Family education in the digital era: challenges and prospects
ThS. Nguyễn Thế Vinh
Trường Chính trị Vũ Văn Hiếu, Quảng Ninh
Email: vinhquangninh@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Gia đình có vai trò đặc biệt quan trọng trong giáo dục, góp phần nuôi dưỡng và hình thành nhân cách con người, bảo đảm cho sự phát triển bền vững của đất nước và nhân loại. Trong bối cảnh kỷ nguyên số hiện nay, chức năng giáo dục của gia đình đã và đang chịu sự tác động mạnh mẽ, đem đến những triển vọng mới nhưng cũng chứa đựng không ít những thách thức, đòi hỏi phải có giải pháp chính sách để công tác giáo dục gia đình đáp ứng được yêu cầu trong kỷ nguyên số.
Từ khóa: Gia đình; giáo dục; kỷ nguyên số; thách thức; triển vọng.
Abstract: The family plays a particularly important role in education, contributing to nurturing people and shaping their character, and ensuring the sustainable development of the country and humanity. In the context of the present digital era, the educational function of the family has been and continues to be strongly affected, offering new prospects while simultaneously posing numerous challenges that necessitate policy solutions so that family education can meet the requirements of the digital era.
Keywords: Family; education; digital era; challenges; prospects.
1. Đặt vấn đề
Sự phát triển mạnh mẽ về khoa học, công nghệ đã đưa nhân loại bước vào kỷ nguyên số với những tác động to lớn tới mọi mặt của đời sống xã hội. Công nghệ số đã hiện diện ở mọi nơi, mọi lúc, đem đến những ưu điểm vượt trội nhưng cũng không ít rủi ro, thách thức. Trong gia đình, công nghệ số tác động mạnh mẽ tới việc thực hiện các chức năng vốn có, trong đó có chức năng giáo dục. Những tác động này đã mở ra những triển vọng mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục gia đình nhưng cũng đem đến không ít thách thức đòi hỏi các cơ quan quản lý phải có các giải pháp phù hợp nhằm ngăn chặn, phòng ngừa rủi ro; đồng thời, tận dụng các ưu điểm để làm cho gia đình thực sự là tổ ấm, là cái nôi nuôi dưỡng, chăm sóc và hình thành nhân cách của các thế hệ.
2. Triển vọng phát triển giáo dục gia đình trong kỷ nguyên số hiện nay
Công nghệ số đã và đang đem lại những triển vọng phát triển mới trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có giáo dục gia đình. Triển vọng này được thể hiện ở các nội dung chính như:
Một là, giáo dục gia đình giúp hình thành các phẩm chất phù hợp với yêu cầu của quá trình học tập trong kỷ nguyên số.
Nội dung của giáo dục gia đình rất phong phú và đa dạng mà một trong số đó là giáo dục ý thức tự giác, tính chăm chỉ, nỗ lực vươn lên của mỗi thành viên trong gia đình. Việc bố mẹ nhắc nhở, động viên con cái, ông bà nhắc nhở các cháu hay anh nhắc nhở em chịu khó, tích cực trong lao động và học tập vừa tạo ra những động lực cho mỗi thành viên phấn đấu, vừa góp phần hình thành nhân cách với các phẩm chất tự giác, chăm chỉ và ý chí vươn lên.
Trong kỷ nguyên số, sự hỗ trợ của khoa học, công nghệ đã giúp cho nhân loại thuận lợi hơn và nhanh hơn trong việc tìm kiếm tri thức, việc học tập và nghiên cứu cũng được tiến hành thuận lợi hơn. Việc truyền đạt tri thức trực tiếp giữa người dạy và người học dần được thay thế bằng việc truyền đạt phương pháp, cách thức, động lực, ý chí, khát vọng tìm kiếm tri thức cho người học.
