Improving policies for the management and sustainable development of pension funds
ThS. Nguyễn Vinh Quang
Email: nvquang1971@gmail.com
TS. Hà Thị Thu Phương
Email: haphuongtc96@gmail.com
Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội
(Quanlynhanuoc.vn) – Quản lý và phát triển bền vững quỹ hưu trí có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm an sinh xã hội và thu nhập cho người lao động khi đã hết tuổi lao động. Thời gian qua, Việt Nam đã từng bước hoàn thiện chính sách bảo hiểm xã hội và quản lý quỹ hưu trí, đặc biệt thông qua Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, theo hướng mở rộng diện bao phủ, tăng cơ hội hưởng lương hưu, nâng cao hiệu quả quản lý quỹ và hình thành hệ thống hưu trí đa tầng. Bên cạnh những kết quả đạt được, tình trạng chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội, áp lực chi trả gia tăng, độ bao phủ chưa đồng đều và sự phát triển hạn chế của hưu trí bổ sung vẫn là những vấn đề cần được giải quyết. Trên cơ sở đánh giá thực trạng cơ chế, chính sách và tổ chức thực hiện, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện chức năng quản lý nhà nước, tăng cường thanh tra, giám sát, mở rộng diện tham gia, phát triển hệ thống hưu trí đa tầng và bảo hiểm hưu trí bổ sung tự nguyện, đồng thời điều chỉnh hợp lý cơ chế đóng góp nhằm nâng cao tính minh bạch, an toàn và bền vững của quỹ hưu trí.
Từ khóa: Quỹ hưu trí; bảo hiểm xã hội; quản lý quỹ; hưu trí đa tầng; hưu trí bổ sung; an sinh xã hội; phát triển bền vững.
Abstract: Sustainable management and development of the pension fund play a crucial role in ensuring social security and income protection for workers after retirement. In recent years, Viet Nam has gradually strengthened its social insurance policies and pension fund management framework, particularly through the 2024 Law on Social Insurance, focusing on expanding coverage, increasing access to pension benefits, improving fund management efficiency, and developing a multi-tier pension system. Despite these achievements, several challenges remain, including delayed and evaded social insurance contributions, increasing benefit payment pressures, uneven social insurance coverage, and the limited development of supplementary pension schemes. Based on an assessment of the current regulatory framework, policies, and implementation arrangements, this study proposes measures to strengthen state management functions, enhance inspection and supervision, expand social insurance coverage, develop a multi-tier pension system and voluntary supplementary pension schemes, and adjust contribution mechanisms appropriately. These measures are expected to improve the pension fund’s transparency, security, financial sustainability, and long-term effectiveness.
Keywords: Pension fund; social insurance; pension fund management; multi-tier pension system; supplementary pension; social security; sustainable development.
1. Đặt vấn đề
Quỹ hưu trí là một bộ phận quan trọng của hệ thống an sinh xã hội, có vai trò bảo đảm thu nhập và ổn định đời sống cho người lao động khi đã hết tuổi lao động. Trong bối cảnh già hóa dân số, thay đổi cơ cấu việc làm và gia tăng các hình thức lao động phi truyền thống, yêu cầu quản lý và phát triển bền vững quỹ hưu trí ở Việt Nam ngày càng trở nên cấp thiết.
Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 tiếp tục đổi mới chính sách theo hướng mở rộng diện bao phủ, giảm thời gian đóng tối thiểu để hưởng lương hưu và hình thành hệ thống hưu trí đa tầng, gồm trợ cấp hưu trí xã hội, hưu trí bảo hiểm xã hội và hưu trí bổ sung tự nguyện. Đây là cơ sở quan trọng để tăng cường khả năng tiếp cận và bảo đảm thu nhập hưu trí cho người dân. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai vẫn còn một số hạn chế như tình trạng chậm đóng, trốn đóng và đóng thiếu bảo hiểm xã hội; độ bao phủ chưa đồng đều; áp lực chi trả quỹ ngày càng tăng; cơ chế phối hợp và giám sát cần tiếp tục được hoàn thiện; trong khi thị trường hưu trí bổ sung tự nguyện chưa phát triển tương xứng. Những vấn đề này đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu quả quản trị, bảo đảm an toàn tài chính và tăng tính bền vững của quỹ hưu trí.
