Strengthening Party leadership over citizen protection and support for the overseas Vietnamese community
ThS. Vũ Thị Thanh Nga
Trường Đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương
Email: Ngavtt@hmtu.edu.vn
(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, số lượng công dân Việt Nam ra nước ngoài học tập, lao động, đầu tư, du lịch và định cư ngày càng gia tăng, đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu quả công tác bảo hộ công dân và hỗ trợ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Những diễn biến phức tạp về chính trị, an ninh, dịch bệnh, thiên tai và các tình huống khẩn cấp xuyên biên giới đòi hỏi sự lãnh đạo thống nhất, kịp thời của Đảng đối với công tác này. Trên cơ sở phân tích thực trạng, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo hộ công dân và hỗ trợ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trong thời kỳ mới.
Từ khóa: Sự lãnh đạo của Đảng; bảo hộ công dân; cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài; công tác đối ngoại.
Abstract: In the context of increasingly deep international integration, the growing number of Vietnamese citizens traveling abroad for study, employment, investment, tourism, and settlement has created a greater need to improve the effectiveness of citizen protection and support for Vietnamese communities overseas. Complex developments involving politics, security, epidemics, natural disasters, and cross-border emergencies require unified and timely Party leadership in this area. Based on an analysis of the current situation, this article proposes several solutions to strengthen the Party’s leadership over citizen protection and support for Vietnamese communities overseas in the new era.
Keywords: Party leadership; citizen protection; Vietnamese communities overseas; foreign affairs.
1. Đặt vấn đề
Tại khoản 3 Điều 17 Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “Công dân Việt Nam ở nước ngoài được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ” (Quốc hội, 2013, tr. 9). Điều 6 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014 và năm 2025 khẳng định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ quyền lợi chính đáng của công dân Việt Nam ở nước ngoài” (Quốc hội, 2025, tr.4). Cùng với đó, Luật Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài năm 2009, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xác lập cơ chế pháp lý cho các cơ quan đại diện thực hiện chức năng bảo hộ lãnh sự đối với công dân Việt Nam ở nước ngoài (Quốc hội, 2009).
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng đưa công tác bảo hộ công dân và hỗ trợ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài lên vị trí then chốt trong chính sách đối ngoại. Những biến động an ninh, thiên tai, dịch bệnh cùng các thách thức phi truyền thống đòi hỏi nâng cao hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo đối với lĩnh vực này. Sự lãnh đạo của Đảng định hướng chiến lược, xác lập cơ chế phối hợp thống nhất giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị, phát huy sức mạnh tổng hợp của đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo hộ công dân và hỗ trợ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn sâu sắc.
2. Thực trạng sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo hộ công dân và hỗ trợ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
2.1. Những kết quả đạt được
Những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, công tác bảo hộ công dân và hỗ trợ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có nhiều chuyển biến tích cực. Kết quả thể hiện không chỉ ở việc tiếp tục hoàn thiện chủ trương, chính sách mà còn ở khả năng tổ chức ứng phó với các tình huống phát sinh và phát huy nguồn lực của cộng đồng. Những kết quả chủ yếu thể hiện trên các phương diện sau:
Một là, chủ trương của Đảng về công tác người Việt Nam ở nước ngoài tiếp tục được cụ thể hóa, tạo cơ sở chính trị cho việc nâng cao hiệu quả bảo hộ công dân và hỗ trợ cộng đồng. Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 19/5/2015 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW khẳng định cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Kết luận số 12-KL/TW ngày 12/8/2021 đã hình thành và tiếp tục hoàn thiện định hướng thống nhất về công tác người Việt Nam ở nước ngoài, trong đó nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm địa vị pháp lý, đời sống, an toàn của kiều bào và nâng cao hiệu quả bảo hộ công dân. Cùng với đó, hệ thống pháp luật về cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài và quốc tịch tiếp tục được hoàn thiện, tạo cơ sở để các cơ quan chức năng thực hiện nhiệm vụ theo thẩm quyền.
