Giải pháp duy trì vững chắc mức sinh thay thế ở Việt Nam

Solutions to firmly maintain replacement-level fertility in Vietnam

TS. Nguyễn Thị Minh Nguyệt
Học viện Hành chính và Quản trị công
Email: nguyetntm@apag.edu.vn

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích xu hướng suy giảm mức sinh ở Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi nhân khẩu học và những tác động của hiện tượng này đối với phát triển kinh tế – xã hội. Trên cơ sở đánh giá ý nghĩa của việc duy trì mức sinh thay thế, bài viết làm rõ nguyên nhân dẫn đến mức sinh giảm dưới ngưỡng thay thế, phân tích các hệ quả đối với quy mô dân số, cơ cấu lao động, già hóa dân số và hệ thống an sinh xã hội. Từ đó, đề xuất một số nhóm giải pháp trọng tâm nhằm duy trì vững chắc mức sinh thay thế, góp phần bảo đảm phát triển dân số bền vững và đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Từ khóa: Duy trì vững chắc; mức sinh thay thế; dân số; giải pháp; Việt Nam.

Abstract: This article analyzes the declining fertility trend in Vietnam within the context of demographic transition and its impacts on socio-economic development. Based on an assessment of the significance of maintaining replacement-level fertility, the paper clarifies the causes leading to the fertility rate falling below the replacement level and analyzes its consequences for population size, labor structure, population aging, and the social security system. From these insights, the article proposes key groups of solutions to firmly maintain replacement-level fertility, contributing to ensuring sustainable population development and meeting the country’s development requirements in the new period.

Keywords: Firmly maintain; replacement-level fertility; population; solutions; Vietnam.

1. Đặt vấn đề

Theo khoản 7 Điều 2 Luật Dân số năm 2025, mức sinh thay thế là mức sinh tính bình quân mỗi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (TFR) sinh 2,1 con. Ở Việt Nam, trước đây, thuật ngữ “duy trì vững chắc mức sinh thay thế” hàm ý việc kiểm soát mức sinh của các cặp vợ chồng, không để mức sinh vượt quá 2,1 con/một cặp vợ chồng. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, thuật ngữ này lại hàm ý không để TFR xuống dưới 2,1 con/một cặp vợ chồng.

Sự thay đổi này là do xu hướng biến đổi mức sinh ở Việt Nam những năm qua đã diễn ra nhanh chóng, vì vậy, chính sách thích ứng với xu hướng “duy trì vững chắc mức sinh thay thế” cũng cần phải thay đổi để nhằm bảo đảm quy mô, cơ cấu và chất lượng dân số hợp lý, tạo ra nguồn nhân lực phục vụ hiệu quả quá trình phát triển của đất nước.

2. Thực trạng và hệ quả suy giảm mức sinh ở Việt Nam hiện nay

2.1. Thực trạng suy giảm mức sinh ở Việt Nam từ năm 2022 đến nay

Năm 2006, Việt Nam đạt được một thành tựu to lớn trong công tác dân số, đó là lần đầu tiên đạt được mức sinh thay thế (2,1 con/một người phụ nữ theo độ tuổi sinh đẻ, áp dụng cho các nước đang phát triển). Việc đạt và duy trì mức sinh thay thế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia. Trước hết, mức sinh thay thế giúp duy trì quy mô dân số ổn định, tạo sự cân bằng giữa các thế hệ và bảo đảm nguồn nhân lực cho quá trình phát triển lâu dài. Đây cũng là điều kiện để khai thác hiệu quả thời kỳ cơ cấu dân số vàng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia. Đồng thời, duy trì mức sinh hợp lý giúp giảm áp lực lên hệ thống giáo dục, y tế, việc làm và an sinh xã hội, từ đó, hạn chế những hệ lụy do mức sinh quá thấp, như: già hóa dân số nhanh, thiếu hụt lao động và gia tăng gánh nặng chăm sóc người cao tuổi.

Bên cạnh đó, các gia đình có điều kiện đầu tư tốt hơn cho chăm sóc sức khỏe, giáo dục và phát triển toàn diện của con cái, từ đó, nâng cao chất lượng dân số và chất lượng nguồn nhân lực. Đối với Việt Nam, việc duy trì mức sinh thay thế không chỉ góp phần bảo đảm phát triển kinh tế bền vững mà còn tạo nền tảng vững chắc cho ổn định xã hội, quốc phòng, an ninh và thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước trong dài hạn.

