Hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam

Improving policies to support private enterprise development in Vietnam

TS. Nguyễn Thị Ngọc Mai
Học viện Hành chính và Quản trị công
Email: maingoc84@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Phát triển doanh nghiệp tư nhân là một trong những yêu cầu quan trọng nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia tại Việt Nam. Trên cơ sở tiếp cận lý thuyết thể chế, bài viết phân tích thực trạng chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam theo tinh thần của Nghị quyết số 68-NQ/TW. Kết quả cho thấy hệ thống chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân đã có những chuyển biến tích cực trong việc cải thiện môi trường kinh doanh, mở rộng khả năng tiếp cận nguồn lực, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đồng thời nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại những hạn chế về việc thực thi chính sách, khả năng tiếp cận đất đai và tín dụng, năng lực đổi mới sáng tạo cũng như chất lượng nguồn nhân lực. Từ đó, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp nhằm hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế tư nhân theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW.

Từ khóa: Doanh nghiệp tư nhân; chính sách hỗ trợ; môi trường kinh doanh; hoàn thiện chính sách.

Abstract: The development of private enterprises is one of the key requirements for promoting economic growth and enhancing national competitiveness in Vietnam. Based on an institutional theory approach, this article analyzes the current status of policies supporting the development of private enterprises in Vietnam in accordance with the spirit of Resolution No. 68-NQ/TW. The results show that the policy framework supporting private enterprises has led to positive changes in the business environment, expanded access to resources, promoted innovation and digital transformation, and enhanced workforce quality. However, limitations remain in policy implementation, access to land and credit, innovation capacity, and workforce quality. Consequently, the author proposes four groups of solutions to achieve the goal of private-sector development in accordance with the spirit of Resolution No. 68-NQ/TW.

Keywords: Private enterprises; support policies; business environment; policy refinement.

1. Đặt vấn đề

Phát triển kinh tế tư nhân là chủ trương xuyên suốt trong đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước từ năm 1986 đến nay. Với vai trò ngày càng được khẳng định trong thực tiễn, khu vực kinh tế tư nhân đã và đang trở thành lực lượng chủ yếu tạo việc làm, đóng góp vào tăng trưởng GDP và huy động nguồn lực xã hội cho phát triển (Cục Thống kê, 2025; VCCI, 2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị đánh dấu sự chuyển biến quan trọng trong nhận thức và chiến lược phát triển khi lần đầu tiên xác định kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia”, đồng thời đặt ra mục tiêu đạt 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030 và 3 triệu doanh nghiệp vào năm 2045.

Tuy nhiên, giữa chủ trương và thực tiễn triển khai vẫn còn một khoảng cách đáng kể. Mặc dù môi trường kinh doanh từng bước được cải thiện, các chính sách hỗ trợ nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân (doanh nghiệp tư nhân) còn bộc lộ nhiều hạn chế trong thực thi, đặc biệt là về khả năng tiếp cận tín dụng, mức độ bình đẳng trong cạnh tranh và năng lực hấp thụ chính sách của doanh nghiệp. Theo tiếp cận thể chế, các hạn chế này phản ánh chất lượng của hệ thống quy tắc chính thức, cơ chế thực thi và chi phí giao dịch mà doanh nghiệp phải đối mặt trong hoạt động sản xuất kinh doanh (North, 1990; Williamson, 2000). Trong bối cảnh đó, việc đánh giá một cách hệ thống thực trạng chính sách hỗ trợ nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân, nhận diện những điểm nghẽn còn tồn tại và đề xuất các giải pháp hoàn thiện có ý nghĩa cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn. Bài viết phân tích thực trạng chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân trên các nội dung: môi trường kinh doanh, hỗ trợ tiếp cận nguồn lực sản xuất, phát triển nguồn nhân lực và nâng cao năng lực doanh nghiệp; từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách phù hợp với tinh thần Nghị quyết 68-NQ/TW trong giai đoạn tới.

2. Thực trạng chính sách hỗ trợ nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân tại Việt Nam

Trong những năm qua, Việt Nam đã và đang xây dựng hệ thống chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân ngày càng đồng bộ. Theo lý thuyết thể chế, sự phát triển của doanh nghiệp chịu tác động trực tiếp từ chất lượng thể chế thông qua việc bảo đảm quyền tài sản, giảm chi phí giao dịch, tạo điều kiện tiếp cận các nguồn lực và khuyến khích đổi mới sáng tạo (North,1990; Williamson, 2000). Trên tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW, thực trạng chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam được xem xét thông qua 4 trụ cột thể chế cơ bản gồm: môi trường kinh doanh; tiếp cận các nguồn lực phát triển; đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; phát triển nguồn nhân lực và năng lực doanh nghiệp.

