Đẩy mạnh chuyển đổi số nhằm nâng cao hiệu quả vận hành của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam

Promoting digital transformation to enhance the operational efficiency of Vietnam’s two-tier local government system

ThS. Nguyễn Minh Thắng
Trường Chính trị Nguyễn Văn Linh
Email: minhthang.tct@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Việc vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam đặt ra yêu cầu đổi mới căn bản phương thức quản trị địa phương, trong đó chuyển đổi số không chỉ là công cụ hỗ trợ kỹ thuật mà còn được xem là điều kiện bảo đảm cho mô hình mới hoạt động thông suốt, minh bạch và hiệu quả. Kể từ khi chính quyền địa phương hai cấp đi vào vận hành, quan hệ giữa cấp tỉnh và cấp xã đòi hỏi phải được tổ chức lại trên nền tảng dữ liệu số, dịch vụ công trực tuyến, cơ chế một cửa điện tử, liên thông hệ thống và năng lực xử lý công việc trên môi trường số. Do đó, việc phân tích thực trạng triển khai và bước đầu nhận diện các điểm nghẽn về ứng dụng chuyển đổi số trong vận hành chính quyền địa phương hai cấp là việc làm cần thiết. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả quản trị công trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp.

Từ khóa: Chính quyền địa phương hai cấp; chuyển đổi số; chính quyền số; dịch vụ công trực tuyến; dữ liệu số.

Abstract: The operation of the two-tier local government model in Vietnam necessitates a fundamental renewal of local governance methods, in which digital transformation is not merely a technical support tool but is also regarded as a prerequisite for ensuring that the new model operates smoothly, transparently, and effectively. Since the two-tier local government system came into operation, the relationship between the provincial and commune levels has required reorganization on the basis of digital data, online public services, electronic one-stop mechanisms, system interoperability, and the capacity to handle work in a digital environment. Therefore, analyzing the current state of implementation and initially identifying bottlenecks in the application of digital transformation to the operation of the two-tier local government system is necessary. On this basis, solutions are proposed to contribute to improving the effectiveness of public governance within the two-tier local government model.

Keywords: Two-tier local government; digital transformation; digital government; online public services; digital data.

1. Đặt vấn đề

Việc tổ chức chính quyền địa phương hai cấp là bước chuyển đổi lớn trong cải cách tổ chức bộ máy nhà nước ở Việt Nam. Về bản chất, đây không chỉ là việc kết thúc hoạt động của cấp huyện như một tầng nấc trung gian mà là sự tái cấu trúc quan hệ quản trị giữa Trung ương, cấp tỉnh và cấp xã. Trong cấu trúc mới, cấp xã trở thành cấp thực thi trực tiếp nhiều nhiệm vụ quản lý nhà nước và cung ứng dịch vụ công hơn trước. Cấp tỉnh được tăng cường vai trò điều phối, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát và hỗ trợ cấp xã. Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho mô hình này, trong đó nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm không làm gián đoạn hoạt động bình thường của xã hội, người dân và doanh nghiệp khi chuyển đổi mô hình.

Từ thực tiễn sau hơn 1 năm vận hành, có thể thấy, chuyển đổi số vừa tạo cơ hội nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp, vừa đặt ra nhiều thách thức mới. Cơ hội nằm ở khả năng rút ngắn quy trình, công khai tiến độ xử lý hồ sơ, nâng cao trách nhiệm giải trình, hỗ trợ chỉ đạo điều hành theo dữ liệu và giảm chi phí tiếp cận dịch vụ công. Trong khi đó, thách thức nằm ở hạ tầng số chưa đồng đều, dữ liệu còn phân tán, phần mềm chuyên ngành thiếu liên thông, năng lực số của cán bộ cấp xã chưa đồng đều và nguy cơ phát sinh khoảng cách số đối với người dân vùng sâu, vùng xa, người cao tuổi, nhóm yếu thế về năng lực công nghệ.

2. Thực tiễn ứng dụng chuyển đổi số trong vận hành chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam

2.1. Những kết quả tích cực

Sau khi mô hình chính quyền địa phương hai cấp chính thức đi vào vận hành, chuyển đổi số đã bước đầu trở thành điều kiện quan trọng giúp duy trì sự thông suốt trong chỉ đạo, điều hành, giải quyết thủ tục hành chính, cung ứng dịch vụ công, giám sát tiến độ xử lý công việc và nâng cao trách nhiệm phục vụ người dân, doanh nghiệp. Nếu trong mô hình trước đây, cấp huyện giữ vai trò trung gian trong nhiều quy trình hành chính thì trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay, khả năng kết nối trực tiếp giữa cấp tỉnh và cấp xã phụ thuộc ngày càng lớn vào hệ thống dữ liệu, phần mềm, dịch vụ công trực tuyến, cơ chế một cửa điện tử và nền tảng điều hành số. Những chuyển biến tích cực này có thể được nhìn nhận ở các góc độ sau:

Thứ nhất, chuyển đổi số đã góp phần duy trì sự thông suốt trong cung ứng dịch vụ hành chính công.

Đây là kết quả có ý nghĩa cơ bản, bởi trong bất kỳ cuộc cải cách tổ chức bộ máy nào, nguy cơ thường gặp là gián đoạn dịch vụ công, lúng túng trong tiếp nhận hồ sơ, kéo dài thời gian xử lý hoặc “đứt gãy” trách nhiệm giữa các cấp chính quyền. Trong bối cảnh cấp huyện không còn là cấp chính quyền địa phương, việc tiếp nhận, xử lý và trả kết quả thủ tục hành chính phụ thuộc trực tiếp vào năng lực vận hành của cấp xã và khả năng hỗ trợ, giám sát, điều phối của cấp tỉnh. Vì vậy, hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính, Cổng Dịch vụ công quốc gia, chữ ký số, số hóa hồ sơ, quy trình điện tử và cơ chế một cửa điện tử đóng vai trò như “hạ tầng vận hành” của mô hình mới.