Từ năm 2006 – 2022, mức sinh thay thế vẫn được giữ vững ở Việt Nam mặc dù có những giai đoạn có dấu hiệu không bền vững (trên 2,1 con). Trong suốt thời kỳ này, mục tiêu “duy trì vững chắc mức sinh thay thế” được hiểu là hạn chế số con của các cặp vợ chồng, hạn chế sinh con thứ 3 và bảo đảm mỗi cặp vợ chồng chỉ có trung bình 2,1 con và thấp hơn nữa để giảm tốc độ tăng quy mô dân số. Chiến lược dân số và sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011- 2020 đề ra mục tiêu: “Duy trì mức sinh thấp hợp lý, đáp ứng đầy đủ nhu cầu kế hoạch hóa gia đình của người dân, tăng khả năng tiếp cận dịch vụ hỗ trợ sinh sản có chất lượng” (Thủ tướng Chính phủ, 2011).

Tuy nhiên, TFR ở Việt Nam đã chính thức đảo ngược vào năm 2023. Do các yếu tố như ảnh hưởng của dịch Covid 19, sự khó khăn trong kinh tế và thu nhập, ảnh hưởng bởi suy giảm kinh tế toàn cầu…, dẫn đến những khó khăn về thu nhập, nhà ở và dịch vụ y tế, giáo dục khiến năm 2023, TFR của Việt Nam suy giảm nhanh và đột ngột. Đây là năm đầu tiên, TFR ở Việt Nam giảm xuống dưới mức sinh thay thế và là một xu hướng rất bất lợi cho dân số Việt Nam, trở thành một nguy cơ đối với quá trình phát triển của mỗi quốc gia.

Năm 2024 và 2025, xu hướng giảm sinh vẫn tiếp tục và thấp hơn rất nhiều so với mức sinh thay thế, xu thế này được dự báo vẫn tiếp tục diễn ra do các nguyên nhân như: quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã làm thay đổi quan niệm về hôn nhân và sinh con. Nhiều cặp vợ chồng có xu hướng kết hôn muộn, sinh con muộn hoặc chỉ sinh một con để ưu tiên học tập, phát triển sự nghiệp và nâng cao chất lượng cuộc sống (Võ Thu, 30/7/2026). Bên cạnh đó, chi phí nuôi dạy con ngày càng tăng, bao gồm: chi phí nhà ở, giáo dục, y tế và chăm sóc trẻ em, khiến nhiều gia đình, đặc biệt ở các đô thị lớn, cân nhắc việc sinh thêm con. Sự gia tăng tỷ lệ phụ nữ tham gia thị trường lao động cũng làm gia tăng áp lực cân bằng giữa công việc và gia đình, trong khi hệ thống dịch vụ hỗ trợ chăm sóc trẻ em và các chính sách thân thiện với gia đình chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu thực tiễn. Những thay đổi về giá trị xã hội và lối sống của thế hệ trẻ, với xu hướng đề cao tự do cá nhân, trải nghiệm và phát triển bản thân, cũng góp phần làm giảm mong muốn sinh nhiều con của các cặp vợ chồng (Thủ tướng Chính phủ, 2011).

Bảng 1. Số con trung bình của một người phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ giai đoạn 2020 2025

NămSố conThành thịNông thôn
20202,121,882,29
20222,011,722,24
20231,961,702,07
20241,911,672,08
20251,931,702,13
Nguồn: Niên giám Thống kê 2025, tr. 125

Bảng 2. Số con trung bình của một người phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ phân theo địa phương giai đoạn 2020 – 2025

Năm20202022202320242025
Đồng bằng sông Hồng2,342,172,082,072,13
Trung du miền núi phía bắc2,402,402,322,342,41
Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung2,312,292,362,112,37
Tây Nguyên2,412,312,222,242,24
Đông Nam Bộ1,621,471,471,481,48
Đồng bằng sông Cửu Long1,821,611,541,621,64
Nguồn: Niên giám Thống kê 2025, tr. 127

Từ Bảng 1Bảng 2 cho thấy, xu hướng suy giảm mức sinh đã khá rõ nét tại Việt Nam trong những năm gần đây. Mặc dù có sự chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, giữa các địa phương, giữa các vùng, miền khác nhau trên cả nước nhưng mức trung bình chung cả nước chỉ đạt 1,93 con vào năm 2025 và thấp kỷ lục vào năm 2024 với mức 1,91. Trong đó, Trung du miền núi phía Bắc là khu vực có mức sinh trung bình cao nhất Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long là hai khu vực có mức sinh trung bình thấp nhất cả nước. Điều này phản ánh xu hướng lựa chọn hành vi sinh đẻ khác nhau giữa các vùng, miền khác nhau. Ở thành thị, do chỉ số giá cả cao, chi tiêu cho các dịch vụ thiết yếu cao, tiếp cận nhà ở khó khăn và xu hướng kết hôn muộn dẫn đến giảm mức TFR nhanh. Trong giai đoạn 2020 – 2025, khu vực thành thị luôn có TFR dưới mức 2,1 con.