2.1. Chính sách đối với môi trường kinh doanh

Môi trường kinh doanh có ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí giao dịch và chi phí đầu tư của doanh nghiệp (North, 1990). Việc cải thiện chất lượng quy định và giảm chi phí tuân thủ là những điều kiện quan trọng để doanh nghiệp mở rộng đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh (World Bank, 2020). Trong thời gian qua, Nhà nước đã triển khai nhiều biện pháp nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, bảo đảm quyền kinh doanh và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật đối với khu vực doanh nghiệp tư nhân.

Về cải cách thủ tục hành chính, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 66/NQ-CP ngày 26/3/2025 về Chương trình cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh giai đoạn 2025-2026, đặt mục tiêu giảm tối thiểu 30% thời gian xử lý, 30% chi phí tuân thủ và thúc đẩy chuyển đổi số trong toàn bộ quy trình tiếp nhận, xử lý hồ sơ. Nghị quyết 68-NQ/TW yêu cầu phân công, phân cấp, phân nhiệm rõ ràng giữa các cấp; xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu; và xử lý nghiêm các hành vi tham nhũng, nhũng nhiễu của cán bộ, công chức. Đây là bước tiếp nối cải cách hành chính đã được thực hiện liên tục từ Nghị quyết 10-NQ/TW ngày 03/6/2017, song lần này gắn với chế tài trách nhiệm cụ thể hơn và thời hạn hoàn thành rõ ràng hơn.

Về điều kiện kinh doanh, Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặt biệt phát triển kinh tế tư nhân và Luật Đầu tư năm 2025 rà soát và cắt giảm 38 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện không đáp ứng các tiêu chí theo quy định, đồng thời điều chỉnh phạm vi quản lý của 20 ngành, nghề khác theo hướng chuyển mạnh từ cơ chế tiền kiểm sang cơ chế hậu kiểm. Việc chuyển đổi này giúp doanh nghiệp tiết kiệm thời gian và chi phí khi gia nhập thị trường, đồng thời tiệm cận với thông lệ quốc tế về cải cách quy định kinh doanh (World Bank, 2020).

Về quyền tài sản, Luật Doanh nghiệp năm 2025 đã bổ sung quy định về chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp, yêu cầu công khai thông tin đến cơ quan đăng ký kinh doanh và củng cố trách nhiệm cá nhân của người đại diện theo pháp luật, qua đó tạo nền tảng pháp lý để bảo vệ quyền tài sản một cách thực chất hơn. Nghị quyết số 68-NQ/TW lần đầu tiên thiết lập không hồi tố các quy định pháp luật theo hướng bất lợi cho doanh nghiệp, cùng cơ chế miễn trừ trách nhiệm cho cán bộ khi có thiệt hại do rủi ro khách quan, dù đã tuân thủ đầy đủ quy trình, nhằm xóa bỏ tâm lý “sợ trách nhiệm” vốn là nguyên nhân làm chậm tiến độ giải quyết hồ sơ cho doanh nghiệp. Những nội dung này phù hợp với lập luận của North (1990), cho rằng bảo đảm quyền tài sản là điều kiện cốt lõi để giảm bất định và khuyến khích đầu tư.

Để bảo vệ nhà đầu tư, Nghị quyết 68-NQ/TW đưa ra chủ trương suy đoán vô tội trong xử lý vi phạm của doanh nghiệp, phân định rõ trách nhiệm hình sự với trách nhiệm hành chính, kinh tế, dân sự và tách bạch trách nhiệm pháp nhân với trách nhiệm cá nhân. Đây là cam kết thể chế quan trọng trong các văn kiện về kinh tế tư nhân, phản ánh tinh thần “khoan dung” trước rủi ro kinh doanh và “bảo vệ quyền tự do đầu tư” theo thông lệ quốc tế. Trong cùng hướng này, Luật Đầu tư năm 2025 cho phép nhà đầu tư nước ngoài thành lập tổ chức kinh tế trước khi xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, qua đó tháo gỡ điểm nghẽn kéo dài nhiều năm, gây khó khăn cho nhà đầu tư trong giai đoạn chuẩn bị.

Để bảo đảm sự bình đẳng giữa doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp FDI, Nghị quyết 68-NQ/TW khẳng định nguyên tắc đối xử bình đẳng giữa các thành phần kinh tế trong tiếp cận đất đai, vốn, cơ hội đầu tư và thông tin chính sách, đồng thời chủ trương doanh nghiệp tư nhân được tham gia các dự án trọng điểm quốc gia, hạ tầng chiến lược và đầu tư theo phương thức đối tác công tư. Tư duy quản lý nhà nước cũng được chuyển dứt khoát từ “quản lý, kiểm soát” sang “phục vụ và kiến tạo phát triển”, coi doanh nghiệp là đối tác, không phải là đối tượng quản lý. Tuy nhiên, kết quả PCI cho thấy cạnh tranh bình đẳng vẫn là một trong những điểm nghẽn đáng chú ý trong môi trường kinh doanh tại Việt Nam (VCCI, 2025).