Hai là, công tác tổ chức bảo hộ công dân được nâng lên, nhất là trong xử lý các tình huống khẩn cấp, phức tạp. Theo Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao, từ đầu năm 2026 đến tháng 7/2026, Cục đã hỗ trợ hơn 9.699 lượt công dân gặp khó khăn, tăng khoảng 92% so với cùng kỳ năm 2025; đồng thời, hỗ trợ công dân bị ảnh hưởng bởi xung đột tại Trung Đông, bảo hộ 4 tàu cá với 43 ngư dân bị bắt giữ do vi phạm vùng biển nước ngoài và hỗ trợ đưa 41 ngư dân mãn hạn tù về nước. Công tác này được triển khai thông qua phối hợp với hệ thống 96 cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cho thấy, năng lực phối hợp và phản ứng nhanh trước các vấn đề phát sinh ngày càng được chú trọng (Bộ Ngoại giao, 2026a).
Ba là, công tác hỗ trợ, tập hợp và phát huy vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng gắn với yêu cầu huy động nguồn lực phục vụ phát triển đất nước. Đến năm 2026, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có hơn 6,5 triệu người, sinh sống tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ. Cộng đồng ngày càng đa dạng về thành phần, có tiềm năng về vốn, tri thức, khoa học – công nghệ, kinh nghiệm quản trị và mạng lưới quan hệ quốc tế. Nhiều hoạt động kết nối doanh nhân, trí thức, thanh niên; hỗ trợ giữ gìn tiếng Việt, bản sắc văn hóa; thu hút chuyên gia và thúc đẩy hợp tác đầu tư, khoa học – công nghệ được triển khai. Đặc biệt, năm 2025, kiều hối về Việt Nam đạt mức kỷ lục hơn 16 tỷ USD, tiếp tục khẳng định vai trò của nguồn lực kiều bào đối với phát triển kinh tế – xã hội (Bộ Ngoại giao, 2026b).
Bốn là, phương thức triển khai công tác bảo hộ công dân từng bước chuyển từ xử lý vụ việc sang chủ động phòng ngừa, cảnh báo và phối hợp ứng phó. Hệ thống thông tin của Bộ Ngoại giao thường xuyên cập nhật các bản tin bảo hộ công dân, khuyến cáo về động đất, xung đột, thiên tai và các tình huống có nguy cơ ảnh hưởng đến công dân Việt Nam ở nước ngoài. Thực tiễn năm 2026, với các vụ việc liên quan đến xung đột, thiên tai và sự cố trên biển cho thấy, yêu cầu xây dựng năng lực dự báo, cảnh báo sớm, chia sẻ thông tin và hỗ trợ công dân trên nền tảng số ngày càng trở nên cấp thiết. Đây cũng là cơ sở thực tiễn để tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác bảo hộ công dân trong tình hình mới.
2.2. Một số hạn chế
Thứ nhất, việc cụ thể hóa chủ trương của Đảng thành cơ chế phối hợp, quy trình xử lý và trách nhiệm cụ thể giữa các chủ thể vẫn chưa thật sự đồng bộ. Kết luận số 12-KL/TW đã chỉ rõ công tác người Việt Nam ở nước ngoài ở một số nơi chưa được quan tâm đúng mức; việc nắm tình hình cộng đồng, tham mưu, kiến nghị và phối hợp triển khai chủ trương, chính sách có lúc chưa sâu sát, chặt chẽ, kịp thời (Bộ Chính trị, 2021). Thực tiễn xử lý một số vụ việc phức tạp cho thấy, yêu cầu này ngày càng rõ nét. Chẳng hạn, khi xung đột tại Ukraine bùng phát năm 2022, các cơ quan đại diện Việt Nam tại Ukraine và các nước lân cận phải đồng thời phối hợp với chính quyền sở tại, hội đoàn người Việt và các cơ quan trong nước để tổ chức sơ tán, hỗ trợ giấy tờ, bố trí nơi ăn ở và đưa công dân về nước. Đến ngày 12/3/2022, các cơ quan đại diện Việt Nam đã hỗ trợ hơn 4.500 người sơ tán từ Ukraine sang các nước lân cận; riêng ngày 13/3/2022, hai chuyến bay đã đưa gần 600 công dân và gia đình về nước an toàn (Bộ Ngoại giao, 2022a). Một trường hợp khác là vụ việc công dân Việt Nam bị tạm giữ tại khu vực biên giới Myanmar – Thái Lan sau các đợt truy quét các cơ sở lừa đảo trực tuyến. Tính đến ngày 15/5/2025, Bộ Ngoại giao và các cơ quan đại diện Việt Nam tại Myanmar, Thái Lan, phối hợp với Bộ Công an và các cơ quan chức năng sở tại, đã đưa hơn 450 công dân về nước an toàn; đồng thời, tiếp tục xác minh nhân thân, xử lý các trường hợp còn lại và cảnh báo nguy cơ công dân bị lôi kéo ra nước ngoài bằng các lời mời chào “việc nhẹ, lương cao” (Bộ Ngoại giao, 2025).