Ngược lại, khu vực nông thôn và một số vùng trung du và miền núi có TFR phổ biến cao hơn 2,1 con do chịu ảnh hưởng của phong tục, tập quán truyền thống và giá cả sinh hoạt thấp hơn ở khu vực thành thị.

2.2. Hệ quả của suy giảm dân số

Suy giảm dân số đã diễn ra nhiều năm trên thế giới, phổ biến ở các quốc gia phát triển, như: Nhật Bản (1,14 con) (Bùi Hà, 2026), Hàn Quốc (0.8 con) (Điệp Vũ, 2026), Đức (1,32) (Thu Hằng & Hoàng Châu, 2026), Liên bang Nga (1,4) (Quỳnh Chi, 2025) … Điều này cho thấy, sự suy giảm mức sinh xuống dưới mức sinh thay thế đang trở thành xu hướng phổ biến tại nhiều quốc gia và là một trong những thách thức nhân khẩu học lớn nhất của thế kỷ XXI. Ngày càng nhiều quốc gia ghi nhận mức sinh thấp kéo dài, dẫn đến tốc độ tăng dân số chậm lại, thậm chí suy giảm dân số tự nhiên. Hệ quả trước hết là quá trình già hóa dân số diễn ra nhanh chóng, làm thu hẹp lực lượng lao động trong khi số người cao tuổi ngày càng gia tăng. Từ đó, đã tạo áp lực lớn lên hệ thống an sinh xã hội, quỹ hưu trí, chăm sóc sức khỏe và dịch vụ chăm sóc dài hạn; đồng thời, làm giảm tiềm năng tăng trưởng kinh tế do thiếu hụt nguồn nhân lực và suy giảm năng suất.

Mức sinh thấp kéo dài còn làm thay đổi cấu trúc gia đình, gia tăng tình trạng sống đơn thân, giảm quy mô hộ gia đình và ảnh hưởng đến tính bền vững của nhiều cộng đồng địa phương. Điểm đáng lưu ý là hầu hết các quốc gia trên thế giới hiện nay chưa có chính sách hiệu quả để đảo ngược xu hướng này.

Tại Việt Nam, nếu xu hướng này tiếp diễn trong thời gian dài, Việt Nam cũng sẽ phải đối mặt với nguy cơ kết thúc sớm thời kỳ cơ cấu dân số vàng, đẩy nhanh tốc độ già hóa dân số và thiếu hụt nguồn lao động trong tương lai. Đồng thời, chi phí dành cho bảo hiểm xã hội, y tế và chăm sóc người cao tuổi sẽ gia tăng, trong khi số người tham gia đóng góp vào hệ thống an sinh có xu hướng giảm. Những tác động này không chỉ ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế mà còn đặt ra yêu cầu cấp thiết phải điều chỉnh chính sách dân số theo hướng duy trì vững chắc mức sinh thay thế, thích ứng với biến đổi cơ cấu dân số và bảo đảm phát triển bền vững trong bối cảnh mới.

3. Giải pháp duy trì vững chắc mức sinh thay thế ở Việt Nam trong thời gian tới

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế, chính sách hỗ trợ duy trì mức sinh thay thế.

Xây dựng các chính sách hỗ trợ trực tiếp đối với gia đình sinh đủ hai con như ưu đãi thuế; trợ cấp sinh con; hỗ trợ chi phí khám thai, sinh nở, sàng lọc trước và sau sinh, chăm sóc trẻ nhỏ và chính sách về nhà ở xã hội cho các cặp vợ chồng trẻ. Việc mở rộng chế độ thai sản, khuyến khích doanh nghiệp xây dựng môi trường làm việc thân thiện với gia đình và bảo đảm quyền lợi của lao động nữ sau sinh cũng là những giải pháp cần được ưu tiên nhằm giảm chi phí cơ hội của việc sinh con. Tính đến tháng 7/2026 đã có 8/34 tỉnh, thành phố đã ban hành nghị quyết, quy định về chính sách dân số. Trong đó, 5 địa phương đã ban hành chính sách khen thưởng, hỗ trợ nhằm khuyến khích sinh đủ hai con và duy trì mức sinh thay thế. Cụ thể, TP. Hồ Chí Minh hỗ trợ một lần 5 triệu đồng cho phụ nữ sinh đủ hai con trước 35 tuổi; Hải Phòng hỗ trợ 3 triệu đồng; Tây Ninh hỗ trợ 2 triệu đồng; Đồng Nai và Đồng Tháp hỗ trợ 1 triệu đồng (Võ Thu, 22/7/2026).