2. Đóng góp của quỹ hưu trí đối với phát triển kinh tế – xã hội
Quỹ hưu trí là một quỹ thành phần của quỹ bảo hiểm xã hội, do Bảo hiểm xã hội Việt Nam quản lý trong những năm qua luôn phát triển về quy mô rất lớn so với GDP (khoảng 8% GDP năm 2025) với mức tăng trưởng bình quân trên 8%/năm đã bảo đảm an sinh xã hội cho hơn 3 triệu người về hưu và hơn 21 triệu lao động đang tham gia đóng bảo hiểm xã hội, đồng thời giúp ổn định xã hội, xây dựng xã hội công bằng và thịnh vượng. Ngoài việc thực hiện chức năng an sinh xã hội, bảo đảm thu nhập cho người lao động khi đến tuổi nghỉ hưu, Quỹ hưu trí, tử tuất còn đóng vai trò tích cực trong phát triển thị trường tài chính và phát triển kinh tế thông qua hoạt động đầu tư quỹ như mua trái phiếu chính phủ, trái phiếu các ngân hàng thương mại nhà nước, gửi tiền tại các ngân hàng thương mại.
Với vai trò là một quỹ tài chính công ngoài ngân sách lớn nhất quốc gia, Quỹ hưu trí do bảo hiểm xã hội quản lý đã tích cực tham gia đầu tư mua trái phiếu Chính phủ, trở thành nhà đầu tư trái phiếu Chính phủ lớn nhất trên thị trường sơ cấp với số dư trái phiếu Chính phủ nắm giữ chiếm tỷ trọng lớn trên thị trường. Điều này giúp Chính phủ phát hành thành công trái phiếu chính phủ, huy động nguồn vốn lớn với mức lãi suất thấp, từ đó có nguồn lực để gia tăng đầu tư công,hỗ trợ ổn định lãi suất và thúc đẩy phát triển đất nước.
Bên cạnh quỹ bảo hiểm xã hội, những định hướng đầu tiên cho sự ra đời của quỹ hưu trí bổ sung được thể hiện trong Đề án hình thành và phát triển chương trình hưu trí tự nguyện tại Việt Nam, tại Quyết định số 144/QĐ-TTg ngày 20/01/2014 của Thủ tướng Chính phủ. Theo Đề án, việc hình thành và phát triển chương trình hưu trí tự nguyện nhằm xây dựng hệ thống hưu trí đa trụ cột, góp phần bảo đảm an sinh xã hội, đồng thời khuyến khích tiết kiệm, mở rộng cơ sở nhà đầu tư vốn dài hạn trên thị trường vốn theo Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán đến năm 2020. Để đạt mục tiêu này, Đề án đưa ra những định hướng đến năm 2020, với khoảng 400-500 doanh nghiệp và khoảng 150.000 người tham gia mua sản phẩm bảo hiểm hưu trí hoặc đóng góp vào các quỹ hưu trí tự nguyện theo hình thức ủy thác đầu tư. Đến năm 2020, doanh số tích lũy của các quỹ hưu trí tự nguyện để đầu tư trở lại nền kinh tế, trong đó có thị trường vốn và thị trường chứng khoán, khoảng 10.000 – 12.000 tỷ đồng.
Ngày 01/7/2016, Chính phủ ban hành Nghị định số 88/2016/NĐ-CP về chương trình hưu trí bổ sung tự nguyện với nhiều quy định chi tiết nhằm phát triển hệ thống quỹ hưu trí theo thông lệ quốc tế, nhưng phù hợp với bối cảnh Việt Nam. Vai trò của các quỹ hưu trí trong thị trường tài chính là rất quan trọng, giúp thị trường phát triển mạnh mẽ và thành công, đồng thời là nguồn cung vốn dài hạn cho nền kinh tế.
