The role of ethnic minority officers in unity among ethnic groups in the area of Military Region 2
Vàng Mí Giàng
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
Email: vangmigiangtvqbhg@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết làm rõ vai trò của sĩ quan người dân tộc thiểu số trong đoàn kết các dân tộc trên địa bàn Quân khu 2; phân tích cơ sở lý luận, thực trạng và những hạn chế trong phát huy vai trò của đội ngũ này. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất các giải pháp trọng tâm nhằm phát huy lợi thế về phẩm chất, năng lực, ngôn ngữ, văn hóa và uy tín của sĩ quan người dân tộc thiểu số, góp phần củng cố đoàn kết các dân tộc, xây dựng “thế trận lòng dân”, giữ vững ổn định địa bàn, phát triển kinh tế – xã hội trong kỷ nguyên mới.
Từ khóa: Sĩ quan người dân tộc thiểu số; Quân khu 2; đoàn kết các dân tộc; thế trận lòng dân; đại đoàn kết toàn dân tộc.
Abstract: This article clarifies the role of ethnic minority officers in fostering unity among ethnic groups within the Military Region 2 area; it analyzes the theoretical basis, current situation, and limitations regarding the promotion of this group’s role. Based on this analysis, the article proposes key solutions to leverage the strengths of ethnic minority officers – specifically their qualities, capabilities, language, culture, and prestige – thereby contributing to strengthening unity among ethnic groups, building a “people’s hearts and minds posture,” maintaining regional stability, and fostering socio-economic development in the new era.
Keywords: Ethnic minority officers; Military Region 2; unity among ethnic groups; people’s hearts and minds posture; great national unity.
1. Đặt vấn đề
Đoàn kết các dân tộc là truyền thống quý báu, nguồn sức mạnh nội sinh của dân tộc Việt Nam, là quan điểm chiến lược nhất quán của Đảng trong sự nghiệp cách mạng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đoàn kết các dân tộc được xây dựng trên nền tảng bình đẳng, tôn trọng, tương trợ, cùng phát triển, trở thành bộ phận quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định: “sự lãnh đạo của Đảng, sức mạnh to lớn của Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr. 28). Quan điểm này được cụ thể hóa trong Nghị quyết số 43-NQ/TW ngày 24/11/2023 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc. Trong bối cảnh phát triển kinh tế – xã hội, hội nhập quốc tế, giao lưu văn hóa và chuyển đổi số ngày càng sâu rộng, củng cố đoàn kết các dân tộc có ý nghĩa quan trọng đối với tăng cường đồng thuận xã hội, giữ vững ổn định chính trị – xã hội và xây dựng “thế trận lòng dân”, gắn với nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới.
Quân khu 2 có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về quốc phòng, an ninh ở phía Bắc và Tây Bắc của Tổ quốc. Theo Bộ Quốc phòng (2026), địa bàn Quân khu 2 có diện tích khoảng 65 nghìn km², có đường biên giới với Trung Quốc và Lào dài 1.402 km; địa hình chủ yếu là rừng núi, hiểm trở và phức tạp; đồng thời, có 34 dân tộc cùng sinh sống, do vậy, các vấn đề liên quan đến dân tộc, tôn giáo, di cư, tội phạm xuyên biên giới và các nguy cơ an ninh phi truyền thống có thể tác động đến ổn định xã hội nếu không được nhận diện và xử lý kịp thời. Vì vậy, củng cố đoàn kết các dân tộc phải gắn với xây dựng cơ sở chính trị, phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống Nhân dân. Trong quá trình đó, sĩ quan người dân tộc thiểu số có vị trí và lợi thế đặc thù: vừa sở hữu phẩm chất, bản lĩnh của người sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, vừa thấu hiểu sâu sắc ngôn ngữ, văn hóa, phong tục, tâm lý của đồng bào. Vì vậy, sĩ quan người dân tộc thiểu số có điều kiện thuận lợi để phát huy vai trò là cầu nối giữa Quân đội với cấp ủy, chính quyền và Nhân dân, góp phần nâng cao hiệu quả tuyên truyền, vận động, thúc đẩy đoàn kết và củng cố niềm tin của Nhân dân; tham gia xây dựng “thế trận lòng dân”, phòng ngừa và đấu tranh với những yếu tố lợi dụng vấn đề dân tộc gây chia rẽ khối đại đoàn kết, đóng góp tích cực trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
2. Cơ sở lý luận về vai trò của sĩ quan người dân tộc thiểu số trong đoàn kết các dân tộc trên địa bàn Quân khu 2
Đoàn kết các dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, lâu dài trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Xét về ngữ nghĩa, đoàn kết là “kết thành một khối thống nhất, cùng hoạt động vì một mục đích chung” (Hoàng Phê, 2021, tr. 414). Bản chất của đoàn kết dựa trên cơ sở tương đồng về lợi ích, mục tiêu, trách nhiệm để tạo nên sự thống nhất về nhận thức và hành động.