Bên cạnh đó, trong kỷ nguyên số, sự bùng nổ tri thức và thông tin đã đem đến cho người học nhiều lựa chọn; đồng thời, cũng đem đến những nguy cơ trong việc lan truyền các thông tin độc hại. Kiểm soát thông tin, kiểm soát quá trình học tập là cần thiết, nhất là đối với trẻ đang tuổi trưởng thành, đang trong giai đoạn tìm kiếm tri thức, thông tin mới. Trong quá trình kiểm soát này, việc quan tâm nắm bắt tình hình của các thành viên trong gia đình để có thể kiểm soát, nhắc nhở kịp thời nhằm ngăn chặn các hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro, thiếu tính giáo dục. Ở góc độ này, với những tình cảm vốn có của các thành viên, với tinh thần trách nhiệm, các thành viên trong gia đình có thể nhắc nhở, kiểm soát hiệu quả. Bởi trong chừng mực nhất định, các thành viên trong gia đình có thể nắm bắt thông tin về việc học tập của con cái mà nhà trường khó có thể nắm bắt được; đồng thời, họ cũng có thể nhắc nhở những điều mà nhà trường khó có thể làm được.
Hai là, công nghệ số giúp nâng cao hiệu quả phối hợp trong giáo dục giữa gia đình, nhà trường và xã hội.
Sự phát triển của công nghệ số giúp quá trình trao đổi thông tin giữa nhà trường, gia đình và xã hội, giữa thầy cô giáo và bố mẹ được thuận lợi hơn, qua đó, nâng cao hiệu quả phối hợp trong việc thực hiện chức năng giáo dục của gia đình và chức năng giáo dục của nhà trường và xã hội. Hiện nay, các nền tảng xã hội, như: zalo, facebook… đã được hầu hết các cơ sở giáo dục sử dụng như một kênh thông tin giữa nhà trường với gia đình, giữa giáo viên với phụ huynh. Các ứng dụng họp trực tuyến, như: Google Meet, Zoom cũng được sử dụng thường xuyên, tạo thuận lợi trong trao đổi thông tin giữa nhà trường và xã hội. Các phần mềm quản lý, như: eNetViet, vnEdu Connect, ClassClap… đã và đang được nhiều cơ sở giáo dục trong cả nước sử dụng như một công cụ quản lý, trao đổi thông tin hữu hiệu giữa các chủ thể trong quá trình phối hợp thực hiện chức năng giáo dục.
Nhờ có sự phát triển của công nghệ, quá trình trao đổi thông tin giữa gia đình, nhà trường và xã hội được diễn ra thuận lợi, nhanh chóng và kịp thời. Việc trao đổi này hầu như được diễn ra hằng ngày, phụ huynh có thể nắm bắt thông tin của con em mình tại nhà trường theo thời gian thực (tình hình học tập, điểm số, chuyên cần, thực đơn bán trú…). Ngược lại, nhà trường cũng dễ dàng nắm bắt được sự phản hồi thông tin từ phụ huynh học sinh để nắm rõ hơn người học và có các chính sách điều chỉnh phù hợp. Nhờ vậy, có thể giúp các chủ thể kịp thời đưa ra các biện pháp phù hợp trong việc giáo dục thế hệ người học.
Quá trình trao đổi thông tin nhanh chóng và kịp thời giữa các chủ thể sẽ khắc phục những sai lệch thông tin mà người học có thế truyền đạt tới các chủ thể. Tình trạng người học nói dối hoặc che giấu thông tin để hạn chế người khác biết về hành vi tiêu cực của mình sẽ giảm thiểu khi việc trao đổi thông tin giữa phụ huynh, nhà trường và xã hội được diễn ra thuận lợi, nhanh chóng, kịp thời. Sự kết nối này góp phần xây dựng môi trường giáo dục thống nhất, đồng hành và trách nhiệm, góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục của gia đình nói riêng cũng như giáo dục của toàn xã hội.
Ba là, công nghệ số giúp phụ huynh nắm bắt sâu hơn về nội dung học tập của con em họ.
Với khối lượng tri thức ngày càng lớn, nội dung học tập của học sinh, sinh viên ngày càng toàn diện và bao phủ rộng khắp. Phụ huynh khó có thể hiểu hết về các nội dung này, ngay cả đối với những người có trình độ học vấn cao. Không nắm rõ được các nội dung học tập nên nhiều phụ huynh chỉ dừng lại ở việc động viên, nhắc nhở con cái họ học tập mà không thể có các chia sẻ về nội dung, khó hiểu hết khả năng học tập của con em họ như thế nào.
