Enhancing the effectiveness of inter-agency coordination in public policy implementation in Vietnam today
ThS. Dương Thu Hương
Cơ quan đại diện Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tại phía Nam
(Quanlynhanuoc.vn) – Thực thi chính sách công là giai đoạn then chốt chuyển hóa các ý đồ, mục tiêu chính trị – pháp lý thành kết quả hiện thực trong đời sống xã hội. Trong bối cảnh quản trị công hiện đại, trước tính chất phức tạp, liên ngành và đa chiều của các vấn đề công, sự vận hành đơn lẻ của từng cơ quan hành chính nhà nước đã bộc lộ những giới hạn rõ rệt. Bài viết phân tích cơ sở lý luận về phối hợp liên cơ quan từ góc độ quản trị công, nhận diện những điểm nghẽn thực trạng tại Việt Nam như tư duy cục bộ ngành, khoảng trống pháp lý, cơ chế chia sẻ thông tin phân mảnh và tình trạng đùn đẩy trách nhiệm. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp liên cơ quan, hướng tới xây dựng nền hành chính phục vụ, kiến tạo và phát triển.
Từ khóa: Phối hợp liên cơ quan; thực thi chính sách công; quản trị nhà nước; cải cách hành chính; thể chế phối hợp.
Abstract: Public policy implementation is a pivotal stage in translating political and legal intentions and objectives into tangible outcomes within social life. In the context of modern public governance, given the complex, interdisciplinary, and multidimensional nature of public issues, the isolated operation of individual state administrative agencies has revealed distinct limitations. This article analyzes the theoretical foundations of inter-agency coordination from a public governance perspective and identifies current practical bottlenecks in Vietnam, such as departmentalism, legal gaps, fragmented information-sharing mechanisms, and the shifting of responsibility. On this basis, the author proposes a comprehensive set of solutions to enhance the effectiveness of inter-agency coordination, aiming towards the development of a service-oriented, proactive, and developmental public administration.
Keywords: Inter-agency coordination; public policy implementation; state governance; administrative reform; coordination institution.
1. Đặt vấn đề
Trong chu trình chính sách công, giai đoạn thực thi giữ vị trí quyết định đối với sự thành bại của mọi đường lối, chủ trương và quy định pháp luật. Một chính sách dù được hoạch định công phu, chuẩn xác về mặt mục tiêu nhưng nếu khâu tổ chức thực hiện yếu kém, thiếu đồng bộ thì không thể mang lại kết quả như kỳ vọng, thậm chí có nguy cơ làm xói mòn niềm tin của người dân vào bộ máy công quyền (Nguyễn Hữu Hải, Lê Văn Hoà, 2018). Thực tiễn phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam trong giai đoạn đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng đang đặt ra những bài toán phát triển mang tính liên ngành ngày càng phức tạp. Các vấn đề công hiện đại – từ chuyển đổi mô hình tăng trưởng, quản lý đất đai, bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu cho đến an sinh xã hội và chuyển đổi số quốc gia không còn nằm trọn vẹn trong phạm vi thẩm quyền của một bộ, ngành hay một cấp chính quyền đơn lẻ (Học viện Hành chính Quốc gia, 2021). Điều này đòi hỏi sự tương tác, cộng tác và liên kết chặt chẽ giữa nhiều cơ quan chức năng trong bộ máy hành chính nhà nước. Tuy nhiên, thực tế tổ chức thực thi chính sách tại Việt Nam thời gian qua cho thấy cơ chế phối hợp liên cơ quan vẫn là một trong những “nút thắt cổ chai” nan giải nhất của nền hành chính. Tình trạng “cát cứ thông tin”, “quyền anh, quyền tôi”, đùn đẩy trách nhiệm giữa các cơ quan đồng cấp hoặc sự tắc nghẽn mệnh lệnh giữa cấp trung ương và địa phương diễn ra tương đối phổ biến. Hệ quả là nhiều dự án chậm tiến độ, chính sách bị kéo dài thời gian triển khai, làm tăng chi phí tuân thủ của xã hội và suy giảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Do đó, việc nghiên cứu có hệ thống từ cơ sở lý luận đến thực tiễn nhằm tìm kiếm các giải pháp đồng bộ nâng cao hiệu quả phối hợp liên cơ quan trong thực thi chính sách công là đòi hỏi cấp bách, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với công cuộc cải cách hành chính nhà nước hiện nay.
