The capacity of actors in development-oriented national governance in Vietnam
PGS.TS Hoàng Mai
Học viện Hành chính và Quản trị công
Email: maih@napa.vn
(Quanlynhanuoc.vn) – Trên cơ sở khung lý thuyết về năng lực nhà nước và mô hình quản trị đa chủ thể, kết hợp với kết quả khảo sát thực tiễn, bài viết phân tích thực trạng năng lực của các chủ thể trong nền quản trị quốc gia ở Việt Nam trên ba phương diện: năng lực dẫn dắt phát triển của Nhà nước; vai trò, mức độ tham gia của doanh nghiệp và người dân; cơ chế phối hợp giữa các chủ thể. Kết quả nghiên cứu cho thấy, điểm nghẽn cốt lõi không nằm ở cơ cấu tổ chức bộ máy mà ở năng lực chức năng thực chất, đặc biệt là năng lực hoạch định chính sách và năng lực phối hợp; vai trò tham gia của người dân còn hạn chế trong khi kỳ vọng của xã hội ngày càng cao. Từ đó, bài viết đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực của các chủ thể nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của nền quản trị quốc gia trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Từ khóa: Quản trị quốc gia; năng lực chủ thể; năng lực nhà nước; quản trị đa chủ thể; phát triển.
Abstract: Based on the theoretical framework of state capacity and the multi-stakeholder governance model, combined with the results of empirical surveys, this article analyzes the current state of the capacities of various stakeholders in Vietnam’s national governance system across three dimensions: the State’s capacity to lead development; the role and level of participation of businesses and citizens; and the mechanisms for coordination among stakeholders. The research findings indicate that the core bottleneck lies not in the organizational structure of the government apparatus but in its actual functional capacity, particularly in policy-making and coordination; citizen participation remains limited, while societal expectations continue to rise. Consequently, this article proposes several solutions to enhance the capabilities of these stakeholders in order to harness the combined strength of the national governance system during this new phase of the country’s development.
Keywords: National governance; stakeholder capabilities; state capabilities; multi-stakeholder governance; development.
1. Đặt vấn đề
Văn kiện Đại hội XIII của Đảng lần đầu tiên chính thức sử dụng thuật ngữ “quản trị quốc gia”, xác định nhiệm vụ “đổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, hiệu quả” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr. 203). Đây là bước phát triển quan trọng trong tư duy quản lý phát triển, phản ánh một thực tế của xã hội hiện đại: những giới hạn về khả năng và nguồn lực của Nhà nước trong việc giải quyết các vấn đề chung khiến sự hợp tác với các chủ thể ngoài Nhà nước trở thành xu hướng tất yếu. Khái niệm quản trị quốc gia không phủ định khái niệm quản lý nhà nước, mà bổ sung cho nhau; điểm khác biệt căn bản là ở chỗ quản trị quốc gia đề cao tính đa chủ thể và sự hợp tác giữa các chủ thể, thay cho sự áp đặt một chiều của quyền lực hành chính.
Trong mô hình quản trị đa chủ thể, nếu thể chế là khung khổ và quy tắc vận hành thì năng lực của các chủ thể là yếu tố quyết định việc khung khổ đó có được vận hành hiệu quả trên thực tế hay không. Thể chế dù hoàn thiện đến đâu cũng chỉ phát huy tác dụng khi được vận hành bởi những chủ thể có năng lực. Trong bối cảnh hệ thống chính trị đã cơ bản hoàn thành việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, yêu cầu đặt ra cho giai đoạn tới là chuyển trọng tâm cải cách từ hoàn thiện cơ cấu tổ chức sang nâng cao năng lực vận hành thực chất của các chủ thể. Vì vậy, việc làm rõ nội hàm, đánh giá đúng thực trạng và xác định giải pháp nâng cao năng lực của các chủ thể có ý nghĩa lý luận và thực tiễn đối với việc xây dựng nền quản trị quốc gia phục vụ phát triển ở Việt Nam, nhất là khi đất nước hướng tới mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
2. Cơ sở lý luận về năng lực của các chủ thể trong nền quản trị quốc gia
Nền quản trị quốc gia phục vụ phát triển thể hiện đặc trưng đa chủ thể trong thực thi quyền lực công. Các chủ thể tham gia quản trị bao gồm Nhà nước, thị trường mà đại diện là cộng đồng doanh nghiệp, và xã hội mà chủ thể trung tâm là người dân và các tổ chức xã hội; trong đó Nhà nước giữ vai trò trung tâm, dẫn dắt và kiến tạo, nhưng không độc quyền mà vận hành quyền lực thông qua các cơ chế hợp tác, đối tác và mạng lưới. Các chủ thể này hợp thành một hệ thống thống nhất, trong đó hiệu quả của tổng thể phụ thuộc không chỉ vào năng lực của từng chủ thể mà còn vào chất lượng liên kết, phối hợp giữa chúng. Nhiều vấn đề phát triển hiện đại như chuyển đổi số, biến đổi khí hậu, đô thị hóa hay an sinh xã hội vượt quá năng lực giải quyết của một chủ thể duy nhất, do đó quản trị phục vụ phát triển đòi hỏi năng lực huy động và phối hợp nguồn lực xã hội thay vì chỉ dựa vào quyền lực hành chính.
