gắn với nhiệm vụ chính trị. Hội trường, Nhà truyền thống, Phòng Hồ Chí Minh, tủ sách, không gian sinh hoạt tập thể và hệ thống thông tin nội bộ từng bước được đầu tư, tạo điều kiện cho giáo dục truyền thống, sinh hoạt chính trị – tinh thần và xây dựng cảnh quan sư phạm quân sự. Hướng phát triển này phù hợp với chủ trương toàn quân về chuẩn hóa, hiện đại hóa và nâng cao hiệu quả khai thác thiết chế văn hóa; tổng kết 5 năm thực hiện Quyết định số 3672/QĐ-BQP ngày 24/01/2020 của Bộ Quốc phòng cho thấy, hệ thống thiết chế văn hóa toàn quân đã từng bước được chuẩn hóa về loại hình, tổ chức, cơ sở vật chất và năng lực vận hành (Báo Văn Hóa, 2025).

Một nét đặc thù có giá trị của Nhà trường là sự kết hợp giữa kỷ luật quân đội và văn hóa khoa học – kỹ thuật. Những hoạt động nghiên cứu khoa học, sáng kiến kỹ thuật, đổi mới phương pháp dạy học và chuyển đổi số có thể được xem là những bộ phận hữu cơ của môi trường văn hóa, bởi chúng thể hiện các giá trị nghề nghiệp như tính chính xác, trách nhiệm, hợp tác, sáng tạo và tự học. Thực tiễn năm 2026 cho thấy Nhà trường đang đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học – công nghệ, chuyển đổi số và xây dựng nhà trường thông minh; đây là điều kiện thuận lợi để chuyển “văn hóa kỹ thuật” từ một nét đặc thù thành một cấu phần có chủ đích trong văn hóa tổ chức của Nhà trường (Nguyễn & Trung, 2026).

Môi trường văn hóa cũng được bồi đắp thông qua giáo dục truyền thống và việc xây dựng đội ngũ. Kỷ niệm 50 năm ngày truyền thống, lãnh đạo Nhà trường nhấn mạnh quá trình phát triển từ cơ sở đào tạo nhân viên kỹ thuật đến cơ sở đào tạo sĩ quan kỹ thuật, kỹ sư trình độ đại học, đồng thời coi xây dựng đội ngũ “vừa hồng, vừa chuyên” và môi trường văn hóa là nội dung quan trọng của phát triển Nhà trường (Báo Quân đội nhân dân, 2025). Điều đó cho thấy nền tảng văn hóa của Nhà trường được hình thành không chỉ từ thiết chế mà còn từ ký ức tổ chức, truyền thống, chuẩn mực nghề nghiệp và các điển hình tập thể, cá nhân.

Tuy nhiên, còn có những hạn chế cần được giải quyết, như: một số hoạt động tuyên truyền có lúc còn thiên về truyền đạt một chiều; hình thức tương tác dành cho sĩ quan trẻ và học viên chưa thật phong phú; cán bộ làm công tác văn hóa phần lớn kiêm nhiệm nên năng lực về truyền thông đa phương tiện, thiết kế nội dung số, tổ chức sự kiện và quản trị cộng đồng còn chưa đồng đều; một số câu lạc bộ hoạt động theo thời điểm; việc kết nối hoạt động giữa hai địa bàn đóng quân làm phát sinh yêu cầu cao hơn về phối hợp và hạ tầng số.

Từ góc độ quản trị văn hóa, vấn đề cốt lõi không chỉ nằm ở “thiếu hoạt động” mà còn ở khoảng cách giữa phần cứng và phần mềm văn hóa. Thiết chế chỉ tạo ra giá trị khi được vận hành thường xuyên, có nội dung hấp dẫn, có người chịu trách nhiệm, có cơ chế phản hồi và có tiêu chí để đo lường hiệu quả. Do đó, giai đoạn tới cần chuyển trọng tâm từ tư duy “xây dựng thiết chế” sang “quản trị hệ sinh thái văn hóa”; từ tổ chức phong trào theo đợt sang hình thành thói quen và chuẩn mực hằng ngày; từ truyền thông một chiều sang tương tác; từ số hóa tư liệu đơn thuần sang kiến tạo môi trường văn hóa số an toàn, có định hướng.