2. Cơ sở lý luận về phối hợp liên cơ quan trong thực thi chính sách công
2.1. Quan niệm và bản chất của phối hợp liên cơ quan trong chu trình chính sách công
Trong khoa học hành chính hiện đại, việc tiếp cận thực thi chính sách công không chỉ đơn thuần là việc áp dụng máy móc các văn bản quy phạm pháp luật vào đời sống theo một chiều từ trên xuống, mà thực chất là một chuỗi các tương tác phức tạp giữa nhiều chủ thể nhằm hiện thực hóa các mục tiêu đã đề ra. Quá trình đó đòi hỏi sự tham gia đồng thời của nhiều tổ chức công quyền có thẩm quyền, chức năng và nguồn lực khác nhau. Dưới góc độ quản trị học, phối hợp liên cơ quan (Inter-agency Coordination) được hiểu là quá trình có chủ đích mà ở đó các cơ quan, đơn vị thuộc bộ máy hành chính cùng tương tác, điều chỉnh hành vi tác nghiệp, chia sẻ nguồn lực và đồng bộ hóa các hoạt động chuyên môn nhằm đạt tới các mục tiêu chung của chính sách công (Peters,B.G, 2015).
Xem xét từ bản chất, hoạt động phối hợp này không nhằm mục đích làm mờ nhạt hay xóa bỏ ranh giới thẩm quyền được pháp luật phân định cho từng tổ chức bộ máy. Thay vào đó, nó thiết lập một cơ chế liên kết động, mở ra các kênh đối thoại chính thức và phi chính thức giữa các cơ quan hành chính vốn có tính độc lập tương đối về mặt chức năng. Sự vận hành của nền hành chính truyền thống dựa trên cơ cấu quan liêu thứ bậc chặt chẽ của Max Weber tuy đảm bảo tính kỷ cương và chuyên môn hóa sâu, nhưng lại dễ tạo ra hiện tượng “tháp quyền lực khép kín” (Silos). Khi các vấn đề công ngày càng mang tính liên ngành và biến động nhanh chóng, mô hình khép kín này lập tức bộc lộ sự bất cập trước yêu cầu xử lý công việc. Do đó, bản chất của phối hợp liên cơ quan chính là nỗ lực vượt qua ranh giới hành chính cục bộ để liên kết các nguồn lực phân tán, thống nhất chuẩn mực giải quyết công việc, chia sẻ dữ liệu và san sẻ trách nhiệm về kết quả đầu ra của chính sách nhằm phụng sự lợi ích công cộng một cách tốt nhất.
2.2. Các chiều cạnh không gian và mức độ tương tác trong quản trị liên cơ quan
Dưới lăng kính của lý thuyết tổ chức và quản trị công, mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan hành chính nhà nước thường được phân bổ và vận hành theo hai chiều cạnh không gian căn bản:
Thứ nhất, phối hợp theo chiều ngang (Horizontal Coordination). Đây là dạng thức phối hợp diễn ra giữa các cơ quan có địa vị pháp lý tương đương nhau, điển hình là mối quan hệ giữa các bộ, cơ quan ngang bộ ở cấp trung ương, hoặc giữa các sở, ban, ngành chuyên môn ở cấp tỉnh. Điểm đặc thù của mối quan hệ này là không tồn tại quan hệ mệnh lệnh – phục tùng trực tiếp theo thứ bậc hành chính. Việc đạt được sự thống nhất trong hành động hoàn toàn phụ thuộc vào quá trình thương lượng, thỏa thuận, sự đồng thuận về mặt lợi ích và nhận thức chung đối với mục tiêu chính sách (Bouckaert, G, Peters, B.G, & Verhoest, K, 2010). Đây cũng chính là không gian thường phát sinh các xung đột về thẩm quyền và hiện tượng đùn đẩy trách nhiệm rõ rệt nhất nếu thiếu vắng một quy chế phối hợp minh bạch hoặc thiếu một nhạc trưởng điều phối có đủ uy tín chính trị.
