Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân lực y tế và sự vận dụng của Đảng trong phát triển nguồn nhân lực y tế thời kỳ đổi mới

Ho Chi Minh’s thought on healthcare human resources and the Communist Party of Vietnam’s application of this thought in developing healthcare human resources during renovation period.

ThS. Vũ Đức Văn
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
Email: ducvan120284@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân lực y tế và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong phát triển nguồn nhân lực y tế thời kỳ đổi mới. Trên cơ sở phương pháp lịch sử, phương pháp logic kết hợp với phân tích, tổng hợp và nghiên cứu các văn kiện của Đảng, bài viết làm rõ những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của nhân lực y tế; xây dựng đội ngũ thầy thuốc; đào tạo, rèn luyện y đức; sử dụng, trọng dụng và đãi ngộ nhân lực y tế; đồng thời, phân tích sự vận dụng của Đảng trong quá trình phát triển nguồn nhân lực y tế đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế. Kết quả nghiên cứu góp phần làm rõ cơ sở tư tưởng của đường lối phát triển nguồn nhân lực y tế; đồng thời, khẳng định giá trị bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh trong hoạch định chủ trương phát triển nguồn nhân lực y tế ở Việt Nam.

Từ khóa: Tư tưởng Hồ Chí Minh; Đảng Cộng sản Việt Nam; nguồn nhân lực y tế; thời kỳ đổi mới.

Abstract: This article analyzes Ho Chi Minh’s thought on healthcare human resources and the Communist Party of Vietnam’s application of this thought in healthcare human resource development during the Doi Moi period. Employing the historical and logical methods, combined with analysis, synthesis, and the study of Party documents, the article clarifies Ho Chi Minh’s fundamental views on the position and role of health human resources; the development of the medical workforce; the education and cultivation of medical ethics; and the utilization, recognition, and remuneration of health personnel. It also examines how the Communist Party of Vietnam has applied these ideas in developing health human resources to meet the requirements of national renewal and international integration. The findings contribute to clarifying the ideological foundation of the Party’s policies on health human resource development while reaffirming the enduring value of Ho Chi Minh’s thought in shaping policies for health human resource development in Vietnam.

Keywords: Ho Chi Minh Thought; Communist Party of Vietnam; healthcare human resources; renovation period.

1. Đặt vấn đề

Trong thời kỳ đổi mới, cùng với yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế và đổi mới hệ thống y tế, phát triển nguồn nhân lực y tế trở thành một trong những nhiệm vụ chiến lược, quyết định chất lượng chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe Nhân dân. Để hoạch định chủ trương phát triển nguồn nhân lực y tế đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kế thừa và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân lực y tế. Những quan điểm của Người về vị trí, vai trò của đội ngũ thầy thuốc; xây dựng đội ngũ vừa có y đức, vừa giỏi chuyên môn; coi trọng đào tạo, sử dụng, trọng dụng và đãi ngộ nhân tài y tế đã trở thành nền tảng tư tưởng quan trọng cho quá trình phát triển nguồn nhân lực y tế ở Việt Nam.

Thời gian qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh đối với ngành Y tế và các chủ trương của Đảng về phát triển nguồn nhân lực y tế. Tuy nhiên, các công trình chủ yếu tiếp cận tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương của Đảng như hai vấn đề tương đối độc lập; việc làm rõ sự kế thừa và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong quá trình Đảng hoạch định chủ trương phát triển nguồn nhân lực y tế thời kỳ đổi mới vẫn chưa được nghiên cứu một cách hệ thống. Trên cơ sở phương pháp lịch sử, phương pháp logic kết hợp với phân tích, tổng hợp và nghiên cứu các văn kiện của Đảng, bài viết tập trung làm rõ những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân lực y tế và sự vận dụng của Đảng trong phát triển nguồn nhân lực y tế thời kỳ đổi mới, qua đó, góp phần bổ sung cơ sở lý luận, khẳng định giá trị bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh trong hoạch định chủ trương phát triển nguồn nhân lực y tế ở Việt Nam.

2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân lực y tế

Trong toàn bộ di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe Nhân dân luôn được đặt ở vị trí đặc biệt quan trọng, gắn chặt với mục tiêu xây dựng con người và phát triển đất nước. Người khẳng định: “Mỗi một người dân yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt, mỗi một người dân mạnh khỏe tức là cả nước mạnh khỏe” (Hồ Chí Minh, 2011b, tr. 241). Quan điểm đó thể hiện nhận thức sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về mối quan hệ biện chứng giữa sức khỏe của mỗi cá nhân với sức mạnh của quốc gia; đồng thời, xác lập cơ sở tư tưởng cho việc xây dựng nền y tế cách mạng lấy con người làm trung tâm.