“Dân tộc” là khái niệm có nội hàm đa nghĩa, được tiếp cận trên hai phương diện cơ bản: (1) Theo nghĩa rộng, dân tộc được hiểu là quốc gia – dân tộc, là “một khối cộng đồng người ổn định được thành lập trong lịch sử, dựa trên cơ sở cộng đồng về tiếng nói, lãnh thổ, sinh hoạt kinh tế và tâm lý, biểu hiện trong cộng đồng văn hóa” (Xtalin, 1976). (2) Theo nghĩa hẹp, dân tộc được hiểu là tộc người, là “tên gọi chung những cộng đồng người cùng chung một ngôn ngữ, lãnh thổ, đời sống kinh tế và văn hóa, hình thành trong lịch sử từ sau bộ lạc” (Hoàng Phê, 2021, tr. 311).
Hai phương diện này có quan hệ thống nhất, biện chứng trong một chỉnh thể lịch sử – xã hội. Các tộc người là những chủ thể cấu thành cộng đồng quốc gia – dân tộc; ngược lại, sự ổn định, thống nhất và phát triển của quốc gia – dân tộc tạo môi trường chính trị – xã hội để các tộc người tồn tại, phát triển và phát huy bản sắc văn hóa. Vì vậy, đoàn kết giữa các tộc người vừa góp phần củng cố sự thống nhất quốc gia – dân tộc, vừa tạo điều kiện để mỗi cộng đồng phát triển trong sự đa dạng và thống nhất.
Từ cách tiếp cận trên, đoàn kết các dân tộc có thể được hiểu là sự gắn bó, đồng thuận, hợp tác và tương trợ giữa các cộng đồng tộc người trong một quốc gia – dân tộc thống nhất, trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng sự khác biệt, giúp nhau cùng phát triển và hướng tới lợi ích chung của quốc gia – dân tộc. Đây là quá trình vừa bảo đảm sự thống nhất về mục tiêu, lợi ích chung, vừa tôn trọng những đặc điểm văn hóa, ngôn ngữ và nhu cầu chính đáng của từng cộng đồng.
Cơ sở chính trị và pháp lý của đoàn kết các dân tộc ở Việt Nam được thể hiện nhất quán trong đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Điều 5 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) tiếp tục xác định thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau giữa các dân tộc, tạo điều kiện để các dân tộc cùng phát triển, gắn bó với sự phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam.
Trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết các dân tộc nhấn mạnh sự thống nhất về lợi ích và bình đẳng giữa các dân tộc. Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ rõ: “Giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 1995, tập 4, tr. 623). C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định yêu cầu đoàn kết phải được xây dựng trên cơ sở lợi ích chung: “Muốn cho các dân tộc có thể thực sự đoàn kết lại thì họ phải có lợi ích chung” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 1995, tập 4, tr. 526).