Về thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp, Nghị quyết 198/2025/QH15 quy định không quá 1 lần thanh tra hoặc kiểm tra đối với mỗi doanh nghiệp, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh trong một năm; không được trùng lặp giữa thanh tra và kiểm tra trong cùng năm; chỉ thanh tra, kiểm tra đột xuất khi có dấu hiệu vi phạm rõ ràng. Điều này đánh dấu bước “cởi trói” đáng kể, giảm gánh nặng tuân thủ và áp lực tâm lý cho doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa vốn dễ bị tổn thương trước các đợt thanh tra, kiểm tra liên ngành dày đặc. Cách tiếp cận này phù hợp với yêu cầu giảm chi phí tuân thủ và nâng cao chất lượng tuân thủ các quy định kinh doanh (World Bank, 2020).

2.2. Chính sách hỗ trợ tiếp cận nguồn lực sản xuất

Về đất đai, chính sách hỗ trợ tiếp cận đất sản xuất cho doanh nghiệp tư nhân được triển khai theo 3 hướng. (1) Nghị quyết 68-NQ/TW chủ trương hoàn thành xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai chậm nhất trong năm 2025, kết nối với Trung tâm dữ liệu quốc gia nhằm tăng tính minh bạch về quỹ đất và giảm bất cân xứng thông tin trong việc tiếp cận đất đai. (2) Về thuê đất tại khu công nghiệp, Nghị quyết số 198/2025/QH15 nêu rõ doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo được hỗ trợ giảm tối thiểu 30% tiền thuê lại đất tại khu công nghiệp, cụm công nghiệp và vườn ươm công nghệ trong 5 năm đầu kể từ ngày ký hợp đồng thuê đất với chủ đầu tư hạ tầng; Nghị định số 20/2026/NĐ-CP ngày 15/01/2026 của Chính phủ cụ thể hóa cơ chế Nhà nước hoàn trả phần giảm trừ này cho chủ đầu tư hạ tầng thông qua bù trừ nghĩa vụ tài chính hoặc chi trả trực tiếp từ ngân sách. (3) Về thủ tục đất đai, Nghị quyết 68-NQ/TW yêu cầu số hóa toàn bộ quy trình cấp phép và các thủ tục liên quan đến đất đai, kiểm soát chặt chẽ biến động giá đất sản xuất kinh doanh nhằm ngăn chặn tình trạng đầu cơ gây khó khăn cho doanh nghiệp muốn mở rộng mặt bằng sản xuất.

Chính sách hỗ trợ tiếp cận vốn cho doanh nghiệp tư nhân được xây dựng dựa trên nhiều nội dung. Đối với tín dụng ngân hàng, Nghị quyết số 68-NQ/TW định hướng ưu tiên một phần tín dụng thương mại cho khu vực tư nhân, đẩy mạnh tín dụng xanh và tín dụng cho doanh nghiệp áp dụng tiêu chuẩn ESG; Nghị quyết số 198/2025/QH15 cụ thể hóa bằng cơ chế hỗ trợ lãi suất 2%/năm từ ngân sách nhà nước cho các dự án xanh và tuần hoàn. Công cụ hỗ trợ lãi suất trực tiếp đầu tiên là Nghị định số 31/2022/NĐ-CP ngày 20/5/2022, hỗ trợ lãi suất 2%/năm cho doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh vay vốn phục hồi sau đại dịch Covid-19. Thêm vào đó, hệ thống Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa được vận hành theo Nghị định số 34/2018/NĐ-CP ngày 08/3/2018 tại các địa phương, đóng vai trò kênh hỗ trợ tiếp cận vốn cho nhóm doanh nghiệp thiếu tài sản thế chấp; song song đó, Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa theo Nghị định số 39/2019/NĐ-CP ngày 10/5/2019 cung cấp các khoản vay ưu đãi trực tiếp cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong các lĩnh vực ưu tiên. Các rào cản về tín dụng của doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng là vấn đề phổ biến ở nhiều nền kinh tế đang phát triển do bất cân xứng thông tin, tài sản thế chấp hạn chế và chi phí thẩm định cao (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 2023; Beck et al., 2005; OECD, 2021).

Để kết nối, mở rộng thị trường, Việt Nam đã tham gia hơn 15 hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (CPTPP, EVFTA, RCEP, UKVFTA), mở ra thị trường xuất khẩu với các ưu đãi thuế quan đáng kể; Luật Đầu tư năm 2025 đơn giản hóa thủ tục đầu tư ra nước ngoài, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tư nhân trong nước vươn ra thị trường quốc tế. Nghị quyết số 198/2025/QH15 chủ trương gói thầu có giá trị không quá 20 tỷ đồng dành riêng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa; đồng thời ưu tiên doanh nghiệp do phụ nữ, thanh niên, người khuyết tật và đồng bào dân tộc thiểu số làm chủ trong một số gói thầu mua sắm công. Về phương diện chính sách công nghiệp, việc mở rộng cơ hội thị trường cho doanh nghiệp tư nhân cần gắn với việc nâng cao năng lực cạnh tranh và tham gia chuỗi giá trị, thay vì chỉ hỗ trợ chi phí trong ngắn hạn (Rodrik, 2004; OECD, 2021).