3. Một số giải pháp

Thứ nhất, hoàn thiện hệ giá trị và bộ tiêu chí môi trường văn hóa đặc thù của Nhà trường. Cần cụ thể hóa các giá trị chung của Quân đội và phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” thành những chuẩn mực có thể nhận biết trong hoạt động của một trường kỹ thuật: bản lĩnh chính trị; kỷ luật và chính quy; trách nhiệm nghề nghiệp; chính xác và an toàn; tự học; sáng tạo; hợp tác; văn minh số; đoàn kết quốc tế. Mỗi giá trị cần gắn với hành vi quan sát được và tiêu chí đánh giá phù hợp với từng nhóm đối tượng. Cách làm này giúp khắc phục tình trạng giá trị văn hóa chỉ dừng ở khẩu hiệu, đồng thời tạo cơ sở để tích hợp vào đánh giá thi đua, rèn luyện, chất lượng tổ chức đảng và kết quả hoàn thành nhiệm vụ. Việc cụ thể hóa phải bảo đảm không làm phát sinh hệ thống chấm điểm hình thức, mà tập trung vào những hành vi có liên hệ trực tiếp với chất lượng giáo dục – đào tạo, nghiên cứu khoa học và xây dựng chính quy.

Thứ hai, chuyên nghiệp hóa lực lượng tổ chức các hoạt động văn hóa theo mô hình “hạt nhân – mạng lưới”. Nhà trường chưa nhất thiết phải tăng biên chế chuyên trách, nhưng có thể hình thành nhóm hạt nhân gồm cán bộ tuyên huấn, thư viện, Nhà truyền thống, cán bộ đoàn và những cá nhân có năng lực trong truyền thông, nghệ thuật, công nghệ. Nhóm hạt nhân được bồi dưỡng định kỳ về thiết kế chương trình, truyền thông số, quay dựng cơ bản, quản trị nội dung, bản quyền, an toàn thông tin và đo lường mức độ tham gia. Ở các tiểu đoàn, khoa, đơn vị trực thuộc, lựa chọn cộng tác viên văn hóa làm đầu mối. Mô hình này vừa phù hợp với điều kiện nhân lực kiêm nhiệm, vừa tạo điều kiện để lan tỏa xuống cơ sở. Mỗi năm có thể tổ chức một đợt tập huấn ngắn theo sản phẩm đầu ra, chẳng hạn xây dựng một chuyên đề số, một podcast nội bộ, một triển lãm số hoặc một hoạt động câu lạc bộ mẫu.

Thứ ba, đổi mới câu lạc bộ và diễn đàn theo hướng gắn văn hóa với nghề nghiệp kỹ thuật. Có thể phát triển “Câu lạc bộ Sách và hành động” thành không gian đọc – thảo luận – giải quyết vấn đề; tổ chức “Diễn đàn sĩ quan trẻ” và “Câu lạc bộ Lý luận trẻ” theo tình huống, chú trọng năng lực nhận diện thông tin sai lệch, ứng xử trên không gian mạng và kỹ năng tranh luận có căn cứ; duy trì câu lạc bộ ngoại ngữ gắn với học viên Lào, Campuchia để vừa nâng cao năng lực ngôn ngữ vừa bồi dưỡng văn hóa giao tiếp và đoàn kết quốc tế. Đối với trường kỹ thuật, nên bổ sung các hoạt động như “Câu chuyện sau sáng kiến”, “Một lỗi kỹ thuật – một bài học văn hóa an toàn”, “Ngày không gian sáng tạo”, qua đó biến tri thức chuyên môn thành chất liệu giáo dục văn hóa nghề nghiệp. Hiệu quả của câu lạc bộ cần được đánh giá dựa trên tần suất hoạt động, tỷ lệ tham gia tự nguyện, sản phẩm tạo ra và mức độ duy trì, thay vì chỉ đếm số cuộc tổ chức.