Số liệu cập nhật về tình hình vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp tại Nghị quyết số 268/NQ-CP ngày 31/8/2025 của Chính phủ cho thấy, chuyển đổi số đã góp phần bảo đảm dòng chảy dịch vụ công trong giai đoạn đầu vận hành. Cụ thể, từ ngày 01/7/2025 – 23/8/2025, tổng số hồ sơ tiếp nhận của 34 tỉnh, thành phố là 6,5 triệu hồ sơ thủ tục hành chính, trong đó cấp xã tiếp nhận 4,8 triệu hồ sơ. Tỷ lệ hồ sơ trực tuyến đạt 73,8%; 80% tổng số hồ sơ tiếp nhận đã được trả kết quả cho người dân, trong đó 72% hồ sơ đúng hoặc trước hạn. Một số địa phương có số lượng hồ sơ lớn như: TP. Hồ Chí Minh với 753.000 hồ sơ, Hà Nội: 500.000 hồ sơ, Hải Phòng: 325 nghìn hồ sơ, Đồng Nai: 320.000 hồ sơ, Nghệ An: 270.000 hồ sơ, Thanh Hóa: 269.000 hồ sơ, Đắk Lắk: 251.000 hồ sơ (Báo điện tử Chính phủ, 10/9/2025).

Kết quả tích cực này cũng thể hiện ở một số địa phương cụ thể. Tại Đắk Lắk, chỉ trong tuần đầu từ ngày 01/7 – 06/7/2025, toàn tỉnh đã tiếp nhận 6.270 hồ sơ thủ tục hành chính, trong đó có 3.264 hồ sơ trực tuyến một phần và 3.006 hồ sơ trực tuyến toàn trình. Đây là tín hiệu cho thấy, việc vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp không làm gián đoạn ngay hoạt động tiếp nhận và xử lý thủ tục hành chính ở cơ sở, mà còn phản ánh vai trò của hệ thống dịch vụ công trực tuyến trong hỗ trợ các xã, phường sau sắp xếp (Kim Bảo, 11/7/2025).

Thứ hai, dịch vụ công trực tuyến, cơ chế một cửa điện tử và Cổng Dịch vụ công quốc gia bước đầu rút ngắn khoảng cách hành chính giữa chính quyền với người dân, doanh nghiệp.

Nếu việc sắp xếp đơn vị hành chính làm cho nhiều xã, phường có quy mô dân số và diện tích lớn hơn thì dịch vụ công trực tuyến có khả năng bù đắp một phần khoảng cách địa lý bằng cách tạo thêm kênh tiếp cận thủ tục hành chính ngoài tiếp xúc trực tiếp. Người dân, doanh nghiệp có thể nộp hồ sơ, theo dõi tiến độ, nhận thông báo, phản ánh vướng mắc và giám sát quá trình giải quyết thủ tục qua môi trường số.

Chính phủ đã ban hành Nghị định số 118/2025/NĐ-CP ngày 09/6/2025 về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia. Nghị định quy định Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính cấp bộ, cấp tỉnh phải được xây dựng tập trung, thống nhất để hỗ trợ giải quyết, theo dõi, đánh giá chất lượng thực hiện thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền của bộ, cơ quan ngang bộ và UBND các cấp. Đồng thời, phải bảo đảm khả năng tích hợp với Cổng Dịch vụ công quốc gia, cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, hệ thống định danh và xác thực điện tử. Đây là cơ sở quan trọng để chuyển cơ chế một cửa từ mô hình tổ chức tiếp nhận hồ sơ thành cơ chế phục vụ dựa trên dữ liệu và liên thông điện tử.

Tại Cần Thơ, sau một năm vận hành mô hình chính quyền hai cấp, cấp xã đang thực hiện 457 thủ tục hành chính, trong đó có 214 thủ tục hành chính cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình và 243 thủ tục hành chính trực tuyến một phần. Tỷ lệ sử dụng hệ thống số trong giao việc và theo dõi thực hiện đạt 100%. Nhiều thủ tục thường xuyên, như: hộ tịch, chứng thực, bảo trợ xã hội, đăng ký biến động đất đai thông thường, cấp phép xây dựng nhà ở riêng lẻ, vệ sinh môi trường và bảo đảm an ninh trật tự cơ sở được phản ánh là giải quyết thuận lợi hơn (Lê Sơn, 30/5/2026). Những số liệu này cho thấy, dịch vụ công trực tuyến không chỉ làm thay đổi phương thức nộp hồ sơ mà còn làm thay đổi cách cấp xã tổ chức công việc, theo dõi nhiệm vụ và phục vụ người dân trong các lĩnh vực thiết yếu.

Thứ ba, dữ liệu số, liên thông hệ thống và các nền tảng điều hành đã hỗ trợ cấp tỉnh giám sát, hướng dẫn, điều phối cấp xã.