2.3. Chính sách thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

Chính sách thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là lĩnh vực chính sách mới, được đề cập kể từ Nghị quyết 68-NQ/TW, thể hiện quan điểm rằng đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là con đường tất yếu để kinh tế tư nhân Việt Nam thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình và vươn lên chuỗi giá trị toàn cầu. Theo Schumpeter (1934), đổi mới sáng tạo là động lực trung tâm tạo ra lợi thế cạnh tranh và thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp; trong khi đó, Solow (1956) nhấn mạnh vai trò của tiến bộ công nghệ đối với tăng trưởng năng suất dài hạn. Các nghiên cứu về doanh nghiệp cũng cho thấy đổi mới và lan tỏa tri thức có vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của khu vực tư nhân (Acs & Audretsch, 2005). Nhóm chính sách này bao gồm: ưu đãi cho nghiên cứu và phát triển, chuyển đổi số, khung thử nghiệm có kiểm soát và hỗ trợ đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp.

Về ưu đãi nghiên cứu và phát triển (R&D), Nghị quyết số 198/2025/QH15 thiết lập 2 cơ chế ưu đãi thuế trực tiếp mang tính đột phá.

Một, chi phí R&D thực tế của doanh nghiệp được tính 200% vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp, tức là cứ mỗi đồng chi cho nghiên cứu và phát triển, doanh nghiệp được khấu trừ gấp đôi so với mức thông thường chỉ 100% trước đây. Cơ chế này trực tiếp làm giảm chi phí thực tế của hoạt động R&D và khuyến khích doanh nghiệp chấp nhận rủi ro đầu tư vào công nghệ mới, phù hợp với quan điểm coi đổi mới sáng tạo là động lực của sự phát triển doanh nghiệp (Schumpeter, 1934; Acs & Audretsch, 2005).

Hai là, doanh nghiệp được phép trích tối đa 20% thu nhập tính thuế thu nhập doanh nghiệp để lập quỹ phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số nội bộ, được sử dụng để tự triển khai hoặc đặt hàng bên ngoài theo cơ chế khoán sản phẩm, tăng gấp đôi so với mức trích quỹ tối đa 10% theo quy định trước đây. Bên cạnh ưu đãi thuế, Nghị định số 20/2026/NĐ-CP quy định chuyên gia, nhà khoa học làm việc tại doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo và trung tâm nghiên cứu phát triển được miễn thuế thu nhập cá nhân trong 2 năm đầu và giảm 50% số thuế phải nộp trong 4 năm tiếp theo, nhằm thu hút và giữ chân nhân lực khoa học công nghệ chất lượng cao.

Về chuyển đổi số, chính sách hỗ trợ tập trung vào 2 nhóm đối tượng. Đối với doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và hộ kinh doanh, Nhà nước cung cấp miễn phí phần mềm kế toán, nền tảng số dùng chung và dịch vụ tư vấn chuyển đổi số, đồng thời hỗ trợ 100% chi phí đào tạo sử dụng công nghệ số cơ bản từ nguồn ngân sách nhà nước. Từ ngày 01/01/2026, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh chính thức chuyển từ phương pháp thuế khoán sang thuế kê khai theo phương thức điện tử, tạo áp lực và động lực để khu vực phi chính thức tham gia vào hệ sinh thái số. Đối với doanh nghiệp lớn và vừa có tiềm năng, Nghị quyết số 198/2025/QH15 thiết kế Chương trình phát triển 1.000 doanh nghiệp tiêu biểu tiên phong trong chuyển đổi số và chuyển đổi xanh, đồng thời đẩy mạnh phát triển Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia (NIC) và các trung tâm đổi mới sáng tạo cấp vùng làm hạt nhân kết nối giữa doanh nghiệp, trường đại học và viện nghiên cứu. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy chuyển đổi số của doanh nghiệp nhỏ và vừa cần được hỗ trợ bằng các công cụ tư vấn, tài chính, đào tạo kỹ năng và kết nối với hệ sinh thái đổi mới sáng tạo (OECD, 2021; Bộ Thông tin và Truyền thông, 2023).

Về khung thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox), Nghị quyết số 68-NQ/TW lần đầu tiên chủ trương cơ chế cho phép doanh nghiệp thử nghiệm các công nghệ và mô hình kinh doanh mới trong phạm vi và thời gian giới hạn, được giám sát chặt chẽ, trước khi áp dụng đại trà. Cách tiếp cận này thay thế cho tư duy “cấm những gì chưa có luật”, vốn có thể làm chậm quá trình phát triển fintech, thương mại điện tử và kinh tế nền tảng. Các lĩnh vực ưu tiên áp dụng sandbox bao gồm trí tuệ nhân tạo, tài sản mã hóa, thương mại điện tử xuyên biên giới, tài chính nhúng và các mô hình kinh doanh nền tảng số mới. Việc thiết kế sandbox cần gắn với các nguyên tắc học hỏi chính sách, thử nghiệm có kiểm soát và giảm rủi ro cho đổi mới sáng tạo (Rodrik, 2004; World Bank, 2020).