Xuất phát từ quan điểm đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt đề cao vị trí, vai trò của đội ngũ nhân lực y tế trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe Nhân dân. Người chỉ rõ: “Muốn phát triển sức khỏe của Nhân dân thì phải cần thầy thuốc” (Hồ Chí Minh, 2011d, tr. 53). Theo Người, thầy thuốc không chỉ thực hiện chức năng khám, chữa bệnh mà còn là lực lượng trực tiếp bảo vệ, duy trì và nâng cao chất lượng nguồn lực con người – nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước. Vì vậy, Người khẳng định nhiệm vụ của đội ngũ y tế là “giúp đỡ Nhân dân giữ gìn sức khỏe, chữa những bệnh tật mà thực dân để lại” (Hồ Chí Minh, 2011đ, tr. 502). Có thể thấy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nhân lực y tế không đơn thuần là một lực lượng chuyên môn mà còn là bộ phận quan trọng của sự nghiệp cách mạng, góp phần xây dựng một dân tộc khỏe mạnh, đủ sức bảo vệ và kiến thiết đất nước.

Trên cơ sở xác định rõ vai trò của đội ngũ cán bộ y tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng và phát triển nguồn nhân lực y tế. Ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, mặc dù đất nước còn vô vàn khó khăn, Người đã chỉ rõ nhiệm vụ xây dựng một nền y tế mới phải gắn với yêu cầu đào tạo đội ngũ cán bộ đáp ứng nhu cầu của Nhân dân: “Nay, chúng ta đã độc lập, tự do, cán bộ cần giúp đồng bào, giúp Chính phủ xây dựng một nền y tế thích hợp với nhu cầu của Nhân dân ta” (Hồ Chí Minh, 2011đ, tr. 343). Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nền y tế đó phải được xây dựng trên ba nguyên tắc cơ bản là “khoa học, dân tộc và đại chúng”, vừa tiếp thu tinh hoa y học hiện đại, vừa kế thừa những giá trị của y học dân tộc và phục vụ đông đảo quần chúng Nhân dân.

Để xây dựng đội ngũ nhân lực y tế đáp ứng yêu cầu cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh việc không ngừng nâng cao trình độ chính trị, đạo đức và chuyên môn. Người căn dặn đội ngũ cán bộ y tế phải “trau dồi tư tưởng và đạo đức của người cán bộ trong chế độ dân chủ: yêu nước, yêu dân, yêu nghề, đoàn kết nội bộ, thi đua học tập, thi đua công tác” (Hồ Chí Minh, 2011d, tr. 154); đồng thời, phải “đoàn kết chặt chẽ, nêu cao tinh thần tập thể, thi đua học tập và công tác để tiến bộ không ngừng về chính trị, tư tưởng, về chuyên môn kỹ thuật” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 15, tr. 361). Đặc biệt, với tầm nhìn khoa học và tinh thần kế thừa truyền thống dân tộc, Người yêu cầu đội ngũ y tế “chú trọng nghiên cứu và phối hợp thuốc “Đông” và thuốc “Tây” (Hồ Chí Minh, 2011đ, tr. 344),  coi đó là hướng đi phù hợp để xây dựng nền y học Việt Nam tiên tiến nhưng vẫn đậm đà bản sắc dân tộc.

Trong hệ thống tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nhân lực y tế, y đức giữ vị trí nền tảng. Theo Người, trình độ chuyên môn chỉ thực sự có ý nghĩa khi được soi sáng bởi đạo đức nghề nghiệp và tinh thần phục vụ Nhân dân. Vì vậy, Người căn dặn: “Người thầy thuốc chẳng những có nhiệm vụ cứu chữa bệnh tật mà còn phải nâng đỡ tinh thần những người ốm yếu” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr. 487). Đối với người bệnh, đặc biệt là thương binh trong điều kiện chiến tranh, Người yêu cầu cán bộ y tế phải biết “lấy lòng nhân loại và tình thân ái mà cảm động cảm hóa họ” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr. 487). Từ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định chuẩn mực đạo đức cao nhất của người làm nghề y là: “Người thầy thuốc giỏi đồng thời phải là người mẹ hiền” (Hồ Chí Minh, 2011e, tr. 361). Quan niệm này không chỉ đề cao lòng nhân ái, tinh thần trách nhiệm và sự tận tụy đối với người bệnh mà còn trở thành giá trị cốt lõi của nền y đức Việt Nam. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ y tế phải coi việc chăm sóc sức khỏe Nhân dân là “trách nhiệm danh dự của mình” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr. 488), sẵn sàng cống hiến, hy sinh vì người bệnh và vì lợi ích của cộng đồng.