Những trường hợp trên cho thấy, công tác bảo hộ công dân ngày càng phải xử lý các vụ việc có tính chất xuyên biên giới, liên quan đồng thời đến nhiều cơ quan trong nước, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, chính quyền sở tại, các tổ chức quốc tế và cộng đồng người Việt Nam. Vì vậy, nếu cơ chế trao đổi thông tin, phân công trách nhiệm và phối hợp xử lý chưa được chuẩn hóa, việc xác minh, ra quyết định và triển khai biện pháp hỗ trợ trong những tình huống khẩn cấp có thể gặp khó khăn, nhất là khi số lượng công dân liên quan lớn, địa bàn rộng và điều kiện pháp lý của nước sở tại khác nhau. Đây là một trong những vấn đề cần tiếp tục được khắc phục nhằm nâng cao tính chủ động, kịp thời và hiệu quả của công tác bảo hộ công dân..
Thứ hai, năng lực bảo hộ chưa đồng đều giữa các địa bàn và nhóm đối tượng. Việc công dân bị lừa đảo trực tuyến, mắc kẹt tại các khu vực có xung đột, vi phạm pháp luật nước sở tại hoặc gặp rủi ro trên biển cho thấy, công tác phòng ngừa vẫn cần được tăng cường. Một bộ phận công dân chưa chủ động cập nhật thông tin cảnh báo, chưa nắm đầy đủ pháp luật nước sở tại hoặc chưa duy trì kênh liên hệ với cơ quan đại diện khi cần thiết. Trong khi đó, dữ liệu về công dân Việt Nam ở nước ngoài còn phân tán, khả năng cập nhật và chia sẻ thông tin giữa các chủ thể chưa đồng đều, ảnh hưởng đến công tác dự báo và hỗ trợ trong những tình huống khẩn cấp.
Thứ ba, việc tập hợp, kết nối và phát huy nguồn lực của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài chưa tương xứng với tiềm năng. Mặc dù cộng đồng đã vượt 6,5 triệu người và có mạng lưới rộng khắp hơn 130 quốc gia, vùng lãnh thổ, cơ chế kết nối thường xuyên với doanh nhân, trí thức, chuyên gia và các hội đoàn ở một số địa bàn vẫn cần được củng cố. Việc thu hút nguồn lực không chỉ dừng ở đầu tư, kiều hối mà cần chuyển mạnh sang tri thức, công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh nghiệm quản trị và kết nối thị trường. Đây là yêu cầu đặt ra đối với phương thức lãnh đạo, vận động và tổ chức thực hiện công tác người Việt Nam ở nước ngoài trong giai đoạn mới.
Thứ tư, chuyển đổi số trong công tác bảo hộ công dân và hỗ trợ cộng đồng cần được đẩy mạnh theo hướng liên thông, lấy công dân làm trung tâm. Việc cung cấp cảnh báo, tiếp nhận yêu cầu hỗ trợ, quản lý thông tin và phối hợp xử lý vụ việc đã được tăng cường, song chưa hình thành đầy đủ một hệ thống dữ liệu và nền tảng hỗ trợ thống nhất, cập nhật và có khả năng kết nối xuyên suốt giữa trong nước với cơ quan đại diện ở nước ngoài. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là vừa nâng cao năng lực số, vừa bảo đảm an toàn, bảo mật dữ liệu và xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan trong khai thác, chia sẻ và xử lý thông tin.