Thứ hai, phối hợp theo chiều dọc (Vertical Coordination). Dạng thức này vận hành xuyên suốt qua các cấp hành chính theo thứ bậc từ trung ương xuống cơ sở (từ bộ chuyên ngành đến Ủy ban nhân dân các cấp, sở, phòng ban chuyên môn). Mối quan hệ dọc đòi hỏi sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa thẩm quyền chỉ huy hành chính mang tính pháp quy của cấp trên với tính chủ động, linh hoạt và khả năng nắm bắt thực tiễn của cấp dưới (Đoàn Trọng Truyến, 1997). Nếu phối hợp dọc bị tắc nghẽn, các chỉ đạo chính sách sẽ rơi vào tình trạng “trên bảo dưới không nghe” hoặc chính sách ban hành từ trung ương bị méo mó, biến dạng khi triển khai tại địa phương do thiếu sự lắng nghe và phản hồi thông tin hai chiều.
Đi sâu vào cấu trúc vận hành của quản trị hợp tác (Collaborative Governance), sự phối hợp liên cơ quan không tồn tại ở một trạng thái tĩnh mà phát triển qua các cấp độ tương tác từ thấp đến cao. Ở nấc thang cơ bản nhất, phối hợp đơn thuần dừng lại ở việc trao đổi, cung cấp thông tin theo yêu cầu nghiệp vụ. Khi phát triển lên mức độ trung bình, các cơ quan bắt đầu chủ động đối thoại để hòa hợp hành động, tránh chồng chéo chức năng và giảm thiểu xung đột thẩm quyền. Ở cấp độ cao nhất – đỉnh cao của quản trị công hiện đại, phối hợp liên cơ quan chuyển hóa thành sự tích hợp chính sách toàn diện và cùng đồng kiến tạo giá trị công (Co-creation of public value) (Ansell, C.,& Gash, 2008). Ở nấc thang này, ranh giới cục bộ giữa các ngành được xóa nhòa để nhường chỗ cho một mạng lưới hành động thống nhất vì kết quả phục vụ xã hội.
2.3. Hệ tiêu chí khoa học đánh giá hiệu quả phối hợp liên cơ quan trong thực thi chính sách
Để đo lường một cách khách quan mức độ thành công hay thất bại của cơ chế phối hợp liên cơ quan, khoa học quản trị hành chính đã định hình một hệ thống tiêu chí đánh giá cốt lõi:
Một là, tính kịp thời và độ thông suốt về mặt thời gian. Trong bối cảnh thông tin biến đổi không ngừng, thời gian phản hồi giữa các cơ quan giữ vai trò quyết định. Một cơ chế phối hợp hiệu quả phải đảm bảo các văn bản lấy ý kiến, dữ liệu nghiệp vụ và các chỉ đạo điều hành được xử lý nhanh chóng, không bị tồn đọng hay rơi vào tình trạng “ngâm” hồ sơ làm lỡ mất thời cơ can thiệp chính sách.
Hai là, tính đồng bộ, nhất quán và liên thông về nội dung. Tiêu chí này phản ánh chất lượng của các văn bản hướng dẫn và quyết định hành chính do các cơ quan liên quan ban hành. Sự phối hợp tốt phải triệt tiêu hoàn toàn tình trạng “vênh” nhau về mặt quy định pháp luật giữa các ngành, không để xảy ra việc cơ quan này cấp phép trong khi cơ quan kia lại xử phạt đối với cùng một hành vi của người dân và doanh nghiệp.