Trong hệ thống đó, năng lực của Nhà nước giữ vai trò nòng cốt. Các nghiên cứu về năng lực nhà nước (state capacity) chỉ ra sự khác biệt về kết quả phát triển giữa các quốc gia không chỉ nằm ở lựa chọn chính sách mà còn chủ yếu ở khả năng thực hiện chính sách một cách hiệu quả, nhất quán và có trách nhiệm. Hiểu theo nghĩa rộng, năng lực nhà nước bao gồm năng lực hoạch định chính sách, năng lực điều phối liên ngành, năng lực thực thi và năng lực giám sát, phản hồi; việc củng cố năng lực này được coi là điều kiện tiên quyết để quản trị chuyển hóa được nguồn lực thành kết quả phát triển thực chất. Bên cạnh đó, năng lực của các chủ thể ngoài nhà nước và chất lượng cơ chế phối hợp giữa Nhà nước, thị trường và xã hội cũng là những cấu phần cốt lõi. Trong nền quản trị hiện đại, người dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng chính sách mà còn là chủ thể tham gia, phản biện và giám sát; doanh nghiệp không chỉ là đối tượng quản lý mà là động lực và đối tác phát triển. Do đó, việc đánh giá năng lực của các chủ thể cần được tiếp cận trên ba phương diện gắn bó chặt chẽ: năng lực dẫn dắt phát triển của Nhà nước; vai trò, mức độ tham gia thực chất của doanh nghiệp và người dân và năng lực phối hợp, điều phối giữa các chủ thể.
3. Thực trạng năng lực của các chủ thể trong nền quản trị quốc gia ở Việt Nam
Các nhận định dưới đây dựa trên kết quả khảo sát thực tiễn của Đề tài khoa học cấp Bộ “Nghiên cứu đề xuất những quyết sách chiến lược về xây dựng nền quản trị quốc gia phục vụ phát triển”, gồm ý kiến của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức (404 phiếu hợp lệ) và ý kiến của người dân, doanh nghiệp (100 phiếu), kết hợp đối chiếu với các bộ dữ liệu độc lập như Chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI), Chỉ số hài lòng về sự phục vụ hành chính (SIPAS), Chỉ số cải cách hành chính (PAR Index), Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), thống kê phát triển doanh nghiệp và các chỉ số quản trị số.
3.1. Năng lực dẫn dắt phát triển của Nhà nước
Năng lực dẫn dắt phát triển của Nhà nước là khái niệm tổng hợp, bao gồm tầm nhìn chiến lược, năng lực hoạch định chính sách, khả năng huy động và phân bổ nguồn lực, khả năng điều phối đa chủ thể và khả năng thích ứng với biến động. Kết quả khảo sát của đề tài cho thấy, đánh giá về năng lực này nghiêng về hướng tích cực nhưng còn nhiều dư địa cải thiện: 59,4% ý kiến cho rằng Nhà nước đáp ứng khá tốt hoặc đáp ứng tốt, có khả năng dẫn dắt (39,6% khá tốt và 19,8% tốt); tuy nhiên vẫn còn 34,4% đánh giá ở mức trung bình và 7,7% cho rằng hạn chế hoặc chưa đáp ứng.