Những kết quả và hạn chế trên cho thấy, sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo hộ công dân và hỗ trợ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đã tạo được định hướng thống nhất và đạt nhiều kết quả thực chất, nhưng vẫn cần tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo theo hướng chủ động, dự báo, phối hợp liên ngành và dựa trên dữ liệu. Trọng tâm không chỉ là xử lý tốt vụ việc phát sinh mà còn phải nâng cao năng lực phòng ngừa, cảnh báo sớm, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công dân và phát huy hiệu quả hơn nguồn lực của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
3. Một số giải pháp
Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, cơ quan chức năng và đội ngũ cán bộ, đảng viên về vị trí, vai trò của công tác bảo hộ công dân và hỗ trợ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp, nâng cao hiệu quả công tác thông tin đối ngoại, công tác lãnh sự, bảo hộ công dân; đồng thời, triển khai toàn diện và mạnh mẽ hơn công tác người Việt Nam ở nước ngoài. Văn kiện cũng nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước đối với các hoạt động đối ngoại, qua đó, tạo cơ sở chính trị quan trọng để tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác bảo hộ công dân, hỗ trợ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr. 54).
Trên cơ sở đó, các cấp ủy đảng cần tiếp tục quán triệt sâu sắc chủ trương, đường lối của Đảng về đối ngoại, công tác người Việt Nam ở nước ngoài và bảo hộ công dân; xác định đây là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, gắn với yêu cầu bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công dân, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và phát huy nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài. Việc nâng cao nhận thức cần được thực hiện thống nhất từ Trung ương đến địa phương, gắn với trách nhiệm của người đứng đầu trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện. Đồng thời, cần xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị trong tham mưu, phối hợp, xử lý và kiểm tra việc thực hiện, hạn chế tình trạng chồng chéo hoặc bỏ sót nhiệm vụ.
Trên cơ sở chủ trương của Đảng, các cơ quan nhà nước cần cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch, quy trình và cơ chế phối hợp phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của từng ngành, từng cấp; tăng cường phối hợp giữa các cơ quan trong nước với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, chính quyền sở tại và các tổ chức của người Việt Nam ở nước ngoài. Đồng thời, chú trọng nâng cao năng lực nghiên cứu, dự báo, nắm tình hình và xử lý các vấn đề phát sinh, nhất là những tình huống liên quan đến xung đột, thiên tai, dịch bệnh, tội phạm xuyên quốc gia và các nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công dân.
Cùng với đó, cần đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến pháp luật Việt Nam, pháp luật quốc tế và pháp luật của nước sở tại cho công dân trước và trong thời gian ở nước ngoài, với nội dung, phương thức phù hợp với từng nhóm đối tượng, như: người lao động, lưu học sinh, doanh nhân, khách du lịch và người cư trú dài hạn. Nội dung tuyên truyền cần tập trung vào quyền, nghĩa vụ của công dân; các quy định về xuất nhập cảnh, cư trú, lao động, hôn nhân và gia đình; phòng ngừa mua bán người, lừa đảo và các hình thức tội phạm xuyên quốc gia; kỹ năng nhận diện, phòng ngừa rủi ro và phương thức liên hệ với cơ quan đại diện Việt Nam khi cần hỗ trợ. Đẩy mạnh ứng dụng nền tảng số và các kênh thông tin chính thống để cung cấp cảnh báo kịp thời, dễ tiếp cận, góp phần chuyển công tác bảo hộ từ xử lý vụ việc sang chủ động phòng ngừa và hỗ trợ công dân.