Mô hình chính quyền địa phương hai cấp làm thay đổi logic điều hành từ “qua tầng trung gian hành chính” sang “điều hành trực tiếp dựa trên dữ liệu và nền tảng số”. Do đó, dữ liệu không chỉ là kết quả của số hóa hồ sơ mà trở thành công cụ để cấp tỉnh nắm bắt tình hình cơ sở, phát hiện điểm nghẽn, kiểm soát hồ sơ quá hạn, hỗ trợ nghiệp vụ, phân bổ nguồn lực và điều chỉnh quy trình. Thực tiễn tại Đắk Lắk, ngày 10/7/2025, tỉnh công bố 4 nền tảng số phục vụ hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp, gồm: nền tảng AI hỗ trợ người dân tra cứu thông tin, nộp hồ sơ và theo dõi tiến độ giải quyết thủ tục hành chính công; nền tảng dịch vụ công trực tuyến; dashboard điều hành tích hợp nhằm tổng hợp, giám sát và hỗ trợ điều hành nhiệm vụ từ cấp tỉnh đến cấp xã; hệ thống tiếp nhận, xử lý phản ánh cộng đồng nhằm phân loại, chuyển tiếp phản ánh của người dân để xử lý kịp thời (Tuấn Hải, 10/7/2025). Cấu trúc này cho thấy, một mô hình quản trị số khá rõ: người dân có kênh tương tác, chính quyền có kênh điều hành, cấp tỉnh có công cụ giám sát, cấp xã có nền tảng tiếp nhận và xử lý công việc.

Tại Hà Nội, sau một năm vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, thành phố đã giảm từ 526 xã, phường, thị trấn xuống còn 126 xã, phường. Thành phố đã rà soát 2.007 nhiệm vụ quản lý nhà nước, trong đó cấp xã thực hiện 928 nhiệm vụ; phân cấp, ủy quyền 160 nhiệm vụ cho cấp xã; triển khai 664 thủ tục hành chính theo cơ chế ủy quyền và thực hiện 2.077 thủ tục hành chính trên toàn địa bàn. Hà Nội cũng đã từng bước đổi mới phương thức lãnh đạo, quản trị và điều hành theo hướng trực tiếp, liên thông, dựa trên dữ liệu, bám sát thực tiễn cơ sở và lấy người dân làm trung tâm (Gia Huy, 04/6/2026). Xét ở góc độ quản trị công, các số liệu này cho thấy, chuyển đổi số không tách rời phân quyền, phân cấp mà ngược lại, dữ liệu và nền tảng số đang là điều kiện để phân quyền có thể được kiểm soát, theo dõi và đánh giá tốt hơn.

Thứ tư, một số địa phương bước đầu hình thành mô hình chính quyền số cấp xã, đổi mới phương thức phục vụ và nâng cao trách nhiệm giải trình trong môi trường số.

Tại Hà Nội, phường Cửa Nam được ghi nhận là mô hình “phường thông minh” đầu tiên của Thủ đô kết hợp giữa AI và tương tác trực tiếp. Sau 45 ngày triển khai chiến dịch hỗ trợ chuyển đổi số tại các xã, phường trong giai đoạn đầu vận hành mô hình hai cấp, phường đã kiện toàn 28 tổ chuyển đổi số cộng đồng với 193 thành viên, đưa robot AI vào hoạt động tại bộ phận một cửa. Robot này vừa tư vấn, phát số thứ tự, vừa hỗ trợ khảo sát sự hài lòng của công dân. Tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến của phường tăng từ 34% lên 89%, 100% hồ sơ trực tuyến được giải quyết đúng hạn (Gia Huy, 25/9/2025). Việc ứng dụng robot AI cũng đã thể hiện chính quyền cơ sở đã chủ động kết hợp công nghệ với hỗ trợ trực tiếp, nhất là đối với người cao tuổi và nhóm yếu thế về năng lực số.

Tại thành phố Huế, qua khảo sát của Bộ Khoa học và Công nghệ tại phường An Cựu, mô hình chính quyền địa phương hai cấp bước đầu vận hành hiệu quả, nhất là trong cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số, với 100% người dân tham gia khảo sát nhanh tại chỗ bày tỏ hài lòng. Công tác lưu trữ, số hóa dữ liệu và truyền thông chủ trương đến người dân được chú trọng, góp phần tăng tính minh bạch và hiệu quả phục vụ (Nhật Anh, 13/8/2025). Minh chứng này cho thấy, chuyển đổi số có thể tạo ra hiệu ứng tích cực đối với sự hài lòng của người dân khi đi kèm tổ chức phục vụ tốt, hướng dẫn rõ ràng và quy trình minh bạch.

2.2. Một số hạn chế, bất cập

Mặc dù chuyển đổi số đã góp phần duy trì sự thông suốt trong cung ứng dịch vụ công, hỗ trợ chỉ đạo, điều hành, giám sát và từng bước đổi mới phương thức phục vụ người dân, doanh nghiệp, nhưng quá trình vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp vẫn bộc lộ không ít hạn chế. Các hạn chế này không chỉ thuộc về kỹ thuật mà còn liên quan đến thể chế dữ liệu, hạ tầng số, phần mềm chuyên ngành, năng lực số của cán bộ cấp xã, cơ chế phối hợp giữa cấp tỉnh và cấp xã, an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân và khả năng tiếp cận công bằng của người dân, cụ thể:

Một là, hạ tầng số, phần mềm chuyên ngành và khả năng liên thông hệ thống chưa đồng bộ, ảnh hưởng đến tính thông suốt trong vận hành mô hình hai cấp.

Trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp, cấp xã phải trực tiếp tiếp nhận, xử lý và trả kết quả nhiều thủ tục hành chính hơn trước. Do đó, nếu hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính, phần mềm một cửa, chữ ký số, tài khoản nghiệp vụ, đường truyền internet, thiết bị đầu cuối và phần mềm chuyên ngành chưa vận hành ổn định, điểm nghẽn rất dễ phát sinh ngay tại cấp gần dân nhất. Trước thời điểm mô hình hai cấp chính thức vận hành, Chính phủ đã chỉ ra nhiều nhiệm vụ kỹ thuật còn chậm: đến ngày 27/6/2025 mới có 9/34 địa phương hoàn thành công bố, công khai danh mục thủ tục hành chính; 11/34 địa phương chưa hoàn thành cấp tài khoản cho cán bộ, công chức; 22/34 địa phương chưa hoàn thành cấp chữ ký số; 06/34 địa phương chưa hoàn thành tập huấn, hướng dẫn sử dụng hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính; 4/34 địa phương chưa hoàn thành bố trí trụ sở, phương tiện và điều kiện làm việc cho cơ quan, đơn vị cấp xã mới (Báo điện tử Chính phủ, 28/6/2025).