Thứ hai, giảm gánh nặng kinh tế và nâng cao chất lượng dịch vụ hỗ trợ gia đình.

Chi phí nuôi dạy con ngày càng cao là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến mức sinh thấp. Vì vậy, Nhà nước cần tăng đầu tư cho hệ thống giáo dục mầm non, y tế, chăm sóc trẻ em và mở rộng mạng lưới nhà trẻ, trường mẫu giáo với mức chi phí phù hợp. Bên cạnh đó, phát triển các dịch vụ chăm sóc trẻ ngoài giờ, hỗ trợ phụ huynh cân bằng giữa công việc và gia đình. Việc kiểm soát chi phí giáo dục, y tế và nhà ở cũng góp phần giảm áp lực tài chính, tạo điều kiện để các gia đình mạnh dạn sinh và nuôi dạy con. Hàn Quốc đã có rất nhiều nỗ lực tăng TFR để thay đổi mức TFR thấp nhất thế giới (0,8 con) bằng gói phúc lợi kỷ lục vào năm 2025 để khuyến khích sinh. Mỗi gia đình sinh con được nhận 30 triệu won tiền mặt. Ngân sách hỗ trợ thanh niên cũng tăng mạnh lên hơn 7.000 tỷ won; tạo thêm 50.000 việc làm mới cho người cao tuổi; dự án chăm sóc toàn diện tại cộng đồng cũng được mở rộng toàn quốc với ngân sách tăng lên 77,7 tỷ won… Chính phủ Hàn Quốc nỗ lực thực hiện cuộc cách mạng trong xu hướng dân số nhằm tăng số trẻ em được sinh ra và đảo ngược tình trạng khẩn cấp quốc gia này (Cục Dân số, 29/11/2025). Trung Quốc thì nỗ lực thực hiện chính sách “sinh con tặng nhà”, xây dựng thêm trường học để bảo đảm trẻ em không phải cạnh tranh xuất vào trường học công lập, trợ cấp y tế, trợ cấp nuôi dưỡng và trợ cấp sinh con miễn phí (Võ Thu, 22/7/2026).

Thứ ba, tuyên truyền thay đổi nhận thức của người dân về vai trò của việc sinh đủ hai con đối với các vấn đề vĩ mô của đất nước.

Đẩy mạnh truyền thông nhằm nâng cao nhận thức về vai trò của gia đình và lợi ích của việc sinh đủ hai con đối với sự phát triển bền vững của đất nước như bảo đảm nguồn nhân lực, quy mô thị trường, tăng trưởng kinh tế và bảo đảm an ninh, quốc phòng. Nội dung truyền thông cần hướng đến việc khuyến khích kết hôn và sinh con đúng độ tuổi, giảm tình trạng trì hoãn hôn nhân và sinh con; đồng thời, lan tỏa hình ảnh gia đình hiện đại, bình đẳng và hạnh phúc. Song song với đó, cần thúc đẩy bình đẳng giới trong phân công công việc gia đình, khuyến khích nam giới chia sẻ trách nhiệm chăm sóc con cái để giảm áp lực đối với phụ nữ và tạo điều kiện thuận lợi cho họ vừa phát triển nghề nghiệp vừa thực hiện thiên chức làm mẹ.

Thứ tư, nâng cao chất lượng dân số và phát triển dịch vụ sức khỏe sinh sản.

Việc duy trì mức sinh thay thế cần gắn với mục tiêu nâng cao chất lượng dân số. Theo đó, cần tăng cường đầu tư cho hệ thống chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe bà mẹ và trẻ em; mở rộng dịch vụ tư vấn tiền hôn nhân, khám sức khỏe trước khi mang thai và hỗ trợ điều trị vô sinh, hiếm muộn với chi phí phù hợp. Đồng thời, đẩy mạnh giáo dục sức khỏe sinh sản cho thanh niên nhằm nâng cao nhận thức về thời điểm sinh con phù hợp và hạn chế những rủi ro do kết hôn, sinh con quá muộn. Đây là giải pháp quan trọng để vừa duy trì mức sinh hợp lý vừa nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong tương lai.