Không chỉ quan tâm đến đào tạo và rèn luyện đội ngũ cán bộ y tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đặc biệt coi trọng chính sách sử dụng, trọng dụng và đãi ngộ nhân lực y tế. Trong điều kiện đất nước vừa giành được độc lập, Người sớm nhận thấy sự thiếu hụt nghiêm trọng đội ngũ cán bộ chuyên môn và nhấn mạnh: “Nhân tài chuyên môn nhất là nhân tài về môn y tế, chỉ sẽ thiếu chứ chưa có thừa” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr. 487 – 488). Từ nhận thức đó, Người khẳng định: “Các ngành chuyên môn, nhất là ngành thuốc, sẽ được đặc biệt trọng đãi” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr. 488). Không dừng lại ở việc khuyến khích về tinh thần, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đề cao cơ chế động viên, khích lệ sáng tạo, khi tuyên bố: “Người nào hoặc bộ phận nào tìm được, chế tạo được một thứ thuốc mới có hiệu quả hoặc nghĩ ra cách gì mới làm cho việc y tế tiến bộ mau chóng hơn thì sẽ được trọng thưởng” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr. 488). Quan điểm này cho thấy, tư duy tiến bộ của Người về phát hiện, thu hút, trọng dụng nhân tài; đồng thời, khuyến khích nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực y tế.

Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân lực y tế là một hệ thống quan điểm toàn diện và thống nhất, bao gồm: nhận thức về vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ y tế; xây dựng nền y tế khoa học, dân tộc và đại chúng; đào tạo đội ngũ vừa hồng vừa chuyên; xây dựng y đức làm nền tảng của nghề nghiệp; đồng thời, coi trọng sử dụng, trọng dụng và đãi ngộ nhân tài y tế. Những quan điểm này không chỉ phản ánh tư duy chiến lược và giá trị nhân văn sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà còn trở thành nền tảng tư tưởng để Đảng Cộng sản Việt Nam kế thừa và vận dụng trong quá trình hoạch định chủ trương phát triển nguồn nhân lực y tế thời kỳ đổi mới.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong phát triển nguồn nhân lực y tế thời kỳ đổi mới

Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân lực y tế là nền tảng tư tưởng quan trọng để Đảng Cộng sản Việt Nam hoạch định chủ trương phát triển nguồn nhân lực y tế trong thời kỳ đổi mới. Kế thừa những quan điểm của Người về vị trí, vai trò của đội ngũ thầy thuốc; xây dựng đội ngũ vừa có y đức, vừa giỏi chuyên môn; coi trọng đào tạo, sử dụng và đãi ngộ nhân tài y tế, Đảng đã vận dụng linh hoạt, phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế và đổi mới hệ thống y tế. Sự vận dụng đó không chỉ thể hiện ở việc quán triệt những quan điểm cốt lõi của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà còn được cụ thể hóa thành hệ thống chủ trương, định hướng và chính sách phát triển nguồn nhân lực y tế phù hợp với yêu cầu của từng giai đoạn phát triển đất nước. Trên phương diện lý luận, quá trình vận dụng được thể hiện tập trung ở năm nội dung cơ bản:

Một là, từ tư tưởng Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của người thầy thuốc trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe Nhân dân, Đảng đã vận dụng để hình thành nhận thức về nguồn nhân lực y tế như một nguồn lực chiến lược của hệ thống y tế quốc gia. Sự vận dụng đó được thể hiện rõ trong Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23/02/2005 của Bộ Chính trị về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân trong tình hình mới, khi lần đầu tiên xác định: “Nghề y là một nghề đặc biệt, cần được tuyển chọn, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt” (Bộ Chính trị, 2005, tr. 2); đồng thời, yêu cầu đội ngũ cán bộ y tế không ngừng nâng cao đạo đức nghề nghiệp và năng lực chuyên môn theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trên nền tảng đó, Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 25/10/2017, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc ​và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới; Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân đã tiếp tục bổ sung nhận thức về phát triển nguồn nhân lực y tế gắn với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và xây dựng đội ngũ nhân lực chất lượng cao có khả năng hội nhập quốc tế. Như vậy, từ tư tưởng Hồ Chí Minh coi người thầy thuốc là lực lượng trực tiếp chăm sóc sức khỏe Nhân dân, Đảng đã vận dụng và phát triển thành nhận thức coi nguồn nhân lực y tế là nguồn lực chiến lược quyết định chất lượng và năng lực của hệ thống y tế quốc gia.