Kế thừa tinh thần này, V.I. Lênin phát triển quan điểm về vấn đề dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc, quyền tự quyết của các dân tộc và đoàn kết giai cấp công nhân các dân tộc (V.I. Lênin, 2006, tr. 86). V.I.Lênin nhấn mạnh ba nội dung cốt lõi của cương lĩnh dân tộc: các dân tộc hoàn toàn bình đẳng; các dân tộc được quyền tự quyết; liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc. Đây là điểm tựa lý luận quan trọng để nhìn nhận vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc trong một chỉnh thể thống nhất, đập tan các luận điệu lợi dụng “quyền tự quyết của dân tộc” nhằm phá vỡ sự thống nhất đó.
Vận dụng sáng tạo những nguyên lý trên vào điều kiện thực tiễn ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nâng tầm đoàn kết các dân tộc thành vấn đề có ý nghĩa sống còn. Người khẳng định: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công” (Hồ Chí Minh, 2011b, tr. 119). Để thực hiện được sức mạnh đoàn kết đó, đoàn kết các dân tộc là nền tảng cốt yếu, dựa trên sự bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau vì lợi ích quốc gia – dân tộc: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr. 249). Đây cũng là tiền đề quan trọng cho sức mạnh nội sinh của đất nước trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc: “Nhờ sức đoàn kết tranh đấu chung của tất cả các dân tộc, nước Việt Nam ngày nay được độc lập, các dân tộc thiểu số được bình đẳng cùng dân tộc Việt Nam, tất cả đều như anh chị em trong một nhà, không còn có sự phân chia nòi giống, tiếng nói gì nữa. Trước kia các dân tộc để giành độc lập phải đoàn kết, bây giờ để giữ lấy nền độc lập càng cần đoàn kết hơn nữa” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr. 119).
Kế thừa nền tảng lý luận đó, nhận thức của Đảng qua các thời kỳ luôn nhất quán xác định đoàn kết các dân tộc là đường lối chiến lược xuyên suốt. Từ Đại hội VI (1986) với tư tưởng “lấy dân làm gốc”, đến Đại hội IX (2001), Đảng khẳng định nguyên tắc: “Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016, tập 62, tr. 48). Cụ thể hóa nguyên tắc này, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) đã ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12/3/2003 về công tác dân tộc, nhấn mạnh các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển. Quan điểm này tiếp tục được cụ thể hóa và phát triển trong Kết luận số 65-KL/TW ngày 30/10/2019 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW nhằm bổ sung, phát triển các quan điểm chỉ đạo, mục tiêu và nhóm giải pháp phù hợp bối cảnh mới. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu “bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021a, tr. 50). Đặc biệt, Đại hội XIV của Đảng xác định: “Vấn đề dân tộc và đại đoàn kết toàn dân tộc có ý nghĩa chiến lược, lâu dài, có vị trí hết sức quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr. 66).
Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Quân đội nhân dân Việt Nam có vai trò quan trọng trên các địa bàn chiến lược, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Với chức năng và nhiệm vụ đặc thù, Quân đội là lực lượng chủ yếu, tiên phong quyết định quá trình hiện thực hóa mục tiêu chiến lược của Đảng về đoàn kết các dân tộc. Quân khu 2 là địa bàn có vị trí chiến lược về quốc phòng, an ninh, bao gồm: 6 tỉnh then chốt là Lào Cai, Lai Châu, Tuyên Quang, Điện Biên, Phú Thọ và Sơn La. Địa hình chủ yếu là miền núi, biên giới, dân cư phân bố không đồng đều, có 34 dân tộc cùng sinh sống đan xen với những đặc điểm đa dạng về ngôn ngữ, văn hóa, phong tục, tập quán, trình độ phát triển và điều kiện kinh tế – xã hội.