Thứ tư, phát triển môi trường văn hóa số đồng bộ với việc xây dựng nhà trường thông minh. Chuyển đổi số cần được triển khai theo 3 lớp. Lớp thứ nhất là số hóa tài nguyên: tư liệu truyền thống, sách, hình ảnh, hiện vật, câu chuyện nhân chứng, thành tích khoa học và lịch sử của đơn vị. Lớp thứ hai là số hóa trải nghiệm: xây dựng triển lãm 3D/VR có chọn lọc, mã QR tại các không gian truyền thống, chuyên mục học liệu ngắn và hệ thống tra cứu dùng chung cho cả hai địa bàn. Lớp thứ ba là quản trị văn hóa số: quy tắc ứng xử, kỹ năng kiểm chứng thông tin, bảo vệ dữ liệu, kỷ luật phát ngôn, ý thức về bản quyền và năng lực sử dụng trí tuệ nhân tạo một cách có trách nhiệm. Nghị quyết số 80-NQ/TW đặt ra yêu cầu xây dựng môi trường văn hóa trên không gian số; vì vậy, văn hóa số phải được coi là một cấu phần của giáo dục nhân cách, chứ không chỉ là một giải pháp công nghệ (Bộ Chính trị, 2026).

Thứ năm, nâng cao hiệu quả khai thác thiết chế văn hóa thông qua cơ chế quản trị theo vòng đời. Đối với mỗi hội trường, Phòng Tư liệu lịch sử về Chủ tịch Hồ Chí Minh, thư viện, không gian sinh hoạt chung hoặc nền tảng số, cần xác định rõ đối tượng phục vụ, tần suất khai thác, người phụ trách, lịch trình nội dung, chi phí vận hành và các chỉ số hiệu quả. Ưu tiên đầu tư theo nguyên tắc “dùng được – dùng thường xuyên – dùng chung”, tránh chạy theo thiết bị đắt tiền nhưng thiếu nội dung hoặc nhân sự vận hành. Đối với 2 địa bàn đóng quân, nên chuẩn hóa các gói nội dung dùng chung, lịch hoạt động liên thông và kho tài nguyên số tập trung; các hoạt động cần tương tác trực tiếp có thể luân phiên tổ chức. Đây là cách thu hẹp “khoảng cách công nghệ” và bảo đảm sự thống nhất văn hóa mà không triệt tiêu tính linh hoạt của từng cơ sở.

Thứ sáu, gắn việc xây dựng môi trường văn hóa với thi đua, nêu gương và cơ chế phản hồi. Cần tiếp tục gắn phong trào “Xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú” với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”, nhưng cần chuyển mạnh từ đánh giá đầu vào sang đánh giá kết quả. Có thể duy trì khảo sát trong các học kỳ về mức độ hài lòng, cảm nhận an toàn, tinh thần đoàn kết, cơ hội tham gia hoạt động và khả năng tiếp cận thiết chế; kết hợp dữ liệu về việc tham gia câu lạc bộ, thư viện, hoạt động khoa học, vi phạm kỷ luật và các sản phẩm sáng tạo để nhận diện xu hướng. Kết quả phản hồi phải được dùng để điều chỉnh hoạt động, không nhằm xếp hạng máy móc cá nhân. Cùng với đó, cần phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, giảng viên và sĩ quan trẻ, bởi chuẩn mực được thực hành hằng ngày có sức giáo dục bền vững hơn so với việc chỉ tuyên truyền đơn thuần.