Hai là, tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng và hệ thống chính sách, pháp luật về bảo hộ công dân và hỗ trợ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
Trên cơ sở Nghị quyết số 36-NQ/TW; Chỉ thị số 45-CT/TW và Kết luận số 12-KL/TW ngày 12/8/2021 của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới; Nghị quyết số 34-NQ/TW ngày 09/01/2023 của Bộ Chính trị về một số định hướng, chủ trương lớn triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIII của Đảng, cần tiếp tục thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các quan điểm, chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật, cơ chế quản lý và quy trình phối hợp thống nhất.
Cùng với đó, thường xuyên rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật phù hợp với yêu cầu thực tiễn và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Trọng tâm là hoàn thiện quy định, quy trình ứng phó với khủng hoảng, xung đột vũ trang, thiên tai, dịch bệnh, sơ tán công dân khỏi vùng nguy hiểm; tăng cường cơ chế bảo hộ người lao động, lưu học sinh, doanh nhân, ngư dân và các nhóm công dân có nguy cơ cao. Đồng thời, cần xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan từ Trung ương đến địa phương và cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, bảo đảm các biện pháp bảo hộ được triển khai nhanh chóng, đúng pháp luật, phù hợp với điều kiện của từng quốc gia, vùng lãnh thổ.
Bên cạnh hoàn thiện hệ thống pháp luật, cần xây dựng cơ chế huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực xã hội phục vụ bảo hộ công dân và hỗ trợ cộng đồng. Phát huy vai trò của hội, đoàn người Việt Nam ở nước ngoài, doanh nghiệp, tổ chức xã hội và cá nhân có uy tín trong cung cấp thông tin, hỗ trợ pháp lý, kết nối nguồn lực và phối hợp với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài. Đồng thời, tăng cường cơ chế kiểm tra, đánh giá việc thực hiện, nhất là đối với những nhiệm vụ liên ngành và những địa bàn có nhiều công dân Việt Nam sinh sống, học tập, lao động, kinh doanh.
Ba là, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại, lãnh sự và bảo hộ công dân.
Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức, tinh thần trách nhiệm và tác phong chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Nội dung đào tạo, bồi dưỡng cần gắn lý luận với thực tiễn, kết hợp kiến thức về đối ngoại, lãnh sự, pháp luật quốc tế và pháp luật nước sở tại với giao tiếp liên văn hóa và nghiệp vụ bảo hộ công dân. Đồng thời, thường xuyên cập nhật kiến thức về các điều ước quốc tế, hiệp định song phương, đa phương và những thay đổi của pháp luật trong nước, pháp luật nước sở tại để cán bộ có đủ năng lực xử lý những vấn đề phát sinh.
Yêu cầu này phù hợp với định hướng của Đại hội XIV về xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn phát triển mới, đồng thời tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế. Trên cơ sở đó, công tác đào tạo, bồi dưỡng cần chuyển mạnh từ trang bị kiến thức sang phát triển năng lực thực thi, chú trọng kỹ năng xử lý tình huống, tham mưu, đàm phán, hòa giải, truyền thông và phối hợp liên ngành (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr. 147).
Đặc biệt, cần tăng cường bồi dưỡng kỹ năng xử lý khủng hoảng, đàm phán, hòa giải và truyền thông trong các tình huống xung đột vũ trang, thiên tai, dịch bệnh, bắt giữ công dân, mua bán người, lừa đảo xuyên quốc gia và các vụ việc có yếu tố nước ngoài. Đồng thời, trang bị cho cán bộ năng lực khai thác dữ liệu, sử dụng các nền tảng số và công cụ phân tích hiện đại phục vụ nắm tình hình, cảnh báo rủi ro và hỗ trợ ra quyết định. Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo cần được thực hiện có kiểm soát, bảo đảm an toàn, bảo mật thông tin và không thay thế trách nhiệm pháp lý, nghiệp vụ của cán bộ.