Trên thế giới, hệ thống hưu trí truyền thống theo cơ chế thực thu, thực chi PAYG (Pay as You Go) đang dần chuyển sang hệ thống hưu trí xác định mức đóng góp, được tài trợ (hoàn toàn/một phần) từ các khoản đóng góp tự nguyện của cá nhân tham gia các chương trình hưu trí tư nhân. Sự ra đời của hệ thống hưu trí được gây quỹ này đã cho phép các quỹ hưu trí tự nguyện tích lũy tài sản để đầu tư vào thị trường tài chính. Tuy nhiên, sự phát triển của quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện tại Việt Nam, mặc dù đã được hình thành từ năm 2014, vẫn đang ở giai đoạn ban đầu.
3. Cơ chế, chính sách và tổ chức thực hiện quản lý quỹ hưu trí
3.1. Cơ chế, chính sách của Nhà nước liên quan đến quản lý quỹ hưu trí
Cơ chế, chính sách quản lý quỹ hưu trí ở Việt Nam được xây dựng trong tổng thể chính sách bảo hiểm xã hội, hướng tới 3 mục tiêu cơ bản: bảo đảm thu nhập cho người lao động khi hết tuổi lao động, mở rộng diện bao phủ và duy trì an toàn tài chính của quỹ. Cùng với quá trình phát triển kinh tế – xã hội và những thay đổi về cơ cấu dân số, thị trường lao động, hệ thống chính sách hưu trí từng bước được điều chỉnh, hoàn thiện, từ Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 đến Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, theo hướng tăng tính linh hoạt của chính sách, mở rộng đối tượng tham gia và từng bước hình thành hệ thống hưu trí đa tầng.
Trên nền tảng Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, chế độ hưu trí được thiết kế theo nguyên tắc đóng – hưởng, trong đó mức hưởng được xác định chủ yếu dựa trên thời gian đóng và mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội, với tỷ lệ hưởng lương hưu tối đa là 75%. Đối với bảo hiểm xã hội tự nguyện, người tham gia được lựa chọn mức thu nhập làm căn cứ đóng và được Nhà nước hỗ trợ một phần mức đóng theo quy định. Những quy định này không chỉ tạo cơ sở pháp lý cho việc hình thành nguồn thu của quỹ mà còn thiết lập mối liên hệ giữa trách nhiệm đóng góp của người tham gia và quyền lợi được hưởng khi nghỉ hưu.
Tuy nhiên, trước những yêu cầu mới về mở rộng diện bao phủ, thích ứng với già hóa dân số và bảo đảm an sinh cho các nhóm lao động có đặc điểm việc làm khác nhau, chính sách hưu trí tiếp tục được điều chỉnh. Trên cơ sở Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23/5/2018 về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 đã bổ sung và sửa đổi nhiều nội dung theo hướng mở rộng cơ hội tiếp cận chế độ hưu trí. Đáng chú ý là giảm thời gian đóng tối thiểu để hưởng lương hưu từ 20 năm xuống 15 năm, bổ sung trợ cấp hưu trí xã hội, mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bổ sung chế độ thai sản trong bảo hiểm xã hội tự nguyện và tăng cường sự liên kết giữa các tầng trong hệ thống hưu trí. Những thay đổi này cho thấy chính sách hưu trí đang chuyển từ cách tiếp cận chủ yếu dựa trên quan hệ đóng – hưởng sang cách tiếp cận kết hợp giữa bảo đảm an sinh cơ bản và khuyến khích tích lũy dài hạn.
Cùng với việc điều chỉnh chính sách đóng – hưởng, tuổi nghỉ hưu cũng được điều chỉnh theo lộ trình quy định tại Bộ luật Lao động năm 2019. Theo đó, tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường được điều chỉnh tăng dần, hướng tới 62 tuổi đối với nam vào năm 2028 và 60 tuổi đối với nữ vào năm 2035. Việc điều chỉnh tuổi nghỉ hưu có quan hệ trực tiếp với thời gian tham gia, thời gian hưởng và quy mô chi trả của quỹ. Do đó, đây không chỉ là chính sách về lao động mà còn là một yếu tố quan trọng trong việc bảo đảm cân đối và tính bền vững tài chính của quỹ hưu trí trong dài hạn.