Phân tích sâu hơn về khoảng trống năng lực cho thấy điểm nghẽn cốt lõi khá rõ. Khi được hỏi về yếu tố hạn chế lớn nhất đối với năng lực dẫn dắt phát triển của Nhà nước, có tới 44,6% ý kiến lựa chọn năng lực hoạch định chính sách, cao hơn hẳn các phương án còn lại; yếu tố hạn chế lớn thứ hai là cơ chế phối hợp với tỷ lệ 33,7%, phản ánh tình trạng phân mảnh, cát cứ chức năng. Ngược lại, hai yếu tố thiết kế bộ máy và phân định chức năng được đánh giá ít gây hạn chế nhất, với tỷ lệ lần lượt 14,4% và 17,1% (Biểu đồ 1). Kết quả này hàm ý rằng, vấn đề năng lực không nằm chủ yếu ở cơ cấu tổ chức bên ngoài mà ở năng lực chức năng thực chất và ở cơ chế phối hợp liên ngành; việc tái cơ cấu tổ chức bộ máy, dù cần thiết, sẽ không tự nó giải quyết được vấn đề năng lực nếu không đi kèm đầu tư xây dựng năng lực thực chất cho đội ngũ.
Biểu đồ 1. Yếu tố hạn chế lớn nhất đối với năng lực dẫn dắt phát triển của Nhà nước

Xu hướng cải thiện của năng lực phục vụ được phản ánh qua các bộ chỉ số của Việt Nam được xem xét độc lập, cập nhật đến năm 2025. Chỉ số cải cách hành chính (PAR Index) năm 2025 đạt trung bình 89,96%, tiếp tục tăng so với mức 88,37% của năm 2024 và là mức cao nhất từ trước tới nay. Đáng chú ý, Chỉ số hài lòng về sự phục vụ hành chính (SIPAS) năm 2025 đạt 83,09%, giảm nhẹ 0,78% so với năm 2024 (83,94%) dù vẫn cao hơn năm 2023 (Bảng 1). Mức giảm nhẹ này diễn ra đúng vào kỳ đầu tiên đo lường sau khi sáp nhập đơn vị hành chính còn 34 tỉnh, thành phố và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, cho thấy chi phí thích ứng của giai đoạn chuyển đổi và những kỳ vọng chưa được đáp ứng đầy đủ của người dân.
Trước đó, Chỉ số PAPI năm 2024, dựa trên ý kiến của 18.894 người dân, ghi nhận 7 trong 8 lĩnh vực nội dung có điểm cao hơn năm 2023 với điểm trung bình toàn quốc 41,43/80; song trên phạm vi toàn quốc người dân chỉ đánh giá 3 trong 8 lĩnh vực đạt mức khá, và tham nhũng trở thành mối quan ngại được nhiều người dân nêu nhất (22,58% số người trả lời). Những dữ liệu này phản ánh một nghịch lý cần lưu ý: nhiều chỉ số quản trị cải thiện nhưng kỳ vọng của người dân tăng nhanh, đặt ra yêu cầu cao hơn về năng lực phục vụ, trách nhiệm giải trình và tính liêm chính của bộ máy trong bối cảnh chuyển đổi.
Bảng 1. Một số chỉ số phản ánh năng lực phục vụ, quản trị của Nhà nước, 2024 – 2025
| Chỉ số | 2024 | 2025 | Nguồn |
| PAR Index – trung bình (%) | 88,37 | 89,96 | Bộ Nội vụ |
| SIPAS – mức hài lòng chung (%) | 83,94 | 83,09 | Bộ Nội vụ |
| SIPAS – số phiếu khảo sát hợp lệ | 36.525 | 35.649 | Bộ Nội vụ |
| PAPI – điểm trung bình toàn quốc (/80) | 41,43 | – | UNDP, CECODES, MTTQ |
Về tổ chức bộ máy, cuộc sắp xếp, tinh gọn giai đoạn 2024 – 2025 đã tạo chuyển biến mạnh về cơ cấu: số bộ và cơ quan ngang bộ giảm còn 14 bộ, 3 cơ quan ngang bộ; toàn bộ 13 tổng cục được tổ chức lại; biên chế khối hành chính giảm khoảng 145.000 công chức, viên chức và từ ngày 01/7/2025, cả nước vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp với 34 tỉnh, thành phố. Tuy nhiên, như kết quả khảo sát đã chỉ ra, việc kiện toàn cơ cấu tổ chức là điều kiện cần nhưng chưa đủ; chất lượng vận hành thực chất của bộ máy vẫn phụ thuộc trước hết vào năng lực hoạch định chính sách và năng lực phối hợp – những yếu tố không tự động được cải thiện nhờ tinh gọn.