Trong tình hình mới, yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại đã đặt lực lượng vũ trang Quân khu 2 trước đòi hỏi cấp bách phải thích ứng nhanh với tiến trình sáp nhập, tinh gọn bộ máy theo hướng “tinh, gọn, mạnh”, chủ động ngăn chặn từ sớm, từ xa các âm mưu “diễn biến hòa bình” lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để kích động ly khai. Trong đó, sĩ quan người dân tộc thiểu số với sự thống nhất giữa phẩm chất, trình độ, năng lực và chức trách, nhiệm vụ của bản thân tạo nên những lợi thế đặc thù, vai trò riêng trong kết nối, tuyên truyền, vận động và củng cố đoàn kết các dân tộc trên địa bàn Quân khu 2.
3. Thực trạng phát huy vai trò của sĩ quan người dân tộc thiểu số trong đoàn kết các dân tộc trên địa bàn Quân khu 2
Thứ nhất, vai trò cầu nối giữa Quân đội với cấp ủy, chính quyền và đồng bào các dân tộc ngày càng được phát huy. Với sự am hiểu địa bàn, ngôn ngữ, văn hóa, phong tục, tập quán và quan hệ xã hội của cộng đồng, sĩ quan người dân tộc thiểu số có điều kiện thuận lợi để truyền tải thông tin hai chiều, đưa hoạt động của Quân đội đến gần Nhân dân, kịp thời phản ánh tâm tư, nguyện vọng và những vấn đề nảy sinh từ cơ sở đến cấp có thẩm quyền. Qua đó, tăng cường sự phối hợp giữa Quân đội với hệ thống chính trị cơ sở, củng cố quan hệ quân – dân và tạo nền tảng xã hội cho đoàn kết các dân tộc. Sĩ quan người dân tộc thiểu số đã tích cực bám địa bàn, nắm tình hình Nhân dân, phản ánh tâm tư, nguyện vọng của đồng bào, tham gia tham mưu và phối hợp xử lý những vấn đề phát sinh từ cơ sở. Qua đó, quan hệ phối hợp giữa đơn vị với cấp ủy, chính quyền được tăng cường, hoạt động của Quân đội gắn với đời sống Nhân dân hơn. Tuy nhiên, ở một bộ phận sĩ quan, khả năng nắm bắt diễn biến tư tưởng, dự báo tình hình và tham mưu xử lý những vấn đề phức tạp từ cơ sở còn hạn chế.
Thứ hai, vai trò tuyên truyền, vận động và tạo đồng thuận trong đồng bào các dân tộc được triển khai tương đối toàn diện. Sĩ quan người dân tộc thiểu số có khả năng lựa chọn ngôn ngữ, cách thức và phương pháp truyền đạt phù hợp với đặc điểm văn hóa, tâm lý và trình độ nhận thức của từng cộng đồng, đưa chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và các chủ trương phát triển kinh tế – xã hội đến với Nhân dân một cách thiết thực, dễ hiểu, dễ tiếp nhận. Giá trị của vai trò này là chuyển hóa nhận thức thành niềm tin, niềm tin thành đồng thuận và đồng thuận thành hành động, qua đó, củng cố sự thống nhất về nhận thức và trách nhiệm của đồng bào đối với nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ địa bàn. nhưng hiệu quả chưa thật đồng đều. Đội ngũ sĩ quan người dân tộc thiểu số đã phát huy lợi thế về ngôn ngữ, văn hóa và phong tục để tuyên truyền, vận động đồng bào thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và các nhiệm vụ ở địa phương. Tuy nhiên, phương pháp vận động ở một số nơi còn thiên về truyền đạt, chưa thật linh hoạt theo đặc điểm từng nhóm dân cư; năng lực xử lý những vấn đề nhạy cảm và vận động đồng bào trong môi trường thông tin mới còn hạn chế.