3.2. Cơ chế quản lý và vận hành quỹ hưu trí
Những thay đổi về chính sách đóng – hưởng, đối tượng tham gia và tuổi nghỉ hưu đặt ra yêu cầu tương ứng đối với cơ chế tổ chức và vận hành của quỹ. Hiện nay, chính sách hưu trí của Việt Nam được triển khai theo hướng kết hợp giữa hưu trí cơ bản do Nhà nước tổ chức và hưu trí bổ sung tự nguyện, qua đó từng bước hình thành hệ thống hưu trí đa tầng. Trong đó, quỹ hưu trí, tử tuất thuộc hệ thống bảo hiểm xã hội do Bảo hiểm xã hội Việt Nam tổ chức và quản lý, đóng vai trò bảo đảm nguồn thu nhập cơ bản cho người lao động khi đã hết tuổi lao động. Quỹ được quản lý độc lập với ngân sách nhà nước, thực hiện chế độ hạch toán, kế toán, lập báo cáo tài chính và chịu sự kiểm toán, giám sát theo quy định. Cơ chế này nhằm bảo đảm nguồn lực tài chính của quỹ được quản lý tập trung, minh bạch, đúng mục đích và đáp ứng yêu cầu chi trả các chế độ cho người tham gia.
Bên cạnh tầng hưu trí cơ bản, hưu trí bổ sung tự nguyện được hình thành từ sự đóng góp tự nguyện của người lao động và người sử dụng lao động, được tích lũy và đầu tư nhằm tạo thêm thu nhập khi người tham gia nghỉ hưu. Sự phát triển của tầng hưu trí này có ý nghĩa quan trọng trong việc đa dạng hóa nguồn thu nhập khi về già, đồng thời góp phần giảm áp lực phải gia tăng mức chi trả của tầng hưu trí cơ bản.
Cùng với quá trình hoàn thiện chính sách, cơ chế quản lý quỹ hưu trí ở Việt Nam đang chuyển dần từ mô hình chủ yếu dựa vào bảo hiểm xã hội sang mô hình hưu trí đa tầng, trong đó Nhà nước bảo đảm mức an sinh cơ bản, bảo hiểm xã hội cung cấp nguồn thu nhập hưu trí dựa trên đóng góp, còn hưu trí bổ sung tạo điều kiện để người lao động chủ động gia tăng tích lũy. Sự chuyển đổi này đồng thời đòi hỏi cơ chế tổ chức thực hiện phải được hoàn thiện tương ứng nhằm bảo đảm chính sách được triển khai thống nhất và hiệu quả.
3.3. Tổ chức thực hiện chính sách và quản lý quỹ hưu trí
Để đưa các chính sách trên vào thực tiễn, việc tổ chức thực hiện giữ vai trò quyết định đối với hiệu quả quản lý và khả năng bảo đảm an toàn cho quỹ. Trong thời gian qua, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã xây dựng và ban hành hệ thống văn bản hướng dẫn nghiệp vụ liên quan đến đối tượng tham gia, mức đóng, phương thức đóng, quản lý thu – chi, giải quyết chế độ và quản lý quỹ. Việc hướng dẫn tương đối đầy đủ và thường xuyên được cập nhật nhằm bảo đảm các quy định của pháp luật được triển khai thống nhất trong toàn hệ thống.
Song song với hoạt động hướng dẫn nghiệp vụ, công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách cũng được chú trọng nhằm nâng cao nhận thức và ý thức tuân thủ của người lao động, người sử dụng lao động và người dân. Đây là yếu tố có ý nghĩa trực tiếp đối với việc mở rộng diện bao phủ, bảo đảm nguồn thu và hạn chế các hành vi vi phạm nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội. Bên cạnh đó, công tác theo dõi, đánh giá tình hình thi hành pháp luật được thực hiện định kỳ nhằm xác định mức độ phù hợp giữa quy định pháp luật và thực tiễn. Thông qua quá trình này, những khó khăn, bất cập trong quản lý thu – chi, thực hiện nghĩa vụ đóng, giải quyết chế độ và quản lý quỹ được nhận diện, làm cơ sở để hoàn thiện chính sách. Như vậy, việc tổ chức thực hiện không chỉ dừng ở việc triển khai các quy định hiện hành mà còn tạo ra cơ chế phản hồi từ thực tiễn để tiếp tục điều chỉnh chính sách.