Ba là, mức độ tối ưu hóa và tiết kiệm nguồn lực công. Sự phối hợp hiệu quả phải chứng minh được giá trị gia tăng thông qua việc giảm thiểu tối đa sự lãng phí ngân sách nhà nước và công sức của bộ máy. Điều này được thể hiện rõ nét nhất qua khả năng dùng chung cơ sở hạ tầng, chia sẻ dữ liệu liên thông và tận dụng chéo nguồn nhân lực chuyên môn thay vì mỗi ngành tự xây dựng một hệ thống riêng biệt, phân mảnh.
Bốn là, tính minh bạch và mức độ rõ ràng của trách nhiệm giải trình. Cơ chế phối hợp khoa học phải phân định rành mạch giữa vai trò của cơ quan chủ trì (chịu trách nhiệm bao quát và xuyên suốt về kết quả cuối cùng) với trách nhiệm chuyên môn của từng cơ quan phối hợp (Thang Văn Phúc, Nguyễn Minh Phương, 2005). Đã loại bỏ khoảng trống pháp lý – nơi các cơ quan có thể vin vào sự tham gia của tập thể để trốn tránh trách nhiệm cá nhân khi xảy ra sai sót hoặc thất bại chính sách.
3. Thực trạng phối hợp liên cơ quan trong thực thi chính sách công ở Việt Nam hiện nay
Bám sát chủ trương đổi mới và đẩy mạnh cải cách nền hành chính nhà nước, công tác phối hợp liên cơ quan trong quy trình thực thi chính sách công thời gian qua đã có những chuyển biến rõ nét, từng bước định hình phương thức quản trị hiện đại, linh hoạt và giàu tính thích ứng.
Khuôn khổ thể chế điều chỉnh mối quan hệ phối hợp giữa các chủ thể công quyền ngày càng được củng cố và hoàn thiện một cách đồng bộ. Việc thể chế hóa các nguyên tắc, trách nhiệm giải trình và quy trình lấy ý kiến giữa các bộ, ngành và chính quyền địa phương trong hệ thống pháp luật – đặc biệt là thông qua các quy định chi tiết tại Luật Tổ chức Chính phủ cùng hệ thống quy chế làm việc của Chính phủ đã tạo dựng hành lang pháp lý ngày một minh bạch, chuẩn hóa rõ ràng quyền hạn và nghĩa vụ của cơ quan chủ trì lẫn cơ quan phối hợp (Quốc hội, 2019). Nhờ đó, tính kỷ luật, kỷ cương hành chính trong khâu trao đổi văn bản và xử lý hồ sơ liên ngành từng bước đi vào nền nếp, hạn chế đáng kể các xung đột thẩm quyền mang tính cơ học.
Cùng với việc hoàn thiện hành lang pháp lý, phương thức chỉ đạo và điều hành liên ngành đã ghi nhận sự đổi mới vượt bậc thông qua mô hình các Ban Chỉ đạo quốc gia và Tổ công tác đặc biệt của Thủ tướng Chính phủ. Đây là điểm sáng tiêu biểu phản ánh tư duy quản trị linh hoạt của Chính phủ trong việc tháo gỡ kịp thời các “điểm nghẽn” thể chế, khơi thông nguồn lực đầu tư công và đẩy nhanh tiến độ các công trình, dự án kinh tế – xã hội trọng điểm (Trần Anh Tuấn, 2020). Cơ chế này đã phát huy tối đa vai trò trung tâm điều phối, giúp liên kết chặt chẽ các mắt xích quản lý chuyên ngành, rút ngắn đáng kể quy trình ra quyết định và tạo sự đồng thuận cao từ cấp trung ương đến cơ sở.