Thực tiễn đó cho thấy, những khó khăn này không chỉ là vấn đề chuẩn bị ban đầu, mà còn là biểu hiện của sự chưa đồng bộ giữa cải cách tổ chức bộ máy và năng lực hạ tầng số. Tại Đắk Lắk, sau 15 ngày vận hành chính quyền cấp xã mới, một số địa phương xuất hiện tình trạng phần mềm hành chính bị treo, kết nối yếu, thiếu con dấu chuyên môn, cơ sở làm việc còn tạm bợ; có nơi phải vừa nhập hồ sơ trên hệ thống, vừa xử lý thủ công để kịp giải quyết nhu cầu của người dân (Báo điện tử Tiếng nói Việt Nam, 19/7/2025). Những biểu hiện này cho thấy chuyển đổi số nếu chỉ dừng ở triển khai phần mềm rời rạc thì chưa tạo thành năng lực vận hành số.

Hai là, dữ liệu số còn phân tán, chất lượng chưa đồng đều, chưa hình thành đầy đủ cơ sở dữ liệu dùng chung phục vụ quản trị cấp xã.

Dữ liệu là nền tảng của chính quyền số, nhưng trong thực tiễn, nhiều cơ sở dữ liệu chuyên ngành vẫn được tổ chức theo bộ, ngành, địa phương; chuẩn dữ liệu, cơ chế chia sẻ và khả năng tái sử dụng dữ liệu chưa thật sự thống nhất. Điều này làm giảm hiệu quả của dịch vụ công trực tuyến, bởi người dân vẫn có thể phải cung cấp lại những thông tin Nhà nước đã có, còn cán bộ cấp xã phải nhập liệu nhiều lần, đối chiếu thủ công hoặc chờ xác minh từ cơ quan chuyên ngành. Nghị định số 118/2025/NĐ-CP ngày 09/6/2025 của Chính phủ đã đặt ra yêu cầu hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính cấp bộ, cấp tỉnh phải được xây dựng tập trung, thống nhất, có khả năng tích hợp với Cổng Dịch vụ công quốc gia, cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, hệ thống định danh và xác thực điện tử.

Tuy nhiên, từ yêu cầu chính sách đến năng lực vận hành thực tế vẫn còn khoảng cách đáng kể. Nghị quyết số 268/NQ-CP yêu cầu Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì xây dựng hạ tầng thông tin, hạ tầng số tập trung, hiện đại, kết nối; bảo đảm dữ liệu “đúng – đủ – sạch – sống”; ban hành kiến trúc hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính cấp bộ, cấp tỉnh; đồng thời hướng dẫn các địa phương sáp nhập, hợp nhất hạ tầng, dữ liệu để bảo đảm thông suốt trong giải quyết thủ tục hành chính. Việc Chính phủ phải nhấn mạnh yêu cầu này cho thấy, dữ liệu chưa đồng bộ là một điểm nghẽn có tính hệ thống. Nếu dữ liệu không được chuẩn hóa, liên thông và tái sử dụng, mô hình chính quyền địa phương hai cấp tuy rút ngắn tầng nấc tổ chức nhưng vẫn có thể tạo thêm tầng nấc xử lý trên môi trường số. Khi đó, chuyển đổi số không làm giảm gánh nặng hành chính mà có thể làm phát sinh tình trạng “điện tử hóa thủ tục cũ”, tức là quy trình vẫn phức tạp, chỉ thay đổi phương tiện thực hiện.

Ba là, năng lực số của cán bộ, công chức cấp xã chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu, nhiệm vụ mới trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp.

Sau khi bỏ cấp huyện, cấp xã không chỉ tiếp nhận nhiều thủ tục hơn mà còn phải xử lý các nhiệm vụ phức tạp hơn, sử dụng nhiều phần mềm hơn, tương tác thường xuyên hơn với người dân trên môi trường số và chịu áp lực lớn hơn về tiến độ, chất lượng, trách nhiệm giải trình. Trong khi đó, năng lực số của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã chưa đồng đều; một bộ phận cán bộ còn lúng túng trong sử dụng phần mềm, số hóa hồ sơ, khai thác dữ liệu dân cư, hướng dẫn người dân nộp hồ sơ trực tuyến, xử lý phản ánh kiến nghị, bảo đảm an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Bộ Nội vụ cho biết, sau một năm vận hành, mô hình chính quyền địa phương hai cấp cơ bản ổn định, thông suốt, nhưng vẫn cần tiếp tục tháo gỡ vướng mắc về tổ chức bộ máy, phân cấp, phân quyền và bố trí nhân lực; đồng thời triển khai Đề án bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã giai đoạn 2026-2031 và xây dựng hệ thống học liệu số dùng chung trên nền tảng “Bình dân học vụ số” (Thu Giang, 09/7/2026). Thủ tướng Chính phủ cũng đã phê duyệt Quyết định số 700/QĐ-TTg về Đề án tăng cường bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức ở xã, phường, đặc khu đáp ứng yêu cầu vận hành chính quyền địa phương hai cấp giai đoạn 2026 – 2031.