3.2. Vai trò của doanh nghiệp, người dân và cơ chế phối hợp đa chủ thể
Một nền quản trị quốc gia phục vụ phát triển hiện đại không chỉ dựa vào năng lực của riêng Nhà nước mà còn phụ thuộc vào mức độ tham gia thực chất của doanh nghiệp và người dân. Kết quả khảo sát của đề tài cho thấy một sự bất cân xứng có ý nghĩa chính sách: trong khi 57,1% ý kiến đánh giá vai trò của doanh nghiệp ở mức khá rõ hoặc rất quan trọng, thì tỷ lệ tương ứng đối với người dân chỉ đạt 42,2%; ngược lại, có 17,1% đánh giá vai trò của người dân ở mức rất hạn chế, cao hơn đáng kể so với mức 11,2% đối với doanh nghiệp (Biểu đồ 2). Sự tham gia của người dân phần lớn vẫn mang tính thụ động, còn thiếu các kênh tham gia thực chất vào quá trình ra quyết định chính sách. Hạn chế này được xác nhận độc lập qua Chỉ số PAPI: các lĩnh vực gắn với sự tham gia của người dân ở cấp cơ sở, trách nhiệm giải trình và công khai, minh bạch vẫn nằm trong nhóm cần cải thiện.
Biểu đồ 2. Đánh giá vai trò của doanh nghiệp và người dân trong tham gia quản trị

Về phía doanh nghiệp, năng lực kiến tạo của Nhà nước được thể hiện rõ qua chính sách phát triển kinh tế tư nhân. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị lần đầu tiên xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Theo Báo cáo Kinh tế tư nhân Việt Nam 2025 của VCCI, khu vực này hiện có hơn 1 triệu doanh nghiệp và hơn 6,1 triệu hộ kinh doanh, tạo việc làm cho khoảng 26 triệu lao động (chiếm 50,2% tổng số việc làm cả nước). Môi trường thể chế thuận lợi đã tạo hiệu ứng tích cực rõ rệt và có tính bền vững: năm 2025, cả nước có 195.100 doanh nghiệp thành lập mới (tăng 24,1%) và tổng số doanh nghiệp gia nhập, tái gia nhập thị trường đạt 297.400 (tăng 27,4% so với năm 2024) (Biểu đồ 3); đà tăng tiếp tục trong sáu tháng đầu năm 2026 với gần 111.700 doanh nghiệp thành lập mới (tăng 22,5% so với cùng kỳ) và vốn đăng ký tăng 64,8%, trong bối cảnh tăng trưởng GDP sáu tháng đầu năm 2026 đạt 8,18% – mức cao nhất kể từ năm 2011.
Tuy vậy, dữ liệu mới nhất cũng làm nổi bật đúng điểm nghẽn mà kết quả khảo sát của đề tài đã chỉ ra. Chỉ số PCI năm 2025 được công bố theo phiên bản PCI 2.0 với điểm trung vị toàn quốc đạt 63,90 trên thang 100 (không so sánh trực tiếp với các năm trước do thay đổi phương pháp và bối cảnh sáp nhập tỉnh); qua khảo sát hơn 3.500 doanh nghiệp, VCCI nhận định cải cách thể chế đã đi đúng hướng, nhưng khoảng cách giữa thiết kế chính sách ở Trung ương và năng lực thực thi tại cơ sở vẫn còn lớn. Nhận định độc lập này trùng khớp với phát hiện cốt lõi của bài viết: nút thắt của nền quản trị nằm ở năng lực thực thi và phối hợp thực chất, chứ không ở thiết kế thể chế hay cơ cấu tổ chức.