Tuy nhiên, trong kỷ nguyên số hiện nay, các bậc phụ huynh có thêm nhiều công cụ hỗ trợ để tìm hiểu sâu hơn vào tiến trình học tập của con em họ, không chỉ hiểu về ý thức, thái độ học tập mà còn hiểu được một phần nào đó về nội dung học tập để từ đó có sự hỗ trợ, động viên, nhắc nhở kịp thời. Hiện nay, các nhà phát triển công nghệ đã sáng tạo ra hàng trăm phần mềm và các trang web hỗ trợ học tập cho học sinh. Phụ huynh học sinh cũng có thể sử dụng phần mềm này như một công cụ để nắm rõ nội dung học tập của con em họ. Nhiều phụ huynh đã đồng hành cũng con cái họ thông qua việc cùng con cái họ học tập trên các website và các ứng dụng học tập trực tuyến. Bằng việc nắm bắt về nội dung, khi con cái gặp khó khăn trong làm bài tập, tìm kiếm tài liệu hoặc giải quyết một vấn đề nào đó, phụ huynh hoàn toàn có thể hỗ trợ để giải quyết các khó khăn này.
3. Thách thức trong phát triển giáo dục gia đình trong kỷ nguyên số
Bên cạnh những triển vọng to lớn của giáo dục gia đình mà sự phát triển của công nghệ số đang mang lại thì những nguy cơ, thách thức ảnh hưởng tới giáo dục gia đình không hề nhỏ. Các nguy cơ, thách thức này luôn hiện hữu, có khả năng kìm hãm hoặc làm giảm hiệu quả của giáo dục gia đình nếu như không có các giải pháp khắc chế phù hợp. Những nguy cơ, thách thức đó là:
Thứ nhất, giáo dục gia đình đang phải đối mặt với những thông tin độc hại xâm nhập nhanh hơn và sớm hơn tới thế hệ trẻ.
Ngày nay, việc bùng nổ thông tin cùng với việc tiếp cận thông tin được nhanh chóng đã làm cho nhiều thông tin xấu, độc hại dễ dàng xâm nhập vào trong gia đình, vào giới trẻ. Điều này nguy hiểm hơn khi trong hầu hết các gia đình Việt Nam, trẻ em được sử dụng các thiết bị thông minh từ rất sớm. Nhiều gia đình cho các cháu sử dụng hoặc mượn các thiết bị thông minh của người lớn để sử dụng. Khi sử dụng các thiết bị này, phần lớn thời gian các cháu dành cho việc chơi trò chơi hoặc truy cập vào mạng xã hội, nơi mà những thông tin được kiểm soát kém nhất, chứa đựng nhiều thông tin độc hại nhất. Điển hình như TikTok, “nhiều hạn chế trong khâu kiểm duyệt khiến TikTok Việt Nam bị ví như mớ hỗn độn với phần nội dung độc hại đang chiếm thế thượng phong” (Anh Quân, 26/4/2024). Kết quả khảo sát cho thấy, trong 3 tháng, có 89% trẻ em truy cập và sử dụng internet, trong số này, 87% sử dụng internet hằng ngày. Ngoài thời gian dành cho việc học, trung bình trẻ em thường sử dụng từ 5 – 7 tiếng/ngày vào mạng xã hội (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2023). Đây là con số ở mức cao so với trung bình của thế giới và cao hơn nhiều so với mức khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WTO).
Hơn thế nữa, với những thủ thuật nhằm thu hút sự chú ý và theo dõi của người dùng, nhiều mạng xã hội có nguy cơ gây nghiện, làm cho giới trẻ dành nhiều thời gian cho việc sử dụng chúng. Các mạng xã hội lớn, như: TikTok, YouTube Shorts, Facebook Reels… với những nội dung ngắn, hài hước nhưng cũng chứa đựng nhiều kịch tính, đã thu hút mạnh mẽ sự chú ý của giới trẻ. Mặc dù nội dung ngắn nhưng rất đa dạng về chủ để nên người xem không bị nhàm chán và dễ gây nghiện.
Những tác động tiêu cực của môi trường số trên đây đối với trẻ em đã đặt ra những thách thức không nhỏ cho việc phát triển giáo dục gia đình. Làm sao để phòng ngừa, ngăn chặn những tác động tiêu cực này, làm sao để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của trẻ em đối với việc tiếp cận công nghệ số, mạng xã hội nhưng vẫn phòng ngừa được những tác động tiêu cực của chúng. Đây là điều mà các bậc phụ huynh quan tâm; đồng thời, đặt ra trách nhiệm mới đối với xã hội.