Hay như tại Đắk Lắk, tỉnh thiếu hơn 2.300 cán bộ, công chức cấp xã so với số biên chế được giao. Nhiều địa phương bố trí công chức chưa phù hợp chuyên môn, nhất là trong các lĩnh vực y tế, giáo dục và công nghệ thông tin (Báo điện tử Tiếng nói Việt Nam, 19/7/2025a). Ở xã Ea Knốp, Trung tâm Phục vụ hành chính công được biên chế 9 công chức nhưng khoảng 60% phải làm trái chuyên ngành, dẫn đến lúng túng trong xử lý hồ sơ. Khó khăn phát sinh sau 15 ngày vận hành chính quyền cấp xã mới tại Đắk Lắk (Báo điện tử VOV, 19/7/2025b). Thực tế này cho thấy, chuyển đổi số không thể thành công nếu chỉ đầu tư nền tảng mà không nâng cấp năng lực con người. Trong mô hình hai cấp, cán bộ, công chức cấp xã là điểm chuyển hóa chính sách số thành trải nghiệm thực tế của người dân. Nếu cán bộ, công chức chưa đủ năng lực số, dịch vụ công trực tuyến dễ rơi vào tình trạng hình thức.

Bốn là, nguy cơ gia tăng khoảng cách số và rủi ro về an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân trong quá trình mở rộng chính quyền số cấp xã.

Chuyển đổi số có thể giúp rút ngắn khoảng cách hành chính, nhưng đồng thời cũng có thể tạo ra khoảng cách số mới nếu người dân thiếu thiết bị, thiếu kỹ năng số, thiếu kết nối internet hoặc không được hỗ trợ đầy đủ khi sử dụng dịch vụ công trực tuyến. Hạn chế này được thể hiện rõ ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, khu vực nông thôn, người cao tuổi, người khuyết tật, hộ nghèo và nhóm ít có điều kiện tiếp cận công nghệ. Trong mô hình hai cấp, sau sắp xếp đơn vị hành chính, nhiều xã có diện tích rộng hơn, dân số đông hơn, khoảng cách từ nơi cư trú đến trung tâm hành chính cấp xã có thể tăng lên. Dịch vụ công trực tuyến có thể bù đắp khoảng cách địa lý, nhưng chỉ phát huy hiệu quả khi có hạ tầng mạng ổn định, giao diện dễ sử dụng, cán bộ hỗ trợ trực tiếp và tổ chuyển đổi số cộng đồng.

Trên thực tế, một số địa phương đã phải huy động lực lượng hỗ trợ người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến, qua đó gián tiếp phản ánh khoảng cách số vẫn là vấn đề tồn tại. Chẳng hạn, tại Huế, trong những ngày đầu vận hành mô hình chính quyền hai cấp, thành phố đã huy động 891 đoàn viên thanh niên, sinh viên các trường đại học về nghỉ hè tại địa phương để tăng cường nguồn lực công nghệ thông tin và hỗ trợ người dân thực hiện dịch vụ công trực tuyến tại các điểm tiếp nhận, giải quyết hồ sơ (Báo điện tử Chính phủ, 15/7/2025). Ở góc độ tích cực, đây là sáng kiến hỗ trợ người dân, nhưng ở góc độ khách quan, nó cho thấy dịch vụ công trực tuyến chưa thể vận hành tự nhiên với mọi nhóm dân cư nếu thiếu sự trợ giúp trực tiếp ở thời điểm chuyển đổi.

Cùng với khoảng cách số, rủi ro an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân cũng trở nên cấp thiết hơn. Khi chính quyền cấp xã xử lý ngày càng nhiều dữ liệu dân cư, hộ tịch, đất đai, tài chính, bảo hiểm, y tế, giáo dục, phản ánh kiến nghị và hồ sơ cá nhân trên môi trường số, yêu cầu phân quyền truy cập, kiểm soát sử dụng dữ liệu, lưu trữ hồ sơ điện tử và phòng ngừa lộ lọt thông tin phải được đặt ở vị trí trung tâm. Nghị định số 13/2023/NĐ-CP về bảo vệ dữ liệu cá nhân quy định các biện pháp bảo vệ dữ liệu gồm biện pháp quản lý, biện pháp kỹ thuật và biện pháp của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền. Qua đó cho thấy, bảo vệ dữ liệu không chỉ là trách nhiệm kỹ thuật của hệ thống, mà còn là trách nhiệm tổ chức và quản trị của cơ quan xử lý dữ liệu. Vì vậy, mở rộng chính quyền số cấp xã phải đi cùng nguyên tắc bao trùm và an toàn. Nếu không, chuyển đổi số có thể đồng thời làm gia tăng bất bình đẳng tiếp cận và rủi ro dữ liệu trong quản trị cơ sở.

3.  Một số giải pháp

Một là, cần hoàn thiện thể chế, quy trình và tiêu chuẩn dữ liệu phục vụ vận hành chính quyền địa phương hai cấp.

Giải pháp này xuất phát từ hạn chế về quy trình số, thể chế dữ liệu và khả năng liên thông còn chưa đồng bộ. Trong mô hình hai cấp, nếu các nhiệm vụ đã được phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền nhưng chưa được chuyển hóa thành quy trình điện tử rõ ràng, cấp xã sẽ dễ rơi vào tình trạng “được giao việc nhưng thiếu quy trình thực thi”, còn cấp tỉnh khó giám sát tiến độ và chất lượng xử lý công việc. Do đó, cần phối hợp rà soát toàn bộ quy định về phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền để chuẩn hóa thành quy trình số có thể thực hiện, theo dõi, kiểm tra và đánh giá.

Nhiệm vụ trọng tâm trước mắt là chuẩn hóa quy trình điện tử đối với các nhóm thủ tục có khối lượng lớn, liên quan trực tiếp đến người dân và có rủi ro pháp lý cao như đất đai, hộ tịch, chứng thực, xây dựng, tài chính, bảo trợ xã hội, đăng ký kinh doanh, tiếp công dân và xử lý phản ánh, kiến nghị. Mỗi quy trình cần xác định rõ đầu mối tiếp nhận, cơ quan xử lý, thời hạn, dữ liệu đầu vào, dữ liệu đầu ra, trách nhiệm của từng vị trí công vụ, cơ chế xin ý kiến chuyên ngành và phương thức kiểm soát hồ sơ quá hạn. Đây cũng là yêu cầu của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 về tổ chức chính quyền địa phương tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số, bảo đảm trách nhiệm giải trình gắn với kiểm soát quyền lực.