Cùng với đào tạo, bồi dưỡng, cần hoàn thiện cơ chế đánh giá, bố trí, sử dụng và đãi ngộ cán bộ phù hợp với đặc thù công tác đối ngoại, lãnh sự và bảo hộ công dân. Đánh giá cán bộ cần dựa trên kết quả và chất lượng thực hiện nhiệm vụ, năng lực xử lý tình huống, tinh thần trách nhiệm, khả năng phối hợp và mức độ đáp ứng yêu cầu của người dân; đồng thời, có cơ chế khuyến khích, bảo vệ và tạo động lực để cán bộ yên tâm công tác, phát huy năng lực và cống hiến lâu dài.
Bốn là, đẩy mạnh chuyển đổi số và tăng cường phối hợp giữa các lực lượng trong công tác bảo hộ công dân và hỗ trợ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
Đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện và kết nối các cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý, hỗ trợ công dân Việt Nam ở nước ngoài theo hướng đầy đủ, chính xác, cập nhật, liên thông và bảo đảm an toàn thông tin. Việc xây dựng dữ liệu cần gắn với yêu cầu kết nối, tích hợp và chia sẻ giữa các cơ quan có thẩm quyền, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài và các hệ thống dữ liệu liên quan, tạo cơ sở cho việc nắm tình hình, xác minh thông tin, cảnh báo rủi ro và triển khai biện pháp bảo hộ trong các tình huống khẩn cấp. Đây cũng là hướng phù hợp với yêu cầu của Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng về phát triển đồng bộ các cơ sở dữ liệu quốc gia, bảo đảm kết nối, liên thông, tích hợp, chia sẻ và khai thác hiệu quả phục vụ quản lý nhà nước.
Đẩy mạnh phát triển các nền tảng số phục vụ công tác lãnh sự và bảo hộ công dân như cổng thông tin điện tử, hệ thống đăng ký và cập nhật thông tin công dân, kênh tiếp nhận yêu cầu hỗ trợ, đường dây nóng đa ngôn ngữ và hệ thống cảnh báo sớm. Các nền tảng cần bảo đảm khả năng cung cấp thông tin chính thống, tiếp nhận yêu cầu hỗ trợ và hướng dẫn công dân trong những tình huống khẩn cấp. Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và các công nghệ phân tích hiện đại cần hướng tới nâng cao năng lực dự báo, phân tích rủi ro và hỗ trợ cán bộ xử lý thông tin, đồng thời tuân thủ các yêu cầu về bảo vệ dữ liệu cá nhân và an toàn thông tin.
Cùng với chuyển đổi số, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa Bộ Ngoại giao với các bộ, ngành, địa phương, lực lượng chức năng, doanh nghiệp và tổ chức của người Việt Nam ở nước ngoài. Cần xác định rõ đầu mối, trách nhiệm và quy trình phối hợp đối với từng nhóm tình huống; tăng cường chia sẻ thông tin và tổ chức diễn tập, kiểm tra khả năng ứng phó. Qua đó, hình thành cơ chế phản ứng nhanh, đồng bộ, hạn chế tình trạng chồng chéo hoặc bỏ sót trách nhiệm trong xử lý các vụ việc phức tạp.
Năm là, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc và vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trong thực hiện công tác bảo hộ công dân.
Tăng cường sự gắn kết giữa các cơ quan trong nước với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài; đồng thời, phát huy vai trò của hội đoàn, hiệp hội, trí thức, doanh nhân, thanh niên và những người Việt Nam ở nước ngoài có uy tín trong xây dựng mạng lưới hỗ trợ cộng đồng. Mạng lưới này có thể tham gia cung cấp thông tin, tư vấn pháp lý, hỗ trợ hội nhập, kết nối nguồn lực, hướng dẫn ứng phó với tình huống khẩn cấp và phối hợp với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài khi cần thiết.
Văn kiện Đại hội XIV tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế trong đó có Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr. 169). Vận động người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là thế hệ trẻ, gắn bó với quê hương, giữ gìn bản sắc và văn hóa dân tộc; tăng cường bảo hộ công dân; hỗ trợ để người Việt Nam ở nước ngoài có địa vị pháp lý vững chắc, hội nhập xã hội, đóng góp tích cực cho sở tại và đất. Vì vậy, cần thường xuyên lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, tiếp nhận và giải quyết kịp thời những kiến nghị chính đáng của cộng đồng; đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi để kiều bào tham gia đầu tư, kinh doanh, chuyển giao tri thức, khoa học và công nghệ, đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.