Tuy nhiên, để bảo đảm các quy định được thực hiện thực chất, hoạt động tổ chức thực hiện cần gắn chặt với cơ chế kiểm tra, thanh tra và giám sát. Đây là khâu có vai trò kiểm soát mức độ tuân thủ, phát hiện rủi ro và kịp thời xử lý các hành vi có thể ảnh hưởng đến quyền lợi của người tham gia cũng như an toàn tài chính của quỹ.
3.4. Thanh tra, kiểm tra và giám sát quản lý quỹ hưu trí
Thanh tra, kiểm tra và giám sát là một trong những công cụ quan trọng nhằm bảo đảm tính tuân thủ, minh bạch và an toàn trong quản lý quỹ hưu trí. Nội dung thanh tra, kiểm tra tập trung vào việc thực hiện nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội, xử lý tình trạng chậm đóng, trốn đóng và đóng thiếu; kiểm tra việc giải quyết, chi trả chế độ hưu trí; quản lý, sử dụng và đầu tư quỹ; đồng thời xem xét trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và đơn vị có liên quan.
Thực tiễn cho thấy, công tác thanh tra, kiểm tra đã góp phần quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động và củng cố nguồn thu của quỹ. Trong giai đoạn 2016–2024, toàn ngành đã thực hiện 128.433 cuộc thanh tra, kiểm tra tại 199.847 đơn vị; phát hiện và kiến nghị truy thu đối với hơn 624.000 lao động chưa đóng hoặc đóng thiếu thời gian, thiếu mức đóng, với tổng số tiền kiến nghị truy thu, thu hồi về các quỹ bảo hiểm hơn 23 nghìn tỷ đồng. Các đơn vị được thanh tra, kiểm tra đã khắc phục trên 18 nghìn tỷ đồng. Kết quả này góp phần giảm tình trạng chậm đóng, tăng cường tính tuân thủ và bảo đảm tốt hơn quyền lợi của người tham gia.
Mặc dù đạt được những kết quả tích cực, hoạt động thanh tra, kiểm tra cũng cho thấy tình trạng vi phạm nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội vẫn còn tồn tại. Điều này cho thấy hiệu quả quản lý quỹ không chỉ phụ thuộc vào việc tăng cường kiểm tra mà còn cần có cơ chế phòng ngừa, cảnh báo sớm và phối hợp thông tin giữa các cơ quan liên quan. Mặt khác, trong bối cảnh số lượng người hưởng lương hưu ngày càng tăng, áp lực chi trả đối với quỹ cũng gia tăng, đòi hỏi hoạt động quản lý phải chuyển dần từ xử lý vi phạm sang quản trị rủi ro và bảo đảm cân đối dài hạn. Đặc biệt, từ năm 2025, cùng với những thay đổi về tổ chức bộ máy và chức năng thanh tra, yêu cầu phối hợp giữa các cơ quan trong việc kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm càng trở nên cần thiết. Điều này đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện cơ chế phân công trách nhiệm, chia sẻ dữ liệu và phối hợp thực thi để bảo đảm việc quản lý quỹ không bị gián đoạn và vẫn duy trì hiệu quả kiểm soát.
3.5. Những vấn đề đặt ra đối với quản lý và phát triển bền vững quỹ hưu trí
Từ quá trình hoàn thiện chính sách và tổ chức thực hiện, có thể thấy cơ chế quản lý quỹ hưu trí ở Việt Nam đã đạt được những bước tiến quan trọng, song vẫn còn một số vấn đề cần tiếp tục giải quyết.
Thứ nhất, chức năng và trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội và quỹ hưu trí còn liên quan đến nhiều cơ quan và được quy định trong nhiều văn bản khác nhau; do đó, cần tiếp tục làm rõ trách nhiệm và tăng cường cơ chế phối hợp.
Thứ hai, mặc dù công tác thanh tra, kiểm tra đã đạt kết quả tích cực, tình trạng chậm đóng, trốn đóng và đóng thiếu bảo hiểm xã hội vẫn tồn tại, ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thu của quỹ và quyền lợi của người lao động. Vấn đề này cho thấy cần chuyển mạnh từ phương thức xử lý sau vi phạm sang cơ chế giám sát, cảnh báo và phòng ngừa sớm.