Cùng với đó, cần ban hành và thực thi thống nhất các tiêu chuẩn dữ liệu, chuẩn kết nối, chuẩn chia sẻ, chuẩn lưu trữ hồ sơ điện tử giữa Trung ương, cấp tỉnh và cấp xã. Nghị quyết số 268/NQ-CP cũng đã yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tiếp tục rà soát quy định về phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền; đồng thời yêu cầu phát triển hạ tầng số tập trung, hiện đại, kết nối, bảo đảm dữ liệu “đúng – đủ – sạch – sống” và kiến trúc hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính cấp bộ, cấp tỉnh. Qua đó, hướng tới mục tiêu giảm tình trạng xử lý thủ công song song với xử lý điện tử, hạn chế khác biệt giữa các địa phương, tăng khả năng kiểm soát tiến độ, xác định trách nhiệm và nâng cao chất lượng phục vụ.

Hai là, xây dựng, kết nối và khai thác cơ sở dữ liệu dùng chung giữa Trung ương, cấp tỉnh và cấp xã.

Thời gian tới, cần tiếp tục kết nối cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư với cơ sở dữ liệu hộ tịch, đất đai, doanh nghiệp, bảo hiểm, y tế, giáo dục, cán bộ, tài chính, tài sản công và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác. Đồng thời, hình thành kho dữ liệu dùng chung cấp tỉnh phục vụ điều hành chính quyền địa phương hai cấp. Chính phủ, các bộ, ngành hữu quan và UBND cấp tỉnh, cấp xã cần xác định rõ trách nhiệm cập nhật, làm sạch, chuẩn hóa, chia sẻ và khai thác dữ liệu. Quyết định số 06/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022-2025, tầm nhìn đến năm 2030 là căn cứ quan trọng để thúc đẩy tái sử dụng dữ liệu trong giải quyết thủ tục hành chính, phục vụ người dân và doanh nghiệp.

Để thực hiện hiệu quả giải pháp này, cần phải có chuẩn dữ liệu thống nhất, cơ chế chia sẻ dữ liệu liên ngành, phân quyền truy cập hợp lý, năng lực cập nhật dữ liệu ở cấp xã và bảo đảm an toàn thông tin trong toàn bộ chu trình xử lý. Nghị định số 118/2025/NĐ-CP cũng đã yêu cầu hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính cấp bộ, cấp tỉnh phải được xây dựng tập trung, thống nhất, có khả năng tích hợp với Cổng Dịch vụ công quốc gia, cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, hệ thống định danh và xác thực điện tử. Nếu thực hiện tốt, dữ liệu dùng chung sẽ giúp cấp xã xử lý thủ tục nhanh hơn, chính xác hơn, giảm chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp và tạo nền tảng cho cấp tỉnh điều hành dựa trên bằng chứng thay vì chỉ dựa vào báo cáo hành chính định kỳ.

Ba là, nâng cấp hạ tầng số, nền tảng số, phần mềm một cửa, dịch vụ công trực tuyến và hệ thống giám sát điều hành.

Giải pháp này được đề xuất nhằm khắc phục những hạn chế về đường truyền, thiết bị, chữ ký số, tài khoản nghiệp vụ, phần mềm chuyên ngành và khả năng liên thông chưa đồng bộ. Thời gian tới, Chính phủ và các cơ quan hành chính nhà nước các cấp cần chú trọng cùng các doanh nghiệp viễn thông, doanh nghiệp công nghệ và UBND cấp xã phối hợp nâng cấp đồng bộ đường truyền internet, máy tính, máy scan, thiết bị ký số, hệ thống lưu trữ, phần mềm một cửa, phần mềm quản lý văn bản và điều hành, hệ thống báo cáo điện tử, nền tảng họp trực tuyến, dashboard điều hành, hệ thống cảnh báo hồ sơ quá hạn và nền tảng tiếp nhận, xử lý phản ánh kiến nghị. Việc đầu tư cần tránh bình quân cơ học, mà phải dựa trên quy mô dân số, diện tích, số lượng hồ sơ, điều kiện giao thông, mức độ khó khăn về hạ tầng số và nhu cầu phục vụ của từng xã, phường, đặc khu.

Trên thực tế, một số địa phương cũng đã cho thấy khả năng hình thành mô hình nền tảng số phục vụ chính quyền hai cấp. Chẳng hạn như Đắk Lắk công bố 4 nền tảng số gồm nền tảng AI hỗ trợ người dân tra cứu thông tin, nộp hồ sơ, theo dõi tiến độ giải quyết thủ tục hành chính công; nền tảng dịch vụ công trực tuyến; dashboard điều hành tích hợp; và hệ thống tiếp nhận, xử lý phản ánh cộng đồng. Hà Nội cũng ghi nhận việc ứng dụng công nghệ, số hóa quy trình, tổ chuyển đổi số cộng đồng, robot AI tại bộ phận một cửa và mô hình phường thông minh nhằm nâng cao hiệu quả vận hành chính quyền địa phương hai cấp. Những kinh nghiệm thực tiễn này cho thấy, hạ tầng số cần được thiết kế như hệ sinh thái vận hành, bao gồm cả kênh phục vụ người dân, kênh điều hành của chính quyền và kênh giám sát trách nhiệm công vụ.