Về đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp, Nghị quyết số 68-NQ/TW gắn kết chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân với Nghị quyết số 57-NQ/TW về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, yêu cầu khu vực kinh tế tư nhân giữ vai trò dẫn dắt trong đổi mới sáng tạo, làm chủ công nghệ cốt lõi và giảm phụ thuộc vào công nghệ nhập khẩu. Thêm vào đó, Luật Đầu tư năm 2025 bổ sung các ngành, nghề ưu đãi đầu tư theo hướng ưu tiên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, công nghiệp bán dẫn, kinh tế xanh và kinh tế số; đồng thời mở rộng hành lang pháp lý và ưu đãi thuế cho các doanh nghiệp công nghệ tư nhân tham gia vào các ngành ưu tiên chiến lược. Đặc biệt, Nghị định số 20/2026/NĐ-CP quy định miễn 100% thuế chuyển nhượng vốn cho nhà đầu tư thoái vốn khỏi doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, tạo “cửa ra” hấp dẫn cho các quỹ đầu tư mạo hiểm và nhà đầu tư thiên thần, từ đó tăng cường dòng vốn mạo hiểm vào hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Về mặt lý luận, tác động của các chính sách này chỉ phát huy khi doanh nghiệp có năng lực hấp thụ công nghệ và khả năng chuyển hóa tri thức thành năng suất (Acs & Audretsch, 2005; Solow, 1956).

2.4. Chính sách phát triển nguồn nhân lực và nâng cao năng lực doanh nghiệp

Chính sách phát triển nguồn nhân lực và nâng cao năng lực doanh nghiệp bao gồm 4 nội dung: đào tạo kỹ năng lao động, đào tạo quản trị doanh nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa và hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi lên doanh nghiệp. Theo Barney (1991), nguồn lực nội tại, bao gồm nguồn nhân lực và năng lực quản trị, là nền tảng tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững cho doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, OECD (2021) cũng nhấn mạnh rằng kỹ năng quản trị, năng lực số và khả năng học hỏi là những điều kiện quan trọng để nâng cao năng suất của doanh nghiệp.

Để đào tạo lao động có kỹ năng, chính sách tập trung vào ưu đãi thuế để doanh nghiệp lớn đào tạo lao động cho toàn chuỗi: Nghị quyết số 198/2025/QH15 chủ trương chi phí đào tạo, đào tạo lại nhân lực mà doanh nghiệp lớn dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa cùng tham gia chuỗi cung ứng được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp, tạo động lực để doanh nghiệp lớn tự nguyện nâng cao năng lực cho đối tác doanh nghiệp nhỏ và vừa trong chuỗi giá trị của mình. Nghị định số 20/2026/NĐ-CP quy định chuyên gia, nhà khoa học làm việc tại doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, trung tâm nghiên cứu phát triển và tổ chức trung gian hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo được miễn thuế thu nhập cá nhân trong hai năm đầu và giảm 50% trong 4 năm tiếp theo nhằm giải bài toán thiếu hụt nhân lực chất lượng cao và ngăn chảy máu chất xám ra nước ngoài. Các chính sách này phù hợp với cách tiếp cận dựa trên nguồn lực, trong đó năng lực nhân sự và tri thức là những yếu tố tạo ra sự khác biệt trong cạnh tranh của doanh nghiệp (Barney, 1991).

Về đào tạo quản trị doanh nghiệp, Nghị quyết số 198/2025/QH15 đề cập nhà nước hỗ trợ 100% chi phí đào tạo quản trị doanh nghiệp, kế toán, thuế, nhân sự và quản lý tài chính cho doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và hộ kinh doanh từ nguồn ngân sách nhà nước kết hợp huy động từ quỹ đầu tư của doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng, viện nghiên cứu và trường đại học. Nội dung đào tạo bao gồm cả quản trị cơ bản lẫn quản trị chuyên sâu. Đây là chính sách mới, căn bản so với giai đoạn Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017, khi chi phí đào tạo quản trị chủ yếu do doanh nghiệp tự chi trả hoặc chỉ được hỗ trợ một phần rất nhỏ từ ngân sách địa phương. OECD (2021) cho rằng chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chỉ hiệu quả khi đi kèm với dịch vụ tư vấn, đào tạo quản trị và hỗ trợ chuyển đổi số phù hợp với năng lực của từng nhóm doanh nghiệp. Bên cạnh đó, Quyết định số 463/QĐ-TTg ngày 22/3/2026 về phong trào thi đua phát triển doanh nghiệp tư nhân nhấn mạnh việc tăng cường vai trò của đội ngũ doanh nhân trong việc góp ý, phản biện chính sách và quản trị đất nước.