Thứ hai, việc tăng giao tiếp trong môi trường số và giảm tương tác trực tiếp đã tác động không nhỏ tới việc hình thành nhân cách trẻ nhỏ.
Ngày nay, dưới tác động của công nghệ số, môi trường sống của gia đình đã và đang có những biến đổi nhanh chóng. Sự tương tác trực tiếp giữa các thành viên trong gia đình đang có chiều hướng giảm, việc tương tác gián tiếp trên không gian số thông qua các thiết bị thông minh có kết nối internet ngày càng phổ biến hơn. Hình ảnh các thành viên trong gia đình ngồi nói chuyện nhưng mỗi người cầm một chiếc điện thoại thông minh và tương tác trên môi trường số ngày càng phổ biến. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến việc trao đổi, tương tác giữa các thành viên trong gia đình, ảnh hưởng đến thói quen, suy nghĩ của thế hệ trẻ, qua đó, ảnh hưởng tới việc hình thành nhân cách. Các ngôn từ giao tiếp chuẩn mực đời thường đã bị thay thế bởi nhiều thuật ngữ mới, được hình thành trên không gian số, trong đó có rất nhiều thuật ngữ lệch chuẩn, ảnh hưởng tới sự phát triển của tiếng Việt cũng như ngôn ngữ của trẻ em.
Việc xem quá nhiều video dạng ngắn dễ tác động tiêu cực tới tâm lý của trẻ em. Nhiều trẻ em đã mất đi khả năng tập trung và ghi nhớ kiến thức học tập, thay vào đó tâm trạng các cháu bị chế ngự, ảnh hưởng bởi những nội dung đã xem trên mạng xã hội.
Thứ ba, khó nắm bắt và kiểm soát hoạt động của con người.
Trước sự phát triển của công nghệ số, không gian hoạt động của trẻ em hiện nay phong phú và đa dạng hơn trước đây. Bên cạnh không gian hoạt động truyền thống gắn với môi trường thực, trẻ em hiện nay tham gia nhiều hơn vào không gian ảo. Trên không gian truyền thống, hoạt động của con cái luôn bị giới hạn bởi thời gian và địa lý nên bố mẹ dễ dàng nhận biết các hoạt động của con (làm gì, đi đâu, chơi với ai…) nhưng trên không gian ảo, việc nhận biết và kiểm soát các hoạt động của con cái khó khăn hơn rất nhiều. Con cái có thể tham gia hàng trăm các diễn đàn, hội nhóm, giao lưu tương tác với rất nhiều chủ thể trên không gian số mà không có giới hạn về thời gian và địa lý. Việc bảo đảm và tôn trọng quyền riêng tư của trẻ em cũng làm cho bố mẹ khó khăn hơn khi nắm bắt được các hoạt động của chúng trên không gian mạng. Với sự phát triển của công nghệ, nhiều mạng xã hội đã sử dụng các thuật toán nhằm nâng cao thời gian tương tác của người dùng. Những thuật toán này có sức mạnh lớn hơn và vượt ra khỏi sự kiểm soát của bố mẹ. Dữ liệu nghiên cứu do Meta thực hiện cho thấy, giới hạn thời gian và các công cụ giám sát gia đình không đủ sức kìm hãm thói quen lướt mạng quá mức của người trẻ (Đỗ Tho, 19/02/2026).
Trên không gian số, ranh giới giữa việc học tập và giải trí là rất mong manh, nhất là đối với học trực tuyến. Người học chuyển từ học tập sang lướt mạng xã hội chỉ trong vài cú chạm, thậm chí họ có thể theo dõi song song cả học trực tuyến và lướt mạng xã hội. Điều này làm cho việc kiểm soát các hoạt động cũng trở nên khó khăn hơn. Nếu bố mẹ không hiểu con cái, không thể kiểm soát được các hoạt động của con thì việc thực hiện chức năng giáo dục của gia đình sẽ khó khăn hơn.
Thứ tư, tụt hậu về công nghệ làm cho nhiều phụ huynh không thể theo kịp với sự tiến bộ về kỷ nguyên số.