Biểu đồ 3. Doanh nghiệp gia nhập thị trường, 2024 – 2025

Trên phương diện cơ chế phối hợp và quản trị số, kết quả khảo sát của đề tài cho thấy mức độ phối hợp giữa Nhà nước, thị trường và xã hội chủ yếu ở mức khá tốt (43,1%) và trung bình (39,1%), trong khi chỉ 12,1% đánh giá ở mức rất tốt – tức đã có nền tảng hợp tác nhưng chưa đạt mức tích hợp chiến lược. Ở tầm quốc tế, các chỉ số tổng hợp phản ánh xu hướng cải thiện: Chỉ số phát triển Chính phủ điện tử (EGDI) của Liên Hợp quốc năm 2024 – kỳ đánh giá gần nhất – đưa Việt Nam lên hạng 71/193, tăng 15 bậc và lần đầu tiên vào nhóm “rất cao”; Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) năm 2025 xếp Việt Nam ở hạng 44/139 (Bảng 2). Tuy nhiên, một khoảng cách đáng chú ý vẫn tồn tại giữa khả năng cung ứng và mức độ sử dụng thực tế: tuy phần lớn thủ tục đã được đưa lên môi trường trực tuyến, tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến toàn trình mới đạt 48,84% và tỷ lệ hồ sơ trực tuyến toàn trình mới ở mức khoảng 39,98% (tháng 10/2025), tiếp tục nhích lên trong đầu năm 2026 nhưng vẫn dưới 50%. Đây chính là dư địa để nâng cao hiệu quả phối hợp và chất lượng phục vụ thông qua chuyển đổi số thực chất.
Bảng 2. Một số chỉ số phản ánh vai trò doanh nghiệp và quản trị số, 2025 – 2026
| Chỉ số | Giá trị | Kỳ | Nguồn |
| Doanh nghiệp gia nhập/tái gia nhập | 297.400 (+27,4%) | 2025 | Cục Thống kê |
| Doanh nghiệp thành lập mới | 111.700 (+22,5%) | 6T/2026 | Cục Thống kê |
| Tăng trưởng GDP | 8,18% | 6T/2026 | Cục Thống kê |
| PCI 2.0 – điểm trung vị | 63,90/100 | 2025 | VCCI |
| EGDI – Chính phủ điện tử | Hạng 71/193 | 2024 | Liên hợp quốc |
| GII – đổi mới sáng tạo | Hạng 44/139 | 2025 | WIPO |
| Hồ sơ trực tuyến toàn trình | ≈ 39,98% | 2025 | Bộ KH&CN |
3.3. Đánh giá chung
Năng lực của các chủ thể trong nền quản trị quốc gia ở Việt Nam đã cải thiện trên nhiều phương diện nhưng vẫn còn những khoảng cách so với yêu cầu. Đối với Nhà nước, khoảng trống lớn tập trung ở năng lực hoạch định chính sách, năng lực phối hợp, năng lực thực thi và năng lực thích ứng; điểm nghẽn cốt lõi nằm ở năng lực chức năng thực chất chứ không phải ở cơ cấu tổ chức bộ máy – nhận định này được củng cố bởi chính đánh giá của cộng đồng doanh nghiệp qua PCI 2025 về khoảng cách giữa thiết kế chính sách và năng lực thực thi ở cơ sở. Doanh nghiệp đã có vai trò tương đối rõ trong tham gia quản trị, trong khi vai trò của người dân còn hạn chế dù kỳ vọng của xã hội rất cao. Cơ chế phối hợp đa chủ thể mới ở mức trung bình, khá, chưa đạt mức tích hợp chiến lược; đồng thời còn tồn tại các nghịch lý cần lưu ý, như nhiều chỉ số quản trị cải thiện nhưng mức hài lòng (SIPAS 2025) giảm nhẹ trong kỳ chuyển đổi và quan ngại về tham nhũng gia tăng, hay dịch vụ công đã được số hóa rộng rãi nhưng tỷ lệ sử dụng trực tuyến thực tế còn thấp.