Để hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa nâng cao năng lực, nền tảng pháp lý là Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 và các nghị định hướng dẫn gồm Nghị định số 80/2021/NĐ-CP ngày 26/8/2021 về hướng dẫn thi hành, Nghị định số 55/2019/NĐ-CP ngày 24/6/2029 về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa và Nghị định số 210/2025/NĐ-CP ngày 21/7/2025 sửa đổi Nghị định số 38/2018/NĐ-CP về đầu tư cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Luật quy định hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa toàn diện về: tư vấn và pháp lý, mặt bằng sản xuất, tín dụng, công nghệ và đổi mới sáng tạo, phát triển nguồn nhân lực và thị trường. Về mặt chính sách, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa cần được thiết kế theo nhu cầu cụ thể của doanh nghiệp, đồng thời gắn với việc nâng cao năng lực quản trị và năng suất, thay vì chỉ hỗ trợ chi phí trong ngắn hạn (OECD, 2021).

Để hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi lên doanh nghiệp, Nghị quyết số 68-NQ/TW và Nghị quyết số 198/2025/QH15 lần đầu tiên thiết lập lộ trình chính thức hóa hộ kinh doanh có thời hạn rõ ràng thông qua 3 cơ chế đồng bộ.

(1) Từ ngày 01/01/2026, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh chính thức chuyển từ phương pháp thuế khoán sang thuế kê khai theo phương thức điện tử, chấm dứt cơ chế thuế khoán đã tồn tại nhiều thập kỷ, đồng thời chấm dứt việc thu lệ phí môn bài kể từ thời điểm đó.

(2) Doanh nghiệp nhỏ và vừa mới thành lập được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm đầu theo Nghị quyết số 198/2025/QH15; đặc biệt, hộ kinh doanh chuyển đổi lên doanh nghiệp được áp dụng thuế suất ưu đãi 15-17% và được miễn thuế trong 2 năm đầu theo Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2025. Nghị định số 20/2026/NĐ-CP cụ thể hóa các điều kiện và thủ tục áp dụng ưu đãi này.

(3) Nhà nước cung cấp miễn phí phần mềm kế toán, nền tảng số và dịch vụ tư vấn pháp lý cho hộ kinh doanh chuyển đổi, song song với chương trình đào tạo ngắn hạn về kế toán, quản trị và đăng ký kinh doanh trực tuyến. Tuy nhiên, từ ngày 01/01/2026, Nghị định số 296/2025/NĐ-CP ngày 16/11/2025 đồng thời cho phép cưỡng chế tài sản riêng của từng thành viên hộ kinh doanh nếu tài sản chung không đủ để thi hành quyết định xử phạt, qua đó tạo áp lực pháp lý buộc hộ kinh doanh phải chuyển đổi sang hình thức doanh nghiệp có tư cách pháp nhân nhằm bảo vệ tài sản cá nhân.

3. Một số giải pháp

Thứ nhất, bảo đảm môi trường kinh doanh bình đẳng cho doanh nghiệp tư nhân.

Thể chế kinh tế là nền tảng quyết định chất lượng môi trường đầu tư và khả năng phát triển của khu vực doanh nghiệp tư nhân. Kết quả khảo sát PCI cho thấy chất lượng thực thi thể chế vẫn còn nhiều điểm nghẽn, nhất là về cạnh tranh bình đẳng ở cấp địa phương. Chỉ số gia nhập thị trường giảm nhẹ từ 7,27 xuống 7,07 điểm, phản ánh doanh nghiệp vẫn gặp những khó khăn nhất định trong quá trình thành lập và mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đáng chú ý hơn, chỉ số cạnh tranh bình đẳng tiếp tục giảm từ 5,82 xuống còn 5,51 điểm, đồng thời là chỉ tiêu thấp nhất trong hệ thống PCI năm 2025. Điều này cho thấy doanh nghiệp tư nhân vẫn chưa được tiếp cận bình đẳng về đất đai, tín dụng, mua sắm công và các cơ hội đầu tư; đồng thời phản ánh khoảng cách giữa chủ trương cải cách và hiệu quả thực thi chính sách ở các địa phương. Theo lý thuyết thể chế, sự thiếu minh bạch, thiếu ổn định và cạnh tranh không bình đẳng sẽ làm gia tăng chi phí giao dịch, làm giảm niềm tin của thị trường và hạn chế động lực đầu tư của doanh nghiệp (North, 1990; Williamson, 2000).

Giải pháp trọng tâm là nâng cao chất lượng thực thi thể chế, bảo đảm cạnh tranh bình đẳng cho doanh nghiệp tư nhân. Trong bối cảnh Nghị quyết số 68-NQ/TW đang được triển khai, trọng tâm không phải là ban hành thêm nhiều chính sách mới mà là bảo đảm các quy định về quyền tự do kinh doanh, quyền tài sản và cạnh tranh bình đẳng được thực thi thống nhất giữa các bộ, ngành và các địa phương. Cần gắn kết quả cải thiện PCI, mức độ hài lòng của doanh nghiệp và hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính với trách nhiệm của chính quyền địa phương, nhất là người đứng đầu. Đồng thời, cần bảo đảm doanh nghiệp tư nhân được tiếp cận bình đẳng với đất đai, tín dụng, mua sắm công, đầu tư công và các chương trình hỗ trợ của Nhà nước.