Trong kỷ nguyên số, việc thiếu hạ tầng và các kỹ năng công nghệ sẽ làm cho nhiều gia đình không thể tiếp cận với môi trường học tập đang thay đổi hiện nay. Không chỉ con cái họ gặp khó khăn trong quá trình học tập mà ngay cả phụ huynh cũng gặp khó khăn trong việc hỗ trợ, động viên con cái học tập.
Những rào cản về công nghệ làm cho nhiều phụ huynh phó mặc việc học tập của con cái họ cho nhà trường, hoặc có thể tham gia hỗ trợ con cái học học tập mà không thể hiểu được việc học tập đó diễn ra như thế nào. Nguy hiểm hơn, nhiều phụ huynh chưa hiểu hết những tác hại vô hình của các thiết bị điện tử và mạng xã hội hoặc không có thời gian để theo dõi, quan tâm tới tiến trình học tập của con cái mà để con cái họ tự do sử dụng các thiết bị điện tử cũng như mạng xã hội. Thậm chí có nhiều gia đình vì chiều con mà sẵn sàng cho chúng tự do sử dụng các thiết bị điện tử, coi đây như biện pháp để dỗ dành, thuyết phục. Việc làm này đã đẩy con cái họ vào tình trạng nghiện hoặc lạm dụng các thiết bị điện tử, gây tổn hại không nhỏ tới việc phát triển bình thường của trẻ nhỏ.
4. Gợi ý chính sách
Một là, tăng cường kiểm soát thông tin trên các nền tảng trực tuyến, tạo ra môi trường số lành mạnh, góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục nói chung và giáo dục gia đình nói riêng.
Việc tăng cường kiểm soát này phải được tiến hành song song từ hai phía, kiểm soát thông tin từ phía các nhà cung cấp dịch vụ, bao gồm: việc kiểm soát từ các mạng xã hội, các website điện tử và các nền tảng trực tuyến khác. Để việc kiểm soát này được hiệu quả, các cơ quan chức năng cần phối hợp chặt chẽ, đưa ra các quy định nghiêm ngặt để buộc các chủ thể cung cấp các dịch vụ trực tuyến thực hiện đúng pháp luật và các chuẩn mực đạo đức của Việt Nam, tạo ra một không gian số lành mạnh giúp hình thành nhân cách theo đúng chuẩn mực của con người mới Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Bên cạnh việc kiểm soát thông tin từ các nhà cung cấp, cần có các công cụ, biện pháp kiểm soát việc sử dụng các thiết bị thông minh từ phía người dùng, nhất là đối với trẻ em. Việc kiểm soát này là cần thiết bởi thực tế ngay cả trong một môi trường thông tin hữu ích thì việc dành thời gian quá nhiều cho các thiết bị điện tử cũng ảnh hưởng không nhỏ tới thể chất và tinh thần của trẻ em. Nhiều nước trên thế giới, kể cả ở những nước phát triển đã ban hành các chính sách nhằm kiểm soát và giới hạn trẻ em sử dụng các thiết bị thông minh và mạng xã hội. Tại Australia, nhiều tiểu bang đã cấm sử dụng điện thoại trong trường học. Ở cấp độ liên bang, vào tháng 11/2024, Quốc hội nước này đã thông qua luật cấm trẻ em dưới 16 tuổi sử dụng mạng xã hội. Tại Italia, chính quyền đã ban hành lệnh cấm sử dụng điện thoại và máy tính bảng tại các trường tiểu học và trung học cơ sở ở từ tháng 9/2024.
Tại Việt Nam, chưa có bất kỳ quy định nào cấm trẻ em và học sinh sử dụng các thiết bị thông minh. Việc giới hạn học sinh và trẻ em sử dụng chủ yếu được thực hiện thông qua các biện pháp nhắc nhở của phụ huynh học sinh hoặc của giáo viên trên lớp khi việc sử dụng này ảnh hưởng đến quá trình học tập. Với những quy định khá thông thoáng đã tạo cơ hội cho học sinh cũng như trẻ em Việt Nam sử dụng rộng rãi các thiết bị thông minh, đưa tỷ lệ trẻ em Việt Nam sử dụng các thiết bị này cũng như thời gian sử dụng hằng ngày vào loại cao trên thế giới. Điều này tác động không nhỏ tới sự phát triển của trẻ em và quá trình giáo dục gia đình. Do vậy, trong thời gian tới, các cơ quan chức năng cần ban hành các quy định nhằm kiểm soát chặt hơn việc sử dụng các thiết bị thông minh của trẻ em cũng như của học sinh, nâng cao thời gian hoạt động và tương tác trên môi trường thực tế; đồng thời, giảm thiểu tương tác và hoạt động trên môi trường ảo của trẻ em.