Hai là, về xây dựng đội ngũ thầy thuốc phục vụ Nhân dân. Đảng từng bước cụ thể hóa thành chủ trương phát triển nguồn nhân lực y tế theo quy mô toàn ngành, bảo đảm sự phát triển đồng bộ về số lượng, chất lượng, cơ cấu và phân bố. Nghị quyết số 46-NQ/TW yêu cầu “kiện toàn đội ngũ cán bộ y tế cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu” (Bộ Chính trị, 2005, tr. 4); đồng thời, chú trọng đào tạo cán bộ quản lý, tăng cường nhân lực cho miền núi, vùng sâu, vùng xa và vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn. Nghị quyết số 20-NQ/TW tiếp tục gắn phát triển nguồn nhân lực với mô hình bệnh tật và yêu cầu đổi mới hệ thống y tế; Nghị quyết số 72-NQ/TW ưu tiên phát triển nhân lực cho y tế cơ sở, y tế dự phòng, các chuyên ngành mũi nhọn và những lĩnh vực còn thiếu hụt nhân lực chất lượng cao. Có thể thấy, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ thầy thuốc đã được Đảng vận dụng thành định hướng phát triển nguồn nhân lực y tế toàn diện, bảo đảm sự phát triển hài hòa về số lượng, chất lượng, cơ cấu và phân bố trong toàn hệ thống.

Ba là, trong lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực y tế. Tư tưởng Hồ Chí Minh về “học tập và rèn luyện không ngừng” tiếp tục được Đảng cụ thể hóa thành các chủ trương đổi mới giáo dục y khoa và chuẩn hóa năng lực nghề nghiệp. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn yêu cầu cán bộ y tế phải thường xuyên học tập để tiến bộ về chính trị, tư tưởng và chuyên môn; kế thừa tư tưởng đó, Đảng xác định đổi mới giáo dục y khoa là khâu đột phá nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Nghị quyết số 46-NQ/TW chủ trương mở rộng quy mô và nâng cấp các cơ sở đào tạo; Kết luận số 118-KL/TW ngày 04/01/2016 yêu cầu “đổi mới căn bản, toàn diện công tác đào tạo, sớm giải quyết tình trạng bất cập về chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực y tế” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2016, tr. 4); Nghị quyết số 20-NQ/TW đề ra nhiều giải pháp, như: đổi mới giáo dục y khoa, thành lập Hội đồng Y khoa quốc gia, chuẩn hóa cấp chứng chỉ hành nghề theo thông lệ quốc tế và phát triển đào tạo liên tục. Đến Nghị quyết số 72-NQ/TW, việc xây dựng các cơ sở đào tạo ngang tầm khu vực, phát triển đội ngũ giảng viên chất lượng cao và tăng cường hợp tác quốc tế tiếp tục được nhấn mạnh. Những chủ trương đó thể hiện sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về học tập và rèn luyện không ngừng vào đổi mới căn bản công tác đào tạo, từng bước chuẩn hóa và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực y tế theo yêu cầu hội nhập quốc tế.

Bốn là, đối với xây dựng y đức. Đảng luôn quán triệt và vận dụng sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh coi đạo đức nghề nghiệp là nền tảng của người cán bộ y tế. Quan niệm người thầy thuốc giỏi đồng thời phải là người mẹ hiền tiếp tục được xác định là chuẩn mực nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ y tế. Nghị quyết số 46-NQ/TW yêu cầu đội ngũ cán bộ y tế đồng thời nâng cao đạo đức nghề nghiệp và trình độ chuyên môn; Kết luận số 118-KL/TW nhấn mạnh việc chấn chỉnh tinh thần, thái độ phục vụ người bệnh; Nghị quyết số 72-NQ/TW tiếp tục cụ thể hóa thông qua các chủ trương xây dựng chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, đổi mới giáo dục y đức, phát triển văn hóa ứng xử và xây dựng môi trường bệnh viện nhân văn. Có thể khẳng định, tư tưởng Hồ Chí Minh về y đức luôn được Đảng quán triệt xuyên suốt trong quá trình phát triển nguồn nhân lực y tế, bảo đảm sự gắn kết chặt chẽ giữa phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn và trách nhiệm phục vụ Nhân dân.