Cần giảm chi phí giao dịch và nâng cao tính minh bạch của môi trường kinh doanh thông qua chuyển đổi số trong quản trị nhà nước. Cần đẩy nhanh liên thông dữ liệu về doanh nghiệp, đầu tư, đất đai, thuế và mua sắm công; mở rộng sử dụng hồ sơ điện tử; ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong tiếp nhận, xử lý và giám sát thủ tục hành chính; đồng thời công khai đầy đủ thông tin về quy hoạch, đất đai, đầu tư và các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp trên nền tảng số thống nhất. Cách tiếp cận này giúp giảm cơ chế xin – cho, nâng cao khả năng dự báo của chính sách và củng cố niềm tin của doanh nghiệp tư nhân vào môi trường kinh doanh (North, 1990; Williamson, 2000; World Bank, 2020).

Thứ hai, tháo gỡ rào cản tín dụng và đa dạng hóa nguồn vốn.

Theo VCCI (2025), 44% doanh nghiệp không biết đến các chương trình hỗ trợ tín dụng ưu đãi, thấp nhất trong nhóm hỗ trợ doanh nghiệp, phản ánh một nghịch lý: dù lực lượng lao động trong khu vực ngoài nhà nước chiếm 59,2% và vốn đầu tư chiếm 55,9% toàn nền kinh tế, doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn tiếp cận vốn khó khăn hơn đáng kể so với doanh nghiệp nhà nước và FDI. Do đó, cần chuyển sang mô hình bảo lãnh tín dụng chia sẻ rủi ro có điều kiện: nhà nước bảo lãnh có chọn lọc dựa trên tiềm năng tăng trưởng, dòng tiền và lịch sử tuân thủ thay vì chỉ dựa vào tài sản thế chấp (Beck et al., 2005; OECD, 2021). Song song, cần xây dựng hệ thống xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp dựa trên dữ liệu thuế, hóa đơn điện tử, bảo hiểm xã hội và lịch sử thanh toán, qua đó giảm bất cân xứng thông tin giữa ngân hàng và doanh nghiệp. Thay vì tiếp tục mở rộng thêm nhiều chương trình hỗ trợ mới, cần tập trung giúp doanh nghiệp tiếp cận tốt hơn các chính sách hiện có thông qua cổng thông tin thống nhất về tín dụng ưu đãi, quỹ bảo lãnh tín dụng, Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa và các chương trình hỗ trợ của địa phương.

Hỗ trợ chính thức hóa hộ kinh doanh và đa dạng hóa các kênh huy động vốn cho doanh nghiệp tư nhân. Cần tập trung hỗ trợ hộ kinh doanh thích ứng với phương thức quản lý mới thông qua tư vấn kế toán, thuế, hóa đơn điện tử, phần mềm quản trị và quản trị tài chính, qua đó hình thành lịch sử tài chính minh bạch và tạo điều kiện tiếp cận tín dụng chính thức. Bên cạnh tín dụng ngân hàng, cần phát triển các kênh vốn khác như quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ đổi mới sáng tạo, cho thuê tài chính và các hình thức huy động vốn hợp pháp trên nền tảng số. Hỗ trợ tài chính cần gắn với nâng cao năng lực quản trị, minh bạch thông tin và quản trị dòng tiền để doanh nghiệp sử dụng vốn hiệu quả và bền vững hơn (World Bank, 2020; OECD, 2021).

Thứ ba, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.

Theo Cục Thống kê (2024), năng suất lao động toàn nền kinh tế đạt 9.184 USD/lao động, tăng 728 USD so với 2023, nhưng vẫn thấp hơn đáng kể so với mức trung bình ASEAN, phản ánh thách thức về đổi mới công nghệ trong khu vực doanh nghiệp tư nhân. Với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2024 đạt 786,9 tỷ USD, trong đó ngành công nghiệp chế biến chiếm 88,1% kim ngạch xuất khẩu, áp lực nâng cấp công nghệ cho doanh nghiệp tư nhân trong chuỗi sản xuất xuất khẩu trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết (Cục Thống kê, 2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết số 68-NQ/TW đặt ra yêu cầu khu vực tư nhân phải dẫn đầu trong đổi mới sáng tạo, làm chủ công nghệ cốt lõi và giảm phụ thuộc vào công nghệ nhập khẩu. Giải pháp trọng tâm là triển khai mô hình Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia (NIC) lan tỏa xuống cấp vùng, cung cấp dịch vụ hỗ trợ R&D theo nhu cầu thực tế của doanh nghiệp tư nhân, không theo kế hoạch hành chính.