Phát hiện rằng điểm nghẽn cốt lõi nằm ở năng lực chức năng thực chất chứ không phải ở cơ cấu tổ chức có ý nghĩa định hướng rất rõ đối với các giải pháp. Nó cho thấy sau khi đã cơ bản hoàn thành việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, trọng tâm của giai đoạn tới phải chuyển sang nâng cao năng lực vận hành thực chất, đặc biệt là năng lực hoạch định chính sách và năng lực điều phối. Đây là những năng lực khó xây dựng hơn, đòi hỏi thời gian dài hơn và cách tiếp cận khác so với việc sắp xếp tổ chức, nhưng lại có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng của nền quản trị. Việc phát huy vai trò chủ thể của người dân, doanh nghiệp và tổ chức xã hội cũng cần được coi là một cấu phần của năng lực quản trị tổng thể, chứ không chỉ là yêu cầu về dân chủ.
4. Một số giải pháp nâng cao năng lực của các chủ thể trong nền quản trị quốc gia
Từ thực trạng nêu trên, việc nâng cao năng lực của các chủ thể cần được triển khai đồng thời trên hai hướng bổ sung cho nhau: (i) hướng vào năng lực nội tại của bộ máy nhà nước, (2) bồi đắp và phát huy năng lực của các chủ thể ngoài nhà nước, trên nền tảng chung là quản trị dựa trên dữ liệu và đo lường được năng lực quản trị. Cách tiếp cận này phản ánh đúng bản chất đa chủ thể của nền quản trị quốc gia hiện đại, trong đó sức mạnh của nền quản trị là sức mạnh tổng hợp của cả Nhà nước, thị trường và xã hội.
4.1. Xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn, thông minh và nền công vụ chuyên nghiệp, thực tài
Sau khi cơ bản hoàn thành việc tinh gọn tổ chức bộ máy, yêu cầu đặt ra là chuyển từ bộ máy tinh gọn sang bộ máy tinh gọn và thông minh, nhằm nâng cao hiệu suất vận hành thực chất và năng lực kiến tạo phát triển. Bộ máy quản trị thông minh cần hội đủ các thuộc tính cơ bản: vận hành trên nền tảng dữ liệu, kết nối liên thông, không trùng lặp chức năng, nhiệm vụ; có năng lực ra quyết định dựa trên bằng chứng, dữ liệu và phân tích dự báo với sự hỗ trợ của trí tuệ nhân tạo; có khả năng tự điều chỉnh thông qua phản hồi từ người dân, doanh nghiệp và kết quả thực thi; đo lường được hiệu suất của từng cơ quan, từng vị trí việc làm bằng các chỉ số đầu ra, kết quả và tác động; bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình trên môi trường số.
Điều kiện tiên quyết để vận hành bộ máy đó là chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức. Theo đó, cần đổi mới tuyển dụng, sử dụng và đánh giá cán bộ, công chức theo vị trí việc làm và theo kết quả thực hiện nhiệm vụ; thu hút, trọng dụng nhân tài vào khu vực công; hình thành các đơn vị tham mưu chính sách chuyên trách nhằm nâng cao năng lực phân tích, hoạch định chính sách dựa trên bằng chứng; ban hành và áp dụng khung năng lực số như một tiêu chí bắt buộc trong tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng và bổ nhiệm. Định hướng này cụ thể hóa tinh thần Văn kiện Đại hội XIV của Đảng về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Cùng với việc nâng cao năng lực, cần thể chế hóa thực chất và tổ chức thực hiện hiệu quả chủ trương khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; xác lập rõ ranh giới pháp lý giữa sai sót do đổi mới, thử nghiệm với vi phạm do vụ lợi, khắc phục tâm lý né tránh rủi ro vốn là một trở ngại đối với việc phát huy năng lực của đội ngũ.
4.2. Phát huy vai trò và nâng cao năng lực tham gia của người dân, doanh nghiệp, tổ chức xã hội
Việc phát huy vai trò của các chủ thể ngoài nhà nước cần được thực hiện trên cả hai phương diện: hoàn thiện cơ chế tham gia và bồi đắp năng lực tham gia. Về cơ chế, cần chuyển từ hình thức tham vấn mang tính thủ tục sang cơ chế tham gia thực chất, có giá trị ràng buộc, theo phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng; phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội; hoàn thiện cơ chế hợp tác công – tư; mở rộng công khai, minh bạch thông tin và phát triển dữ liệu mở; thiết lập cơ chế giải trình hai chiều, trong đó cơ quan nhà nước có trách nhiệm giải trình công khai về việc tiếp thu hoặc không tiếp thu ý kiến của người dân, doanh nghiệp và tổ chức xã hội.