Thứ ba, vai trò thúc đẩy quan hệ đoàn kết, tương trợ và gắn bó giữa các dân tộc. Từ vị trí và uy tín trong cộng đồng, sĩ quan người dân tộc thiểu số có điều kiện tham gia kết nối các nhóm dân cư, tăng cường hiểu biết và chia sẻ giữa các cộng đồng, phát huy những giá trị văn hóa tích cực, hạn chế định kiến, mặc cảm, tâm lý cục bộ và những khác biệt có khả năng trở thành rào cản đối với quan hệ giữa các dân tộc. Vai trò này hướng trực tiếp vào việc củng cố sự gắn bó xã hội, bảo đảm các dân tộc vừa phát huy bản sắc riêng, vừa cùng tham gia vào đời sống chung của cộng đồng quốc gia – dân tộc. Trên cơ sở uy tín, sự am hiểu cộng đồng và khả năng giao tiếp liên văn hóa, sĩ quan người dân tộc thiểu số góp phần tăng cường hiểu biết, tôn trọng sự khác biệt, phát huy những giá trị văn hóa tích cực, hạn chế định kiến và tâm lý cục bộ; tạo sự gắn kết từ nội bộ đơn vị đến quan hệ quân – dân và cộng đồng dân cư. Vì vậy, họ ngày càng thể hiện vai trò của chủ thể tạo lập và lan tỏa các giá trị đoàn kết dân tộc.
Thứ tư, vai trò góp phần xây dựng “thế trận lòng dân”, chủ động phòng ngừa và đấu tranh với những yếu tố lợi dụng vấn đề dân tộc gây chia rẽ đoàn kết các dân tộc. Là lực lượng thường xuyên gắn bó với cơ sở và có điều kiện nắm bắt những biến động trong đời sống cộng đồng, sĩ quan người dân tộc thiểu số có thể phát hiện sớm những biểu hiện bất thường, những mâu thuẫn, tâm lý hoặc vấn đề xã hội có nguy cơ bị lợi dụng, từ đó, phối hợp với cấp ủy, chính quyền và các lực lượng liên quan tuyên truyền, vận động, giải quyết phù hợp ngay từ cơ sở. Đồng thời, thông qua củng cố niềm tin của Nhân dân, tăng cường sự gắn bó quân – dân và nâng cao sức đề kháng xã hội trước những thông tin sai lệch, luận điệu kích động, họ góp phần làm thất bại những hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc nhằm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững ổn định chính trị, quốc phòng và an ninh trên địa bàn. Thông qua bám cơ sở, công tác dân vận, tham gia giải quyết các vấn đề dân tộc, tôn giáo và hỗ trợ Nhân dân, đội ngũ sĩ quan người dân tộc thiểu số đã góp phần củng cố niềm tin, tăng cường đồng thuận và giữ vững ổn định địa bàn. Tuy nhiên, trước những phương thức tác động ngày càng tinh vi, nhất là trên không gian mạng, khả năng nhận diện sớm, dự báo và chủ động đấu tranh với các yếu tố có nguy cơ gây chia rẽ dân tộc của một bộ phận sĩ quan chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu.
4. Một số giải pháp
Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, chỉ huy về vị trí, vai trò của sĩ quan người dân tộc thiểu số trong đoàn kết các dân tộc.
Cấp ủy, chỉ huy các cấp nhận thức đúng sĩ quan người dân tộc thiểu số vừa là lực lượng bảo đảm cơ cấu dân tộc trong đội ngũ cán bộ, vừa là nguồn lực có lợi thế về các yếu tố dân tộc đặc thù, có khả năng tham gia trực tiếp vào công tác dân tộc, dân vận và củng cố đoàn kết các dân tộc. Từ đó, đưa yêu cầu phát huy vai trò của đội ngũ này vào nghị quyết lãnh đạo, chương trình, kế hoạch công tác và quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị; xác định rõ trách nhiệm của cấp ủy, người chỉ huy và cơ quan chức năng trong xây dựng môi trường để sĩ quan người dân tộc thiểu số phát huy sở trường. Lãnh đạo, chỉ đạo phải gắn với đặc điểm từng địa bàn, từng dân tộc và yêu cầu nhiệm vụ cụ thể, tránh áp dụng máy móc hoặc đồng nhất giữa các đơn vị. Đặc biệt, khắc phục nhận thức coi việc bố trí sĩ quan người dân tộc thiểu số chủ yếu nhằm đáp ứng yêu cầu cơ cấu, chuyển mạnh sang coi trọng hiệu quả thực hiện nhiệm vụ và mức độ đóng góp thực tế của từng cá nhân.