Cần đơn giản hóa triệt để thủ tục hưởng ưu đãi thuế R&D để các doanh nghiệp nhỏ và vừa thực sự tiếp cận được, thay vì chỉ dành cho các tập đoàn lớn. Đặc biệt, với mục tiêu xuất khẩu khu vực kinh tế trong nước tăng 20,1% trong năm 2024 và PCI 2025 cho thấy chỉ 27% doanh nghiệp biết đến chương trình hỗ trợ FTA, cần xây dựng nền tảng số hóa toàn bộ thông tin về FTA, kết nối trực tiếp với doanh nghiệp ở cấp tỉnh theo cách đơn giản, thực tế, thay vì hội nghị, hội thảo một chiều (Cục Thống kê, 2024; VCCI, 2025). Chính sách đổi mới sáng tạo cần hướng tới việc nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp, coi đây là nền tảng cho tăng trưởng năng suất và năng lực cạnh tranh trong dài hạn (Acs & Audretsch, 2005; Schumpeter, 1934).

Thứ tư, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và hình thành doanh nghiệp tư nhân đầu đàn.

Năm 2024, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ đạt 28,4%, tăng từ 27,2% năm 2023, nhưng vẫn thấp so với yêu cầu của một nền kinh tế định hướng công nghệ cao (Cục Thống kê, 2024). Trong khi năng suất lao động tổng thể tăng 5,91% năm 2024, khoảng cách giữa năng suất trong khu vực FDI và khu vực ngoài nhà nước vẫn còn rất lớn, phản ánh hạn chế về công nghệ và kỹ năng quản trị của doanh nghiệp tư nhân. Giải pháp không phải là mở thêm các lớp tập huấn ngắn hạn mà là xây dựng hệ sinh thái học tập liên tục gắn với thị trường lao động: tăng cường hợp tác giữa doanh nghiệp tư nhân và các trường đại học trong đặt hàng nghiên cứu và đào tạo theo nhu cầu thực tế, phát triển các chứng chỉ kỹ năng số và kỹ năng quản trị được công nhận rộng rãi (Barney, 1991; OECD, 2021).

Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 đặt mục tiêu đến năm 2030 có ít nhất 20 doanh nghiệp tư nhân lớn tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, một mục tiêu đòi hỏi sự chuyển dịch căn bản trong cách tiếp cận chính sách. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy chính sách phát triển doanh nghiệp đầu đàn cần gắn với lựa chọn ngành ưu tiên, điều kiện hiệu quả rõ ràng, yêu cầu đổi mới công nghệ và khả năng tham gia thị trường xuất khẩu (Rodrik, 2004; OECD, 2021). Việt Nam có thể ưu tiên hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân trong các chuỗi xuất khẩu công nghệ cao, vốn đã chiếm 88,1% kim ngạch xuất khẩu nhưng hiện vẫn do doanh nghiệp FDI dẫn dắt (Cục Thống kê, 2024). Mục tiêu là nâng tỷ trọng đóng góp của khu vực kinh tế trong nước trong kim ngạch xuất khẩu, hiện ở mức 28,3%, lên mức cao hơn đáng kể nhờ các doanh nghiệp tư nhân được đào tạo và định hướng tham gia chuỗi cung ứng quốc tế.

Tài liệu tham khảo:
Acs, Z. J., & Audretsch, D. B. (2005). Entrepreneurship, innovation and technological change, Foundations and Trends® in Entrepreneurship, 1(4), 149–195. https://doi.org/10.1561/0300000004.
Barney, J. (1991). Firm resources and sustained competitive advantage, Journal of Management, 17(1), 99–120. https://doi.org/10.1177/014920639101700108.
Beck, T., Demirgüç-Kunt, A., & Maksimovic, V. (2005). Financial and legal constraints to firm growth: Does firm size matter? The Journal of Finance, 60(1), 137–177. https://doi.org/10.1111/j.1540-6261.2005.00727.
Bộ Thông tin và Truyền thông (2023). Báo cáo chuyển đổi số doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam năm 2023. Bộ Thông tin và Truyền thông.
Cục Thống kê (2024). Niên giám Thống kê Việt Nam 2024. Nxb Thống kê.
Cục Thống kê. (2025). Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam năm 2025. Nxb Thống kê.
Cục Thống kê (2026), Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội quý IV và năm 2025. Cục Thống kê.
North, D. C. (1990). Institutions, institutional change and economic performance. Cambridge University Press. https://doi.org/10.1017/CBO9780511808678
OECD (2021). OECD SME and entrepreneurship outlook 2021, OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/97a5bbfe-en
Rodrik, D (2004). Industrial policy for the twenty-first century, KSG Faculty Research Working Paper No. RWP04-047, Harvard Kennedy School.
Schumpeter, J. A (1934). The theory of economic development: An inquiry into profits, capital, credit, interest, and the business cycle. Harvard University Press.
Solow, R. M. (1956). A contribution to the theory of economic growth. The Quarterly Journal of Economics, 70(1), 65–94. https://doi.org/10.2307/1884513
VCCI (2025). Báo cáo kinh tế tư nhân Việt Nam 2025 và Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) 2025. VCCI.
Williamson, O. E (2000). The new institutional economics: Taking stock, looking ahead. Journal of Economic Literature, 38(3), 595–613. https://doi.org/10.1257/jel.38.3.595
World Bank (2020). Doing Business 2020: Comparing business regulation in 190 economies. World Bank. https://doi.org/10.1596/978-1-4648-1440-2