Bốn là, nâng cao năng lực số, kỹ năng khai thác dữ liệu và văn hóa phục vụ số cho cán bộ, công chức cấp xã.

Nếu cán bộ cấp xã không có năng lực số, dịch vụ công trực tuyến dễ trở thành hình thức. Bởi dữ liệu có nhưng không được khai thác, phần mềm có nhưng không được vận hành đúng quy trình, người dân nộp hồ sơ trực tuyến nhưng vẫn phải đến trực tiếp nhiều lần để bổ sung, giải thích hoặc kiểm tra tiến độ thì hiệu quả vận hành và phục vụ người dân, doanh nghiệp vẫn chưa đạt được như mục tiêu.

Vì vậy, thời gian tới cần đưa năng lực số vào khung năng lực vị trí việc làm của cán bộ, công chức cấp xã. Cùng với đó, tiến hành cập nhật nội dung bồi dưỡng theo hướng tập trung vào sử dụng hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính, số hóa hồ sơ, ký số, khai thác dữ liệu dân cư, định danh điện tử, dữ liệu hộ tịch, đất đai, tài chính; hướng dẫn người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến; xử lý phản ánh kiến nghị trên nền tảng số; bảo vệ dữ liệu cá nhân, an toàn thông tin và ứng xử công vụ trên môi trường số.

Cách thức bồi dưỡng không nên dừng ở tập huấn đại trà, mà cần tổ chức theo vị trí việc làm, theo tình huống nghiệp vụ và theo nhóm thủ tục cụ thể. Cần kết hợp bồi dưỡng trực tiếp, bồi dưỡng trực tuyến, học liệu số dùng chung, hỗ trợ “cầm tay chỉ việc” của sở ngành đối với cấp xã, đánh giá sau đào tạo và gắn kết quả bồi dưỡng với bố trí, sử dụng, đánh giá cán bộ. Quyết định số 700/QĐ-TTg ngày 20/4/2026 phê duyệt Đề án tăng cường bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức ở xã, phường, đặc khu đáp ứng yêu cầu vận hành chính quyền địa phương hai cấp giai đoạn 2026 – 2031 là căn cứ quan trọng để triển khai giải pháp này theo hướng dài hạn, có hệ thống.

Năm là, bảo đảm tiếp cận công bằng, an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân và đổi mới đánh giá hiệu quả vận hành chính quyền số ở cấp xã.

Trước nguy cơ gia tăng khoảng cách số và rủi ro dữ liệu khi mở rộng chính quyền số cấp xã, việc bảo đảm tiếp cận công bằng, an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân là việc làm cần thiết. Chuyển đổi số chỉ có ý nghĩa cải cách khi giúp người dân tiếp cận dịch vụ công thuận lợi hơn, không tạo thêm rào cản đối với người cao tuổi, người dân vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, người khuyết tật, hộ nghèo hoặc nhóm ít có điều kiện tiếp cận công nghệ. Chính vì thế, các cơ quan nhà nước cần phối hợp với các tổ chức chính trị – xã hội, các doanh nghiệp viễn thông và cộng đồng dân cư duy trì kênh hỗ trợ trực tiếp tại Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp xã; đồng thời phát triển tổ chuyển đổi số cộng đồng; thiết kế dịch vụ công trực tuyến dễ sử dụng, có hướng dẫn rõ ràng; hỗ trợ điểm truy cập dịch vụ công ở vùng khó khăn; triển khai truyền thông số bằng ngôn ngữ dễ hiểu và bảo đảm cơ chế tiếp nhận phản ánh, kiến nghị của người dân về khó khăn khi sử dụng dịch vụ công trực tuyến. Thực tiễn tại Huế trong giai đoạn đầu vận hành mô hình hai cấp, địa phương đã huy động lực lượng đoàn viên, sinh viên hỗ trợ người dân thực hiện dịch vụ công trực tuyến tại các điểm tiếp nhận hồ sơ, qua đó cho thấy hỗ trợ trực tiếp vẫn là điều kiện cần thiết để chuyển đổi số không loại trừ nhóm yếu thế (Báo điện tử Chính phủ, 15/7/2025).

Đồng thời, việc mở rộng chính quyền số cấp xã phải đi cùng bảo vệ dữ liệu cá nhân, an toàn thông tin và an ninh mạng. Khi cấp xã xử lý ngày càng nhiều dữ liệu dân cư, hộ tịch, đất đai, tài chính, y tế, giáo dục, phản ánh kiến nghị và hồ sơ cá nhân, cần quy định rõ phân quyền truy cập dữ liệu, nhật ký xử lý hồ sơ, trách nhiệm của cán bộ khi khai thác dữ liệu, quy trình lưu trữ hồ sơ điện tử và xử lý sự cố lộ lọt thông tin.

Ngoài ra, cần đổi mới đánh giá hiệu quả chuyển đổi số trong mô hình hai cấp. Không nên chỉ đánh giá bằng số lượng thủ tục trực tuyến, số hồ sơ trực tuyến hoặc số nền tảng được triển khai, mà phải đo bằng thời gian xử lý thực tế, tỷ lệ hồ sơ đúng hạn, tỷ lệ hồ sơ phải bổ sung, số lần người dân phải đi lại, mức độ hài lòng, số phản ánh kiến nghị được xử lý, khả năng tiếp cận của nhóm yếu thế và mức độ minh bạch, an toàn trong xử lý dữ liệu. Khi lấy trải nghiệm của người dân làm thước đo trung tâm, chuyển đổi số mới trở thành phương thức nâng cao chất lượng quản trị công, thay vì chỉ là nhiệm vụ kỹ thuật.