Đặc biệt, bước đột phá từ tiến trình chuyển đổi số quốc gia đã tạo xung lực mạnh mẽ thay đổi diện mạo phương thức tương tác giữa các cơ quan hành chính. Việc vận hành hiệu quả Trục liên thông văn bản quốc gia kết hợp với việc tích hợp các quy trình thủ tục trên Cổng Dịch vụ công quốc gia và Đề án 06 đã từng bước xóa bỏ rào cản chia cắt dữ liệu truyền thống (Phạm Hồng Thắng, 2023). Môi trường số không chỉ rút ngắn thời gian gửi nhận, xử lý thông tin liên thông mà còn nâng cao tính công khai, minh bạch, giúp lãnh đạo các cấp theo dõi sát sao tiến độ giải quyết công việc, tạo nền tảng vững chắc cho mô hình quản trị công hiện đại, phục vụ người dân và doanh nghiệp ngày một tốt hơn.
Bên cạnh những thành tựu mang tính nền tảng, thực tiễn vận hành cơ chế phối hợp liên cơ quan tại Việt Nam vẫn còn bộc lộ một số tồn tại nhất định, đòi hỏi phải tiếp tục hoàn thiện để nâng cao hơn nữa hiệu lực quản lý nhà nước.
Ở một số lĩnh vực quản lý phức tạp và mang tính giao thoa, tư duy cục bộ ngành đôi khi vẫn xuất hiện, khiến sự chủ động kết nối và chia sẻ nguồn lực giữa các đơn vị chưa đạt đến mức tối ưu (Lê Chi Mai, 2019). Bên cạnh đó, quy trình trao đổi, lấy ý kiến đóng góp giữa các cơ quan đồng cấp ở một vài thời điểm vẫn còn nặng tính hành chính, dẫn đến việc phản hồi ý kiến chuyên môn chưa thực sự đi thẳng vào trọng tâm vấn đề cần tháo gỡ, phần nào ảnh hưởng đến tính kịp thời trong quá trình ban hành các quyết định thực thi chính sách (Nguyễn Thị Hồng Hải, 2022). Tuy nhiên, đây là những hạn chế mang tính quá trình trong giai đoạn chuyển đổi mô hình quản trị, hoàn toàn có thể từng bước xử lý triệt để khi hạ tầng số được hoàn thiện toàn diện và văn hóa công vụ hợp tác được củng cố sâu rộng trong toàn hệ thống chính trị.
4. Một số giải pháp
Xuất phát từ các yêu cầu mang tính lý luận về quản trị hợp tác và sự cần thiết phải khắc phục triệt để những điểm nghẽn thực tiễn đã được nhận diện, việc nâng cao hiệu quả phối hợp liên cơ quan trong thời gian tới cần được triển khai thông qua bốn nhóm giải pháp trọng tâm, có tính gắn kết hữu cơ và bổ trợ lẫn nhau:
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện khung khổ thể chế và quy chế phối hợp theo hướng phân định rành mạch thẩm quyền, trách nhiệm.
Thể chế vừa là khuôn khổ pháp lý, vừa là “luật chơi” quyết định tính thông suốt của mọi quan hệ tương tác trong bộ máy công quyền. Cần rà soát, sửa đổi và chuẩn hóa các quy định pháp luật liên quan trực tiếp đến quy chế làm việc giữa các cơ quan hành chính nhà nước, trong đó phân định tuyệt đối rõ ràng giữa vai trò của cơ quan chủ trì và cơ quan phối hợp. Cơ quan chủ trì phải được trao đủ thẩm quyền mang tính quyết định để điều phối tiến độ và chịu trách nhiệm toàn diện về kết quả cuối cùng của chu trình thực thi chính sách; ngược lại, các cơ quan phối hợp phải chịu trách nhiệm pháp lý trực tiếp đối với các nội dung đóng góp chuyên môn thuộc phạm vi quản lý của ngành mình. Đặc biệt, để chấm dứt tình trạng ngâm hồ sơ hoặc trả lời chung chung mang tính né tránh, cần thể chế hóa và thực thi nghiêm ngặt nguyên tắc: hết thời hạn quy định, nếu cơ quan phối hợp không có ý kiến phản hồi bằng văn bản thì được coi là đồng ý với dự thảo/phương án của cơ quan chủ trì và phải liên đới chịu trách nhiệm nếu phát sinh sai phạm thuộc phạm vi ngành mình quản lý.