Hai là, nâng cao hiểu biết và kỹ năng sử dụng công nghệ số cho cộng đồng, nhất là đối với các đối tượng yếu thế như người già, người vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa.
Để phát huy vai trò của giáo dục gia đình trong kỷ nguyên số, các thành viên trong gia đình phải có nền tảng kỹ năng số cần thiết để có thể sử dụng và tận dụng hiệu quả công nghệ số nhằm hỗ trợ cho các hoạt động giáo dục. Đào tạo, tập huấn nhằm nâng cao hiểu biết cũng như kỹ năng số trong cộng đồng là giải pháp quan trọng để tạo dựng nền tảng công nghệ số cho cộng đồng và cho các thành viên trong gia đình.
Nhà trường, các cơ quan chuyên môn, các tổ chức quần chúng cần phối hợp chặt chẽ để nâng cao nền tảng công nghệ số cho người dân. Đối với nhà trường, khi triển khai ứng dụng các phần mềm hoặc công cụ hiện đại trong giảng dạy cũng như trong quản lý giáo dục cũng nên chia sẻ và tập huấn cho phụ huynh, học sinh biết nhằm nâng cao khả năng phối hợp giữa gia đình và nhà trưởng. Đối với các cơ quan, tổ chức có triển khai các hoạt động thu hút sự tham gia của các em trong độ tuổi thành niên, khi ứng dụng các nền tảng công nghệ số cũng nên chia sẻ thông tin với phụ huynh học sinh, thậm chí có thể thu hút họ cùng tham gia với các em, qua đó, nắm bắt và phối hợp hiệu quả khi triển khai các hoạt động.
Trong việc bồi dưỡng, nâng cao hiểu biết, kỹ năng sử dụng công nghệ số, cần quan tâm chú ý đến các đối tượng yếu thế, có những biện pháp đặc thù hướng dẫn, bồi dưỡng nâng cao kỹ năng số cho các đối tượng này. Việc triển khai rộng rãi các tổ công nghệ số cộng đồng, đến từng nhà hỗ trợ trực tiếp các đối tượng yếu thế trong việc tiếp cận và sử dụng công nghệ số là cần thiết. Mô hình này đã và đang được vận dụng hiệu quả ở nhiều nơi và cần được nhân rộng, nhất là ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, khu vực có đông đồng bào dân tộc thiểu số.
Ba là, tăng cường đầu tư nâng cấp hạ tầng công nghệ số, hỗ trợ người dân, nhất là các hộ nghèo, các hộ gia đình còn khó khăn trong việc tiếp cận công nghệ số.
Hạ tầng công nghệ số có vai trò quan trọng trong việc phát triển công nghệ số nói chung và phát huy vai trò của giáo dục gia đình nói riêng. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã khẳng định: “Phát triển hạ tầng, nhất là hạ tầng số, công nghệ số trên nguyên tắc “hiện đại, đồng bộ, an ninh, an toàn, hiệu quả, tránh lãng phí”. Đây là chủ trương đúng đắn, quán triệt và thực hiện hiệu quả chủ trương này sẽ góp phần thúc đẩy công nghệ số phát triển, đáp ứng yêu cầu của đất nước trong kỷ nguyên mới, nhất là tại một số khu vực còn gặp nhiều khó khăn. Theo thống kế, “tổng số thôn/bản còn lại chưa có sóng băng rộng di động đến tháng 3/2025 là 717 thôn/bản. Trong đó, số thôn, bản đặc biệt khó khăn đã có điện là 537 thôn/bản; số thôn/bản không thuộc khu vực khó khăn đã có điện là 63 thôn/bản; số thôn/bản chưa có điện (bao gồm thôn, bản khó khăn và thôn/bản không khó khăn) là 117 thôn, bản” (Phạm Huyền, 07/5/2025). Việc thiếu hạ tầng công nghệ số tại những khu vực này đã tạo ra khoảng cách không nhỏ, làm cho nhiều gia đình không theo kịp với xu hướng phát triển mới. Việc đầu tư hạ tầng tại những khu vực trên là cần thiết.