4. Kết luận

Để đẩy mạnh chuyển đổi số trong vận hành của chính quyền địa phương hai cấp cần thực hiện đồng bộ các giải pháp trên. Thể chế tạo khuôn khổ vận hành; dữ liệu tạo nền tảng quyết định; hạ tầng số tạo điều kiện kỹ thuật; cán bộ tạo năng lực thực thi; còn tiếp cận công bằng và an toàn dữ liệu tạo tính bền vững, chính danh và niềm tin xã hội đối với chính quyền số. Chỉ khi được triển khai đồng bộ, chuyển đổi số mới có thể trở thành động lực thực chất nâng cao hiệu quả vận hành của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, góp phần xây dựng nền hành chính hiện đại, minh bạch, trách nhiệm và phục vụ người dân, doanh nghiệp ngày một tốt hơn.

Tài liệu tham khảo:
Báo điện tử Chính phủ (28/6/2025). Thủ tướng đôn đốc bộ ngành địa phương bảo đảm vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp thông suốt. https://baochinhphu.vn/thu-tuong-don-doc-bo-nganh-dia-phuong-bao-dam-van-hanh-mo-hinh-chinh-quyen-dia-phuong-2-cap-thong-suot-102250628021935759.htm
Báo điện tử Chính phủ (15/7/2025). Mô hình chính quyền 2 cấp tại TP. Huế: Tinh gọn, thông suốt, gần dân. https://baochinhphu.vn/mo-hinh-chinh-quyen-2-cap-tai-tp-hue-tinh-gon-thong-suot-gan-dan-102250715190317301.htm
Báo điện tử Chính phủ (10/9/2025). Nghị quyết 268/NQ-CP về tình hình triển khai thực hiện và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/nghi-quyet-268-nq-cp-ve-tinh-hinh-trien-khai-thuc-hien-va-van-hanh-mo-hinh-chinh-quyen-dia-phuong-02-cap-119250904063648383.htm
Báo điện tử Tiếng nói Việt Nam (19/7/2025a). Nhiều điểm nghẽn sau 1 năm chính quyền địa phương hai cấp tại Đắk Lắk. https://vov.vn/chinh-tri/nhieu-diem-nghen-sau-1-nam-chinh-quyen-dia-phuong-hai-cap-tai-dak-lak-post1292311.vov
Báo điện tử VOV (19/7/2025b). Khó khăn phát sinh sau 15 ngày vận hành chính quyền cấp xã mới tại Đắk Lắk. https://vov.vn/chinh-tri/kho-khan-phat-sinh-sau-15-ngay-van-hanh-chinh-quyen-cap-xa-moi-tai-dak-lak-post1215761.vov
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Chính phủ (2025). Nghị định số 118/2025/NĐ-CP ngày 09/6/2025 về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia.
Chính phủ (2025). Nghị quyết số 268/NQ-CP ngày 31/8/2025 về tình hình triển khai thực hiện và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Gia Huy (04/6/2026). Hà Nội chuyển biến mạnh mẽ trong vận hành chính quyền địa phương hai cấp. https://thanglong.chinhphu.vn/ha-noi-chuyen-bien-manh-me-trong-van-hanh-chinh-quyen-dia-phuong-2-cap-103260604154518746.htm
Gia Huy (25/9/2025). Hà Nội: Chuyển đổi số nâng cao hiệu quả chính quyền địa phương hai cấp. https://thanglong.chinhphu.vn/ha-noi-chuyen-doi-so-nang-cao-hieu-qua-chinh-quyen-dia-phuong-2-cap-103250925162054889.htm
Kim Bảo (11/7/2025). Đắk Lắk: hơn 6.200 hồ sơ thủ tục hành chính được tiếp nhận chỉ sau một tuần triển khai mô hình chính quyền hai cấp. https://daklak.gov.vn/widget/-/-ak-lak-hon-6-200-ho-so-tthc-uoc-tiep-nhan-chi-sau-mot-tuan-trien-khai-mo-hinh-chinh-quyen-2-cap
Lê Sơn (30/5/2026). Một năm chính quyền 2 cấp ở Cần Thơ: Khi cấp xã “gánh” việc lớn. Báo Chính phủ điện tử. https://baochinhphu.vn/mot-nam-chinh-quyen-2-cap-o-can-tho-khi-cap-xa-ganh-viec-lon-102260530170244101.htm
Nhật Anh (13/8/2025). TP. Huế: Mô hình hai cấp vận hành nề nếp, người dân hài lòng. Báo Chính phủ. https://baochinhphu.vn/tp-hue-mo-hinh-hai-cap-van-hanh-ne-nep-nguoi-dan-hai-long-102250813132901595.htm
Quốc hội (2025). Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025.
Thu Giang (09/7/2026). Tháo gỡ khó khăn trong vận hành chính quyền địa phương 2 cấp, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền. https://baochinhphu.vn/thao-go-kho-khan-trong-van-hanh-chinh-quyen-dia-phuong-2-cap-day-manh-phan-cap-phan-quyen-102260709160105327.htm
Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”.
Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022-2025, tầm nhìn đến năm 2030.
Thủ tướng Chính phủ (2026). Công văn số 84/TTg-TCCV ngày 21/01/2026 về tiếp tục triển khai hiệu quả mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Tuấn Hải (10/7/2025) Đắk Lắk công bố 4 nền tảng số phục vụ chính quyền địa phương hai cấp. https://daklak.gov.vn/widget/-/-ak-lak-cong-bo-4-nen-tang-so-phuc-vu-chinh-quyen-ia-phuong-hai-cap
Vũ Đăng Minh (10/8/2026). Tổ chức chính quyền địa phương hai cấp sau một năm thực hiện – Cơ hội và thách thức trong kỷ nguyên số. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/08/10/to-chuc-chinh-quyen-dia-phuong-hai-cap-sau-mot-nam-thuc-hien-co-hoi-va-thach-thuc-trong-ky-nguyen-so/