Thứ ba, độ bao phủ bảo hiểm xã hội chưa đồng đều, đặc biệt đối với lao động phi chính thức, lao động nền tảng và những người có thu nhập không ổn định. Trong khi đó, việc mở rộng diện bao phủ là điều kiện quan trọng để tăng nguồn thu, chia sẻ rủi ro và bảo đảm an sinh xã hội trong bối cảnh già hóa dân số.
Thứ tư, hưu trí bổ sung tự nguyện chưa phát triển tương xứng với tiềm năng, trong khi đây là một cấu phần quan trọng của hệ thống hưu trí đa tầng, có khả năng bổ sung thu nhập cho người lao động và góp phần giảm áp lực lên quỹ hưu trí cơ bản.
Thứ năm, sự gia tăng số người hưởng lương hưu, cùng với những thay đổi về cơ cấu dân số và thị trường lao động, đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu quả quản trị, đầu tư và kiểm soát rủi ro của quỹ. Vì vậy, yêu cầu đặt ra trong giai đoạn tới không chỉ là tiếp tục hoàn thiện mức đóng và mức hưởng, mà cần tiếp cận quản lý quỹ một cách đồng bộ trên các phương diện quản trị nhà nước, mở rộng diện bao phủ, bảo đảm nguồn thu, kiểm soát chi, nâng cao hiệu quả đầu tư, tăng cường thanh tra – giám sát và phát triển hưu trí bổ sung.
4. Một số giải pháp
Một là, thống nhất quy định về chức năng quản lý Nhà nước đối với quỹ hưu trí và hoạt động bảo hiểm xã hội. Theo quy định, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính, UBND các cấp, Hội đồng nhân dân các cấp đều có chức năng thực hiện quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội, nhưng lại được quy định trong nhiều văn bản khác nhau. Đặc biệt, quy định cụ thể về trách nhiệm của tỉnh, thành phố trong việc quản lý, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm; quy định cụ thể về vai trò của Hội đồng nhân dân trong việc đề ra các chỉ tiêu hằng năm về diện bao phủ bảo hiểm xã hội và giám sát việc thực hiện bảo hiểm xã hội.
Cần quy định cụ thể về hoạt động quản lý, cơ chế phối hợp, thanh tra và kiểm tra. Để tạo hành lang pháp lý đầy đủ nhằm nâng cao hiệu quả quản lý quỹ hưu trí và bảo hiểm xã hội, cần thống nhất văn bản pháp luật và quy định cụ thể các vấn đề liên quan đến chủ thể, đối tượng, nội dung, quyền hạn, trách nhiệm và tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của cơ quan quản lý. Quy định cụ thể chức năng của ban quản lý khu công nghiệp, khu kinh tế trong việc quản lý lao động, tiền lương, tham gia bảo hiểm xã hội cũng như cơ chế phối hợp giữa ban quản lý khu công nghiệp, khu kinh tế với cơ quan bảo hiểm xã hội. Bổ sung quy định hướng dẫn chi tiết về cơ chế phối hợp, chia sẻ thông tin giữa cơ quan quản lý lao động, cơ quan cấp phép thành lập cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và cơ quan Bảo hiểm xã hội.
Hai là, cần hoàn thiện hệ thống hưu trí đa tầng, mô hình này đã được WB khuyến nghị và chứng minh hiệu quả tại nhiều quốc gia trong đó có Đức, Australia, Brazil, giúp cho mọi người lao động có thể được bảo đảm an sinh khi hết tuổi lao động, trong đó:
(1) Tầng thứ nhất, trợ cấp hưu trí xã hội. Mở rộng đối tượng hưởng trợ cấp hưu trí xã hội, giảm tuổi quy định hưởng Trợ cấp hưu trí xã hội từ 75 tuổi hiện nay xuống 70 tuổi và tiếp tục có lộ trình giảm xuống tiệm cận tuổi nghỉ hưu theo Luật định (62 đối với nam và 60 đối với nữ) để bảo đảm an sinh cho những người cao tuổi không thuộc diện bao phủ của cột trụ thứ hai (chế độ hưu trí do Bảo hiểm xã hội Việt Nam quản lý)
(2) Tầng thứ hai, chế độ hưu trí bảo hiểm xã hội. Mở rộng diện tham gia bắt buộc cho tất cả người lao động có thu nhập ổn định, định kỳ, bao gồm cả lao động nền tảng công nghệ (taxi công nghệ, giao hàng…) và lao động giúp việc gia đình, với mức đóng góp bảo hiểm xã hội phù hợp với đặc thù của từng nhóm lao động. Bên cạnh đó, Nhà nước tiếp tục tăng mức hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội cho nông dân và người lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, đồng thời xây dựng các gói bảo hiểm xã hội linh hoạt về thời gian đóng để bảo đảm phù hợp với đặc thù thu nhập không ổn định của nhóm đối tượng này. Tiếp tục điều chỉnh quy định thời gian tối thiểu đóng bảo hiểm xã hội xuống còn 10 năm để người lao động cao tuổi có thể tham gia đóng góp và hưởng chế độ hưu trí khi đến tuổi nghỉ hưu theo luật định cho đến tuổi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội.