Năm là, về sử dụng, trọng dụng và đãi ngộ nguồn nhân lực y tế. Đảng đã vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh để từng bước hoàn thiện hệ thống chủ trương, chính sách phù hợp với yêu cầu phát triển của thời kỳ đổi mới. Nghị quyết số 46-NQ/TW khẳng định nghề y là một nghề đặc biệt, cần được “sử dụng và đãi ngộ đặc biệt” (Ban Chấp hành Trung ương, 2005, tr. 5). Tiếp đó, Nghị quyết số 20-NQ/TW yêu cầu “Có các chính sách đủ mạnh để khuyến khích người có trình độ chuyên môn làm việc tại y tế cơ sở, các vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, biên giới, hải đảo và trong các lĩnh vực y tế dự phòng, pháp y, tâm thần, lao, phong”  góp phần khắc phục tình trạng mất cân đối trong phân bố nhân lực. Đến Nghị quyết số 72-NQ/TW, Đảng tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu “có chính sách ưu đãi, đãi ngộ đặc biệt trong suốt quá trình từ đào tạo, tuyển dụng, sử dụng, phát huy năng lực”(Bộ Chính trị, 2025, tr. 5); đồng thời, hoàn thiện chính sách tiền lương, phụ cấp, môi trường làm việc và cơ hội phát triển nghề nghiệp. Qua từng giai đoạn phát triển, tư tưởng Hồ Chí Minh về trọng dụng nhân tài đã được Đảng cụ thể hóa thành hệ thống chính sách đồng bộ nhằm tạo động lực phát triển và phát huy hiệu quả đội ngũ nhân lực y tế.

Nhìn chung, trong thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng một cách nhất quán và sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân lực y tế trong quá trình hoạch định chủ trương phát triển nguồn nhân lực y tế. Sự vận dụng đó không chỉ kế thừa những giá trị cốt lõi trong tư tưởng của Người mà còn được cụ thể hóa thành hệ thống quan điểm, chủ trương và chính sách phù hợp với yêu cầu phát triển của từng giai đoạn. Qua đó, tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định vai trò là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho quá trình phát triển nguồn nhân lực y tế, góp phần đáp ứng yêu cầu bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân trong thời kỳ đổi mới.

4. Kết luận

Kết quả nghiên cứu khẳng định, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân lực y tế là cơ sở tư tưởng quan trọng để Đảng Cộng sản Việt Nam hoạch định và phát triển chủ trương về nguồn nhân lực y tế trong thời kỳ đổi mới. Trên nền tảng kế thừa những quan điểm của Người về vị trí, vai trò của đội ngũ thầy thuốc; xây dựng đội ngũ vừa có y đức, vừa giỏi chuyên môn; coi trọng đào tạo, sử dụng, trọng dụng và đãi ngộ nhân tài y tế, Đảng đã vận dụng sáng tạo vào điều kiện thực tiễn của đất nước, từng bước hình thành hệ thống quan điểm và chính sách phát triển nguồn nhân lực y tế phù hợp với yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế và đổi mới hệ thống y tế.

Quá trình vận dụng đó không chỉ bảo đảm sự kế thừa nhất quán các giá trị cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh mà còn thể hiện sự phát triển về nhận thức và chủ trương của Đảng trước những yêu cầu mới của thực tiễn. Qua đó, tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định giá trị bền vững cả về lý luận và thực tiễn, đồng thời là nền tảng tư tưởng và cơ sở định hướng quan trọng cho quá trình hoạch định, hoàn thiện và tổ chức thực hiện các chủ trương phát triển nguồn nhân lực y tế ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.

Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2016). Kết luận số 118-KL/TW ngày 04/01/2016 về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23/02/2005 của Bộ Chính trị khóa IX về công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân trong tình hình mới.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2017). Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 25/10/2017 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc ​và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới.
Bộ Chính trị (2005). Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23/02/2005 về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới.
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.
Hồ Chí Minh (2011a). Toàn tập (Tập 5).  Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011b). Toàn tập (Tập 6).  Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011b). Toàn tập (Tập 7).  Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011d). Toàn tập (Tập 8).  Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011đ). Toàn tập (Tập 9).  Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011e). Toàn tập (Tập 15).  Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.