Về năng lực, sự tham gia chỉ thực chất khi các chủ thể ngoài nhà nước có đủ năng lực để tham gia. Đối với người dân, cần phát triển năng lực công dân số, nâng cao hiểu biết pháp luật, khả năng tham gia quản trị xã hội, giám sát hoạt động công quyền và đồng kiến tạo các dịch vụ công, đây cũng là điều kiện để thu hẹp khoảng cách giữa khả năng cung ứng dịch vụ công trực tuyến và mức độ sử dụng thực tế còn thấp hiện nay. Đối với doanh nghiệp và tổ chức xã hội, cần tăng cường năng lực tham gia xây dựng, thực thi và giám sát chính sách; thúc đẩy các thiết chế đối thoại công – tư và cơ chế hợp tác nhiều bên. Nếu chỉ hoàn thiện cơ chế mà không đồng thời bồi đắp năng lực, sự tham gia của các chủ thể ngoài nhà nước sẽ khó vượt qua tính hình thức.
4.3. Hoàn thiện nền tảng bảo đảm thông qua quản trị dựa trên dữ liệu và đo lường năng lực quản trị quốc gia
Trước hết, cần đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, xây dựng hạ tầng dữ liệu quốc gia liên thông và phát triển Chính phủ số theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW, chuyển từ phương thức điều hành dựa trên hồ sơ, thủ tục sang phương thức quản trị dựa trên dữ liệu và kết quả, lấy sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm thước đo hiệu quả.
Hai là, từng bước hình thành Khung đánh giá năng lực quản trị quốc gia Việt Nam, tích hợp các chỉ số hiện có và bảo đảm khả năng đối sánh với các bộ chỉ số quốc tế, bởi việc đo lường được năng lực quản trị là điều kiện tiên quyết để quản trị dựa trên kết quả trở thành thực chất.
Ba là, cần nhận thức rằng đầu tư cho hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực quản trị không phải là chi phí hành chính, mà là khoản đầu tư có hiệu suất và tác động lâu dài đối với phát triển.
5. Kết luận
Năng lực của các chủ thể là yếu tố quyết định hiệu quả vận hành của nền quản trị quốc gia phục vụ phát triển. Thực tiễn Việt Nam cho thấy điểm nghẽn cốt lõi không nằm ở cơ cấu tổ chức bộ máy, vốn đã cơ bản được sắp xếp lại, mà ở năng lực chức năng thực chất, đặc biệt là năng lực hoạch định chính sách và năng lực phối hợp, điều phối; đồng thời, vai trò tham gia của người dân còn hạn chế so với kỳ vọng của xã hội. Do đó, giai đoạn tới cần chuyển trọng tâm sang nâng cao năng lực vận hành thực chất của bộ máy nhà nước, xây dựng nền công vụ chuyên nghiệp, thực tài, và phát huy đầy đủ vai trò chủ thể của người dân, doanh nghiệp, tổ chức xã hội trên nền tảng quản trị dựa trên dữ liệu và đo lường được năng lực quản trị. Đây là những năng lực khó xây dựng và cần thời gian, nhưng có ý nghĩa quyết định để nền quản trị quốc gia phát huy sức mạnh tổng hợp, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
Bộ Nội vụ (2026). Chỉ số hài lòng về sự phục vụ hành chính (SIPAS) và Chỉ số cải cách hành chính (PAR Index) năm 2025, Hà Nội.
Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP), CECODES và cộng sự (2025). Chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI) 2024, Hà Nội.
Cục Thống kê, Bộ Tài chính (2026). Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, Hà Nội.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) (2026). Báo cáo Kinh tế tư nhân Việt Nam và Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2025, Hà Nội.
Fukuyama, F. (2013). What Is Governance? Governance, Vol. 26, No. 3, pp. 347 – 368.
United Nations (2024). E-Government Survey 2024. New York.
WIPO (2025). Global Innovation Index 2025. Geneva.