Thứ năm, hoàn thiện cơ chế quản lý dân số và chính sách theo đặc thù từng địa phương.

Mức sinh ở Việt Nam hiện có sự chênh lệch đáng kể giữa các vùng, do đó, cần chuyển từ cách tiếp cận áp dụng đồng nhất sang quản lý dân số linh hoạt theo từng địa phương. Đối với các tỉnh, thành phố có mức sinh thấp kéo dài, cần ưu tiên triển khai các chính sách khuyến sinh và hỗ trợ gia đình trẻ; đồng thời, cần xây dựng cơ sở dữ liệu dân số hiện đại, tăng cường dự báo xu hướng biến động mức sinh và lồng ghép chính sách dân số với các chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, lao động, việc làm và an sinh xã hội. Cách tiếp cận này sẽ góp phần duy trì vững chắc mức sinh thay thế, bảo đảm cân bằng cơ cấu dân số và tạo nền tảng cho phát triển bền vững của Việt Nam trong dài hạn.

4. Kết luận

Duy trì vững chắc mức sinh thay thế là một yêu cầu chiến lược nhằm bảo đảm cân bằng quy mô, cơ cấu và chất lượng dân số, tạo nền tảng cho phát triển kinh tế – xã hội bền vững của Việt Nam. Trong bối cảnh mức sinh đã giảm xuống dưới ngưỡng thay thế, chính sách dân số cần được điều chỉnh theo hướng thích ứng với những biến đổi nhân khẩu học mới. Bên cạnh việc hoàn thiện thể chế và tăng cường các chính sách hỗ trợ gia đình sinh đủ hai con, cần triển khai đồng bộ các giải pháp về an sinh xã hội, phát triển dịch vụ chăm sóc trẻ em, nâng cao chất lượng sức khỏe sinh sản, thay đổi nhận thức xã hội và xây dựng chính sách phù hợp với đặc điểm của từng địa phương, chủ động ứng phó với quá trình già hóa dân số, qua đó tạo động lực cho phát triển nhanh và bền vững trong những thập niên tới.

Tài liệu tham khảo:
Bình Minh (04/9/2025). Trẻ sơ sinh Hàn Quốc sắp nhận “cơn mưa tiền” từ chính phủ. https://vnexpress.net/tre-so-sinh-han-quoc-sap-nhan-con-mua-tien-tu-chinh-phu-4934951.html
Bùi Hà (03/6/2026). Tỷ lệ sinh tại Nhật Bản giảm xuống mức thấp kỷ lục. https://www.vietnamplus.vn/ty-le-sinh-tai-nhat-ban-giam-xuong-muc-thap-ky-luc-post1114364.vnp
Cục Dân số (29/11/2025). Giới trẻ đang lười yêu, ngại cưới, sinh con muộn và những hệ lụy nghiêm trọng về sau. https://vnpa.moh.gov.vn/gioi-tre-dang-luoi-yeu-ngai-cuoi-sinh-con-muon-va-nhung-he-luy-nghiem-trong-ve-sau/
Điệp Vũ (26/02/2026). Tỷ suất sinh của Hàn Quốc tăng hai năm liên tiếp. https://vneconomy.vn/ty-suat-sinh-cua-han-quoc-tang-hai-nam-lien-tiep.htm
Thu Thủy (10/01/2026). Trung Quốc: “Sinh con tặng nhà” và những chính sách thực tế để tăng dân số. https://viettimes.vn/trung-quoc-sinh-con-tang-nha-va-nhung-chinh-sach-thuc-te-de-tang-dan-so-post193540.html
Thủ tướng Chính phủ (2011). Quyết định số 2013/QĐ-TTg ngày 14/11/2011 Chiến lược dân số và sức khỏe sinh khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011-2022.
Võ Thu (22/7/2026). 5 tỉnh, thành chi tiền hỗ trợ người dân sinh đủ hai con, cao nhất 5 triệu đồng. https://vietnamnet.vn/5-tinh-thanh-chi-tien-ho-tro-nguoi-dan-sinh-du-hai-con-cao-nhat-5-trieu-dong-2538073.html
Võ Thu (30/7/2026). Người trẻ trì hoãn kết hôn: Bài toán nhân khẩu học quốc gia. Tạp chí Dân tộc và phát triển. https://dantocphattrien.vietnamnet.vn/nguoi-tre-tri-hoan-ket-hon-bai-toan-nhan-khau-hoc-quoc-gia-77141.html