Hai là, xây dựng đội ngũ sĩ quan người dân tộc thiểu số có phẩm chất, năng lực và uy tín đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Đây là giải pháp then chốt, bởi hiệu quả phát huy vai trò trước hết phụ thuộc vào chất lượng của chủ thể. Cần kết hợp chặt chẽ giáo dục, rèn luyện với đào tạo, bồi dưỡng, chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, ý thức trách nhiệm đối với nhiệm vụ đoàn kết các dân tộc và năng lực vận dụng chủ trương, chính sách dân tộc vào thực tiễn cơ sở. Cùng với đó, bồi dưỡng kiến thức về văn hóa, phong tục, tập quán, tín ngưỡng của các dân tộc trên địa bàn; nâng cao năng lực sử dụng tiếng dân tộc phù hợp với vị trí, nhiệm vụ; rèn luyện kỹ năng giao tiếp, thuyết phục, hòa giải và xử lý các tình huống nhạy cảm liên quan đến dân tộc, tôn giáo. Trong điều kiện môi trường thông tin thay đổi nhanh, bổ sung năng lực nhận diện, xử lý thông tin và sử dụng truyền thông số để tuyên truyền, vận động Nhân dân. Quá trình xây dựng đội ngũ phải gắn phẩm chất chính trị với năng lực thực tiễn và uy tín xã hội – cơ sở để sĩ quan người dân tộc thiểu số phát huy đầy đủ ảnh hưởng tích cực trong cộng đồng.
Ba là, đổi mới phương thức hoạt động của sĩ quan người dân tộc thiểu số theo hướng gần dân, sát dân, phù hợp với đặc điểm từng dân tộc và địa bàn.
Trọng tâm là chuyển từ phương thức tuyên truyền, vận động thiên về truyền đạt sang tăng cường đối thoại, lắng nghe và thuyết phục; từ vận động theo yêu cầu nhiệm vụ sang gắn với giải quyết những vấn đề thiết thực trong đời sống của Nhân dân. Sĩ quan người dân tộc thiểu số chủ động lựa chọn cách thức giao tiếp phù hợp với từng cộng đồng, kết hợp ngôn ngữ, phong tục, tập quán và các giá trị văn hóa tích cực với phương thức tuyên truyền hiện đại; phối hợp chặt chẽ với người có uy tín, già làng, trưởng bản và các lực lượng ở cơ sở để mở rộng sức lan tỏa. Cùng với hình thức tiếp xúc trực tiếp, chủ động sử dụng các nền tảng truyền thông số để cung cấp thông tin chính thống, định hướng nhận thức và kịp thời giải thích những vấn đề nhạy cảm liên quan đến dân tộc, tôn giáo.
Bốn là, gắn phát huy vai trò của sĩ quan người dân tộc thiểu số với xây dựng “thế trận lòng dân”, củng cố niềm tin và đồng thuận xã hội trên địa bàn.
Đặt hoạt động của sĩ quan người dân tộc thiểu số trong tổng thể nhiệm vụ xây dựng cơ sở chính trị, củng cố quan hệ quân – dân, giữ vững ổn định chính trị và phát triển kinh tế – xã hội ở địa bàn. Trong đó, lấy hiệu quả giải quyết những vấn đề thiết thực của Nhân dân, tham gia xây dựng cơ sở, hỗ trợ đồng bào ổn định đời sống, phòng, chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn và thực hiện an sinh xã hội là những phương thức trực tiếp tạo dựng niềm tin. Đồng thời, thông qua bám cơ sở và nắm tình hình, sĩ quan người dân tộc thiểu số chủ động phát hiện những mâu thuẫn, vấn đề xã hội và biểu hiện tâm lý có khả năng tác động đến quan hệ giữa các dân tộc để tham mưu, phối hợp giải quyết từ sớm, từ xa, từ cơ sở. Nâng cao khả năng nhận diện và đấu tranh với thông tin sai lệch, luận điệu kích động, chia rẽ dân tộc, nhất là trên không gian mạng.