Phát huy vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài với tư cách là cầu nối thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Việt Nam với các quốc gia, vùng lãnh thổ; góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam và tăng cường sự hiểu biết giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước. Qua đó, công tác hỗ trợ cộng đồng không chỉ hướng tới bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng và an toàn của công dân mà còn gắn chặt với mục tiêu phát huy nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và phục vụ lợi ích quốc gia – dân tộc trong tình hình mới.
4. Kết luận
Công tác bảo hộ công dân và hỗ trợ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có ý nghĩa chiến lược, vừa góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công dân, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, vừa nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực diễn biến nhanh chóng, phức tạp, việc tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác này là yêu cầu cần thiết, nhằm bảo đảm sự thống nhất về chủ trương, nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện và phát huy nguồn lực của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, qua đó, phát huy tối đa nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài tham gia đóng góp phục vụ phát triển đất nước (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr. 181 – 182).
Để đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới, cần triển khai đồng bộ các giải pháp về hoàn thiện chủ trương, cơ chế, chính sách; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ; đẩy mạnh chuyển đổi số; tăng cường phối hợp giữa các cơ quan, lực lượng và phát huy vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Các giải pháp có mối quan hệ chặt chẽ, bổ trợ lẫn nhau, trong đó sự lãnh đạo thống nhất của Đảng là yếu tố định hướng, tạo cơ sở để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và tổ chức thực hiện. Qua đó, bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công dân Việt Nam ở nước ngoài, củng cố sự gắn bó của cộng đồng với quê hương, đất nước, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển nhanh, bền vững và hội nhập quốc tế toàn diện.
Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị (2004). Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 26/3/2004 về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài.
Bộ Chính trị (2015). Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 19/5/2015 về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới.
Bộ Chính trị (2021). Kết luận số 12-KL/TW ngày 12/8/2021 về công tác người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới.
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 về hội nhập quốc tế trong tình hình mới.
Bộ Ngoại giao (2022). Tin bảo hộ công dân tại Ukraine cập nhật ngày 13/3/2022. Cổng thông tin Bộ Ngoại giao.
Bộ Ngoại giao (2025). Họp báo thường kỳ ngày 15 tháng 5 năm 2025. Cổng thông tin Bộ Ngoại giao.
Bộ Ngoại giao (2026). Cục trưởng Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao Doãn Hoàng Minh trả lời phỏng vấn nhân dịp Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33 và Hội nghị Ngoại vụ toàn quốc lần thứ 22.
Bộ Ngoại giao (2026). Phát huy nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài: Từ vai trò tiên phong của đối ngoại, đến động lực phát triển quốc gia và từng địa phương.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026a). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập 1). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026b). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập 2). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Lê Thị Thu Hằng (29/7//2026). Phát huy nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài: Từ vai trò tiên phong của đối ngoại, đến động lực phát triển quốc gia và từng địa phương. Báo Nhân dân. https://nhandan.vn/phat-huy-nguon-luc-nguoi-viet-nam-o-nuoc-ngoai-tu-vai-tro-tien-phong-cua-doi-ngoai-den-dong-luc-phat-trien-quoc-gia-va-tung-dia-phuong-post978609.html
Quốc hội (2009). Luật Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Quốc hội (2013). Hiến pháp năm 2013.
Quốc hội (2025). Luật số 79/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam.
Thông tin Đối ngoại (12/7/2024). Cục trưởng Cục Lãnh sự: Nâng cao tính chủ động, sẵn sàng trong công tác bảo hộ công dân. https://ttdn.vn/co-quan-dai-dien-va-kieu-bao/cong-tac-ngoai-vu/cuc-truong-cuc-lanh-su-nang-cao-tinh-chu-dong-san-sang-trong-cong-tac-bao-ho-cong-dan-106866