Bên cạnh các yêu cầu về hạ tầng, việc thiếu trang thiết bị công nghệ số cũng tạo ra những rào cản cho nhiều hộ gia đình trong việc tiếp cận với quá trình giáo dục trong kỷ nguyên số hiện nay. Để thu hẹp khoảng cách phát triển, đồng thời phát huy hiệu quả vai trò của giáo dục gia đình trong kỷ nguyên số, chính quyền và cộng đồng cần có các biện pháp hỗ trợ các đối tượng yếu thế trong việc mua sắm các thiết bị thông minh, bảo đảm họ không bị tụt hậu trước sự phát triển.
5. Kết luận
Mặc dù là nước đi sau những với tầm nhìn đúng và chiến lược đầu tư phù hợp, Việt Nam đã trở thành điểm sáng trong phát triển và ứng dụng công nghệ số của khu vực. Trình độ công nghệ số của Việt Nam đã tiệm cận với các nước tiên tiến trong khu vực, thậm chí có một số lĩnh vực tiệm cận với trình độ tiên tiến của thế giới. Tuy nhiên, việc phát triển công nghệ số cũng đưa Việt Nam trở thành quốc gia phải đối mặt với rủi ro an toàn thông tin vào loại cao nhất thế giới. Không những vậy, việc kiểm soát lỏng lẻo, chi phí trong sử dụng các nền tảng công nghệ số như internet, dịch vụ viễn thông tương đối rẻ đã đưa Việt Nam thành quốc gia có độ phủ sóng và số người sử dụng internet vào loại cao trên thế giới. Trong đó, số trẻ em và thời gian trẻ em sử dụng các thiết bị thông minh và mạng xã hội cũng vào loại cao trên thế giới. Do vậy, những rủi ro và tác động tiêu cực của công nghệ số trong xã hội Việt Nam là hiện hữu, trong đó có những rủi ro và tác động tiêu cực tới việc thực hiện các chức năng giáo dục trong gia đình.
Để hạn chế những rủi ro và các tác động tiêu cực này; đồng thời, tận dụng những lợi thế của công nghệ số mang lại cho giáo dục gia đình, cần phải áp dụng các giải pháp đồng bộ, từ việc đầu tư hoàn thiện hệ thống hạ tầng công nghệ số; nâng cao nền tảng kỹ năng số cho người dân đến việc kiểm soát nội dung cũng như nâng cao ý thức trách nhiệm của người dùng. Có như vậy sẽ góp phần tạo ra môi trường số lành mạnh, thực sự là động lực thúc đẩy giáo dục gia đình phát triển, góp phần hình thành con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Tài liệu tham khảo:
Anh Quân (26/4/2024). Mối nguy hại trong ứng dụng TikTok tại Việt Nam, https://thanhnien.vn/moi-nguy-hai-trong-ung-dung-tiktok-tai-viet-nam-185240426130111352.htm
Bộ Khoa học và Công nghệ (2023). Trẻ em dùng 5 – 7 giờ mỗi ngày để vào mạng xã hội. https://mst.gov.vn/tre-em-dung-5-7-gio-moi-ngay-de-vao-mang-xa-hoi-197159254.htm
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Đỗ Tho (19/02/2026). Vì sao kiểm soát của phụ huynh thất bại trước thuật toán mạng xã hội? https://congdankhuyenhoc.vn/vi-sao-kiem-soat-cua-phu-huynh-that-bai-truoc-thuat-toan-mang-xa-hoi-179260219202104839.htm
Trương Thị Ngọc Lan (2025). Giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình ở Việt Nam hiện nay. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/11/14/giao-duc-dao-duc-loi-song-trong-gia-dinh-o-viet-nam-hien-nay/
Phạm Huyền (07/5/2025). Cả nước còn hơn 700 thôn/bản chưa có sóng băng rộng di động, https://cand.vn/ca-nuoc-con-hon-700-thonban-chua-co-song-bang-rong-di-dong-post767490.html