Năm là, hoàn thiện cơ chế tạo nguồn, đào tạo, quy hoạch, bố trí, sử dụng và đánh giá sĩ quan người dân tộc thiểu số.
Đây là giải pháp bảo đảm tính lâu dài và hiệu quả của việc phát huy vai trò, hướng tới chuyển từ tư duy “có sĩ quan người dân tộc thiểu số” sang “sử dụng và phát huy hiệu quả sĩ quan người dân tộc thiểu số”. Chủ động tạo nguồn từ cơ sở, chú trọng những cán bộ trẻ có phẩm chất, năng lực, uy tín và am hiểu địa bàn; thực hiện quy hoạch dài hạn gắn với yêu cầu nhiệm vụ và đặc điểm từng địa phương, đơn vị. Công tác đào tạo, bồi dưỡng xuất phát từ vị trí việc làm và yêu cầu thực tiễn, tránh dàn trải; việc bố trí, sử dụng phải phù hợp với sở trường, năng lực, vốn văn hóa, ngôn ngữ và kinh nghiệm địa bàn của từng sĩ quan, tạo điều kiện để họ được cọ xát, rèn luyện và phát huy năng lực. Gắn đánh giá kết quả hoàn thành chức trách, nhiệm vụ với hiệu quả tham gia công tác dân tộc, dân vận, khả năng tạo dựng uy tín và mức độ đóng góp vào đoàn kết các dân tộc là những tiêu chí cần được quan tâm. Thường xuyên tổng kết thực tiễn, phát hiện, biểu dương và nhân rộng những mô hình, cách làm hiệu quả để tạo động lực và hoàn thiện cơ chế phát huy đội ngũ.
5. Kết luận
Phát huy vai trò của sĩ quan người dân tộc thiểu số trong đoàn kết các dân tộc trên địa bàn Quân khu 2 trong tình hình mới là yêu cầu thiết thực đối với củng cố “thế trận lòng dân”, tăng cường ổn định chính trị – xã hội và thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Sĩ quan người dân tộc thiểu số là chủ thể có lợi thế đặc thù trong kiến tạo, củng cố và lan tỏa đoàn kết các dân tộc. Lợi thế này chỉ được chuyển hóa thành hiệu quả thực chất khi đặt trong sự thống nhất giữa phẩm chất, năng lực, uy tín của người sĩ quan với đặc điểm dân tộc, địa bàn và yêu cầu nhiệm vụ. Vì vậy, vấn đề cốt lõi là “đúng người, đúng việc”, tạo điều kiện tối đa để phát huy hiệu quả đội ngũ này. Đây là cơ sở để Quân khu 2 tiếp tục phát huy nguồn lực đặc thù của sĩ quan người dân tộc thiểu số thành sức mạnh tích cực góp phần củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong kỷ nguyên mới.
Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2003). Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12/3/2003 Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về công tác dân tộc.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2023). Nghị quyết số 43-NQ/TW ngày 24/11/2023 về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2019). Kết luận số 65-KL/TW ngày 30/10/2019 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về công tác dân tộc trong tình hình mới.
C.Mác và Ph.Ăngghen (1995). Toàn tập (Tập 4). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2016). Văn kiện Đảng toàn tập (Tập 62). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021a). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026a). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026b). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011a). Toàn tập (Tập 4). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011b). Toàn tập (Tập 13). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hoàng Phê (chủ biên) (2021). Từ điển Tiếng Việt. Nxb Hồng Đức.
J. Xtalin (1976). Toàn tập (Tập 2). Nxb Sự thật.
V.I.Lênin (2006). Toàn tập (Tập 42). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.