(3) Tầng thứ ba, bảo hiểm hưu trí bổ sung. Để thu hẹp khoảng cách với chuẩn mực quốc tế và phát triển nhanh, bền vững trụ cột hưu trí thứ ba, Việt Nam cần triển khai đồng bộ các giải pháp chính sách và quản trị theo lộ trình 3 giai đoạn, bảo đảm tính khả thi và phù hợp với mức độ phát triển của thị trường vốn trong nước, đó là:
Giai đoạn ngắn hạn (2027-2028) tạo đà bằng chính sách khuyến khích và nới lỏng khung đầu tư. Thí điểm cơ chế tự động đăng ký tham gia đối với người lao động trong các doanh nghiệp có quy mô từ 250 lao động trở lên. Mức đóng góp mặc định có thể khởi điểm ở mức 2-4% tiền lương, với quyền rút trong thời hạn 12 tháng kể từ khi đăng ký.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh cho thấy cơ chế tự động đăng ký tham gia là công cụ hiệu quả nhất để nhanh chóng mở rộng độ bao phủ của hệ thống. Song song với đó, việc chuyển đổi mô hình ưu đãi thuế sang EET (hệ thống đăng ký doanh thu điện tử) cần được xem là một cải cách then chốt. Theo hướng này, các khoản đóng góp vào quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện của người lao động và người sử dụng lao động được miễn thuế trong một giới hạn hợp lý; lợi nhuận tích lũy tiếp tục được miễn thuế. Cơ chế này tạo động lực tài chính trực tiếp và rõ ràng cho việc tiết kiệm hưu trí dài hạn. Cần nới lỏng quy định về đầu tư, cho phép các quỹ hưu trí bổ sung đa dạng hóa mạnh mẽ danh mục đầu tư, nhằm cải thiện lợi nhuận kỳ vọng của danh mục. Bên cạnh đó, thành lập hoặc giao cho một tổ chức thuộc Bộ Tài chính giám sát hoạt động đầu tư của các quỹ hưu trí bổ sung nhằm tăng cường tính minh bạch và gia tăng trách nhiệm giải trình đối với các quỹ này.
Giai đoạn trung hạn (2028-2030). Hiện đại hóa quản trị và phát triển hạ tầng thị trường. Trong giai đoạn này, cần bắt buộc việc cung cấp quỹ đầu tư mặc định theo chiến lược vòng đời đối với tất cả các quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện. Quỹ mặc định sẽ tự động điều chỉnh cơ cấu danh mục từ tăng trưởng sang bảo toàn theo độ tuổi của người tham gia, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi của nhóm cận nghỉ hưu. Đồng thời, Bộ Tài chính cần ban hành khung IRM áp dụng thống nhất cho các quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện, yêu cầu triển khai các công cụ kiểm tra áp lực và quản lý tài sản – nợ phải trả,…
Việc tích hợp các yếu tố ESG vào quy trình đầu tư và công bố thông tin theo các chuẩn mực quốc tế cũng cần được quy định bắt buộc nhằm nâng cao năng lực quản trị. Song song với đó, Việt Nam có thể nghiên cứu xây dựng quỹ hưu trí mặc định cấp quốc gia với chi phí quản lý rất thấp, vận hành chủ yếu theo chiến lược đầu tư thụ động dựa trên các chỉ số thị trường, tương tự mô hình của Thụy Điển, với mục tiêu phí quản lý dưới 0,3%/năm. Khi năng lực quản trị và mức độ phát triển của thị trường vốn được nâng cao, có thể mở rộng phạm vi đầu tư sang các tài sản thay thế như bất động sản, hạ tầng và vốn cổ phần tư nhân với tỷ trọng tối đa khoảng 15%, nhằm đa dạng hóa danh mục và nâng cao lợi nhuận ổn định trong dài hạn.