Thứ hai, nâng cao trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò điều phối mang tính dẫn dắt của người đứng đầu.
Người đứng đầu giữ vai trò là “nhạc trưởng” định hình quyết tâm chính trị và định hướng văn hóa làm việc của mỗi cơ quan. Cần thiết lập cơ chế ràng buộc trách nhiệm cá nhân của thủ trưởng các cơ quan, đơn vị đối với tiến độ và chất lượng phối hợp liên ngành. Cụ thể, các bộ, ngành và chính quyền địa phương cần đưa tiêu chí “hiệu quả phối hợp liên cơ quan và mức độ xử lý công việc liên thông” trở thành một tiêu chuẩn định lượng bắt buộc trong việc đánh giá, xếp loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ, bình xét thi đua và bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo hàng năm. Đồng thời, đối với các vấn đề chính sách phức tạp, mang tính liên ngành sâu sắc như chuyển đổi năng lượng, hạ tầng logistics hay ứng phó biến đổi khí hậu, cần tiếp tục phát huy và nhân rộng vai trò của các Tổ công tác liên ngành, Ban Chỉ đạo do một đồng chí lãnh đạo cấp cao trực tiếp chỉ huy nhằm kịp thời giải quyết xung đột lợi ích cục bộ giữa các bên liên quan.
Thứ ba, đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện, xây dựng hạ tầng dữ liệu liên thông và chuẩn hóa quy trình làm việc trên môi trường điện tử.
Đây là giải pháp công nghệ mang tính đòn bẩy nhằm phá vỡ dứt điểm hiện tượng “cát cứ thông tin” đã tồn tại kéo dài. Chính phủ và các địa phương cần tập trung hoàn thiện, kết nối và chia sẻ rộng rãi các cơ sở dữ liệu quốc gia trọng yếu (về dân cư, đất đai, đăng ký doanh nghiệp, bảo hiểm xã hội) trên nền tảng tích hợp và chia sẻ dữ liệu quốc gia (NDXP). Mọi quy trình lấy ý kiến, xử lý hồ sơ liên ngành cần được số hóa toàn trình trên môi trường mạng, cho phép tự động giám sát thời gian xử lý, theo dõi tình trạng giải quyết và truy xuất nguồn gốc trách nhiệm của từng chuyên viên, từng đơn vị theo thời gian thực. Khi toàn bộ quá trình tương tác công vụ được minh bạch hóa bằng dữ liệu số, sự chậm trễ hay đùn đẩy trách nhiệm sẽ lập tức bị nhận diện, từ đó thúc đẩy các cơ quan chủ động phối hợp một cách thực chất và kịp thời hơn.
Thứ tư, đổi mới văn hóa công vụ và đào tạo, bồi dưỡng năng lực quản trị liên ngành cho đội ngũ cán bộ, công chức.
Suy cho cùng, thể chế và công nghệ chỉ là công cụ, con người mới là chủ thể quyết định sự thành bại của mối quan hệ phối hợp. Cần từng bước chuyển đổi tư duy của đội ngũ công chức từ trạng thái “quản lý đơn ngành, phòng thủ trách nhiệm” sang tư duy “quản trị mạng lưới, hợp tác đồng kiến tạo giá trị công”. Để hiện thực hóa điều này, các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức cần nhanh chóng bổ sung vào chương trình giảng dạy các chuyên đề chuyên sâu về kỹ năng điều phối liên ngành, kỹ năng đàm phán chính sách công, kỹ năng quản trị xung đột và văn hóa phối hợp. Song song với đó, cần xây dựng môi trường công vụ khuyến khích sự cởi mở, thấu hiểu khó khăn của cơ quan đối tác, lấy mức độ hài lòng của người dân và sự phát triển chung của xã hội làm thước đo cao nhất cho hiệu quả phối hợp liên cơ quan trong việc thực thi chính sách công.