Thứ bảy, mở rộng phối hợp nhưng bảo đảm đúng tính chất quân sự và hiệu quả trong việc sử dụng nguồn lực. Nhà trường có thể tăng cường phối hợp với đơn vị kết nghĩa, cơ quan báo chí, cơ sở giáo dục, bảo tàng và các thiết chế văn hóa trên địa bàn để tổ chức các hoạt động giao lưu, giáo dục truyền thống, kỹ năng và khoa học – công nghệ. Việc huy động nguồn lực xã hội cần tuân thủ quy định của Quân đội, bảo đảm an ninh, an toàn, bí mật quân sự và tính giáo dục; ưu tiên hợp tác về nội dung, chuyên gia, phương pháp và học liệu hơn là chạy theo quy mô sự kiện. Qua đó, môi trường văn hóa của Nhà trường vừa giữ vững bản sắc quân sự, vừa có khả năng hấp thụ có chọn lọc các giá trị tích cực của môi trường đại học và đời sống văn hóa đô thị.

4. Kết luận

Xây dựng môi trường văn hóa ở Trường Sĩ quan Kỹ thuật quân sự là nhiệm vụ có tính chiến lược, tác động trực tiếp đến chất lượng giáo dục – đào tạo, rèn luyện kỷ luật, nghiên cứu khoa học và xây dựng con người quân nhân. Trong điều kiện chuyển đổi số và yêu cầu xây dựng Quân đội hiện đại, môi trường văn hóa cần được nhìn nhận như một hệ sinh thái gồm các giá trị, con người, quan hệ, thiết chế, hoạt động và không gian số. Trên nền tảng những kết quả đã đạt được, trọng tâm giai đoạn tới là phát triển chiều sâu: định hình rõ “văn hóa kỹ thuật quân sự”; chuyên nghiệp hóa lực lượng tổ chức; đổi mới mô hình tương tác; quản trị hiệu quả thiết chế; xây dựng văn hóa số; và thiết lập cơ chế đánh giá dựa trên kết quả. Khi các giải pháp này được triển khai đồng bộ, có lộ trình và gắn chặt với nhiệm vụ chính trị trung tâm, môi trường văn hóa sẽ trở thành nguồn lực nội sinh góp phần xây dựng Trường Sĩ quan Kỹ thuật quân sự chính quy, tiên tiến, mẫu mực và hiện đại.

Tài liệu tham khảo:
Báo Quân đội nhân dân (2025). Xây dựng môi trường văn hóa, đội ngũ giảng dạy “vừa hồng, vừa chuyên”. https://www.qdnd.vn/giao-duc-khoa-hoc/nha-truong-quan-doi/xay-dung-moi-truong-van-hoa-doi-ngu-giang-day-vua-hong-vua-chuyen-827705
Báo Văn Hóa (24/12/2025). Tổng kết 5 năm thực hiện Quy hoạch hệ thống thiết chế văn hóa trong Quân đội. https://baovanhoa.vn/van-hoa/tong-ket-5-nam-thuc-hien-quy-hoach-he-thong-thiet-che-van-hoa-trong-quan-doi-191247.html
Bộ Chính trị 2026). Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam.
Bộ Quốc phòng (2020a). Thông tư số 138/2020/TT-BQP ngày 10/11/2020  quy định chế độ, định mức, tiêu chuẩn đời sống văn hóa, tinh thần trong Quân đội nhân dân Việt Nam.
Bộ Quốc phòng (2020b). Quyết định số 3672/QĐ-BQP ngày 24/11/2020 về quy hoạch hệ thống thiết chế văn hóa trong Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021–2025, định hướng đến năm 2030.
Nguyễn, H., & Trung, T. (10/5/2026). Trường Sĩ quan Kỹ thuật quân sự: Đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng nhà trường thông minh. Báo Quân đội nhân dân. https://www.qdnd.vn/giao-duc-khoa-hoc/nha-truong-quan-doi/truong-si-quan-ky-thuat-quan-su-day-manh-chuyen-doi-so-xay-dung-nha-truong-thong-minh-1038948
Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 1909/QĐ-TTg ngày 12/11/2021 phê duyệt Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030.
Trường Sĩ quan Kỹ thuật quân sự. (n.d.). Giới thiệu chung. https://tdnu.edu.vn/trang/gioi-thieu-chung.html