Ba là, hiện nay, quy định về thu bảo hiểm xã hội vẫn còn khoảng chênh lệch khá lớn trong trách nhiệm tham gia đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội giữa người lao động và người sử dụng lao động. Qua nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng cơ chế thu bảo hiểm xã hội của một số nước trên thế giới trong đó có Đức, Hàn Quốc cho thấy, việc quy định tỷ lệ đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội nên cân đối, hài hòa giữa người lao động và người sử dụng lao động, đặc biệt là đối với các chế độ ngắn hạn để hỗ trợ tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Trách nhiệm đóng bảo hiểm xã hội của chủ sử dụng lao động tại Việt Nam chiếm hơn 2/3 tổng số tiền phải đóng bảo hiểm xã hội là một trong những nguyên nhân dẫn đến các doanh nghiệp tìm cách chia ra các khoản chi hỗ trợ để giảm bớt phần trách nhiệm đóng bảo hiểm xã hội và để sử dụng vào mục đích khác nhằm trả lương cho người lao động với mức cao hơn, thuận tiện cho thu hút, sử dụng lao động.
5. Kết luận
Trong thời gian tới, cần nghiên cứu quy định theo hướng giảm tỷ lệ đóng bảo hiểm xã hội của người sử dụng lao động, đồng thời điều chỉnh mức đóng của người lao động cho phù hợp. Pháp luật cần có quy định cụ thể áp dụng đối với các doanh nghiệp có chủ sử dụng lao động bỏ trốn hoặc không liên lạc được, nhằm bảo đảm quyền lợi của người lao động. Đồng thời, cần có chế tài mạnh nhằm ngăn chặn việc người sử dụng lao động nợ và trốn đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động, với quy định giao quyền cho cơ quan bảo hiểm xã hội đề nghị các cơ quan chức năng phạt nặng, đình chỉ hoạt động hoặc rút giấy phép đối với doanh nghiệp nợ, trốn đóng bảo hiểm xã hội.
Tài liệu tham khảo:
Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2022). Báo cáo kết quả công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp giai đoạn 2019 – 2024.
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2023). Báo cáo tổng kết việc thi hành Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 (giai đoạn 2016–2021). Hồ sơ thẩm định dự án Luật Bảo hiểm xã hội.
Đỗ Văn Sinh (2005). Hoàn thiện công tác quản lý Quỹ Bảo hiểm xã hội tại Việt Nam. Luận án tiến sĩ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
ILO (2019a). Báo cáo tóm lược các phương án xây dựng hệ thống hưu trí đa tầng tại Việt Nam.
ILO (2019b). Xây dựng hệ thống hưu trí toàn diện cho Việt Nam: triển khai Nghị quyết 28/NQ-TW.
Nguyễn Duy Cường (2019). Đổi mới hệ thống hưu trí theo định hướng cải cách chính sách BHXH giai đoạn 2020–2030. Báo cáo tổng hợp đề tài nghiên cứu khoa học, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.
Nguyễn Kim Thái (2005). Tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động bảo hiểm xã hội ở Việt Nam hiện nay. Luận án tiến sĩ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
Nguyễn Thị Hào (2015). Đảm bảo tài chính cho Bảo hiểm xã hội Việt Nam. Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.
Nguyễn Trọng Thản (2004). Giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư của Quỹ Bảo hiểm xã hội tại Việt Nam. Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.
Phạm Đỗ Nhật Tân (2007). Các giải pháp bảo đảm cân đối quỹ bảo hiểm xã hội bắt buộc khi thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội thực hiện.
Trần Hải Nam (2025). Tác động của chính sách tăng tuổi nghỉ hưu đối với cân đối quỹ hưu trí và tử tuất tại Việt Nam. Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.