5. Kết luận
Nâng cao hiệu quả phối hợp liên cơ quan trong thực thi chính sách công là đòi hỏi khách quan, mang tính chiến lược và có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy hành chính nhà nước ở nước ta hiện nay. Thực tiễn đã chứng minh, một chính sách công dù được hoạch định công phu, chuẩn xác về mặt mục tiêu nhưng nếu thiếu đi cơ chế phối hợp thông suốt, đồng bộ và trách nhiệm giữa các mắt xích công quyền thì không thể tạo ra những chuyển biến đột phá trên thực tế. Những thành tựu nổi bật đạt được trong thời gian qua về hoàn thiện khung khổ pháp lý, đổi mới cơ chế điều phối liên ngành thông qua các ban chỉ đạo, tổ công tác đặc biệt cùng sự bứt phá từ hạ tầng số quốc gia là những minh chứng rõ nét cho quyết tâm xây dựng một Chính phủ hành động, linh hoạt và thích ứng cao. Mặc dù vẫn còn những tồn tại mang tính quá trình xuất phát từ tư duy cục bộ hay độ trễ của quy trình hành chính truyền thống, nhưng với việc triển khai đồng bộ bốn nhóm giải pháp – từ hoàn thiện thể chế phân định trách nhiệm, nâng cao vai trò dẫn dắt của người đứng đầu, liên thông dữ liệu số toàn diện cho đến đổi mới văn hóa công vụ hợp tác – nền hành chính Việt Nam hoàn toàn có đủ cơ sở để thiết lập một mô hình quản trị liên cơ quan hiện đại. Đó chính là đòn bẩy vững chắc để tháo gỡ dứt điểm các điểm nghẽn phát triển, hiện thực hóa khát vọng xây dựng một nền hành chính chuyên nghiệp, liêm chính, kiến tạo phát triển và lấy sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo cao nhất.
Tài liệu tham khảo:
Ansell, C., & Gash, A. (2008). Collaborative governance in theory and practice. Journal of Public Administration Research and Theory, 18(4), 543–571. https://doi.org/10.1093/jopart/mum032
Bouckaert, G., Peters, B. G., & Verhoest, K. (2010). The coordination of public sector organizations: Shifting patterns of public management. Palgrave Macmillan. https://doi.org/10.1057/9780230275256
Đoàn Trọng Truyến (Chủ biên). (1997). Hành chính học đại cương. Nxb Chính trị quốc gia.
Nguyễn Thị Hồng Hải (2022). Nâng cao năng lực thực thi chính sách công của đội ngũ công chức Việt Nam. Tạp chí Tổ chức nhà nước, số 8, tr. 34-38.
Nguyễn Hữu Hải, & Lê Văn Hòa (đồng chủ biên). (2016). Đại cương về phân tích chính sách công (Xuất bản lần thứ 3). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Peters, B. G. (2015). Pursuing horizontal management: The politics of public sector coordination. University Press of Kansas.
Thang Văn Phúc, Nguyễn Minh Phương (2005). Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới phương thức quản lý nhà nước. Nxb Chính trị quốc gia, tr. 204-208.
Quốc hội (2019). Luật Tổ chức Chính phủ (sửa đổi, bổ sung năm 2019), Điều 28.
Lê Chi Mai (2019). Cải cách thể chế hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay. Tạp chí Quản lý nhà nước, số 281, tr. 22-26.
Trần Anh Tuấn (2020). Đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Tạp chí Quản lý nhà nước, số 295, tr. 12-16.
Phạm Hồng Thắng (2023). Chuyển đổi số trong quản lý nhà nước: Thực trạng và giải pháp. Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 14(486), tr. 45-50.



