Hệ sinh thái du lịch Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Vietnam’s tourism ecosystem in the new era

Lê Thu Hương
Học viên Hành chính và Quản trị công
Email: huonglt1@apag.edu.vn
Trần Quốc Hưng
Đại học Công nghiệp Hà Nội
Email: tqhungdlsp@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam, được khẳng định từ Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 và nâng tầm trong Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị. Bài viết làm rõ nội hàm mô hình hệ sinh thái du lịch trong kỷ nguyên mới và các chuyển dịch căn bản trong tư duy chính sách giữa hai nghị quyết. (1) Từ ngành mũi nhọn đơn lẻ sang hệ sinh thái kinh tế tổng hợp, lấy văn hóa làm nền tảng, lan tỏa sang công nghiệp văn hóa, kinh tế đêm, kinh tế số. (2) Từ tăng trưởng số lượng sang mô hình chất lượng, xanh, thông minh, hướng tới khách chi tiêu cao, lưu trú dài ngày, đặt mục tiêu 10-12% GDP, 45-50 triệu lượt khách quốc tế và 80-90 tỷ USD vào năm 2030. (3) Từ quản trị hành chính ngành sang quản trị hệ sinh thái dựa trên dữ liệu và trách nhiệm của cả hệ thống chính trị. Các bước chuyển này là cần thiết, kỳ vọng tạo bứt phá, song thành công phụ thuộc vào thể chế hóa, tổ chức thực hiện và liên kết vùng.

Từ khóa: Chính sách phát triển du lịch; du lịch Việt Nam; hệ sinh thái kinh tế; kỷ nguyên mới; Nghị quyết 26-NQ/TW; phát triển bền vững.

Abstract: Tourism is a key economic sector in Vietnam, as affirmed in Resolution No. 08-NQ/TW dated January 16, 2017, and further elevated in Resolution No. 26-NQ/TW dated August 22, 2026, issued by the Politburo. This article clarifies the essence of the tourism ecosystem model in the new era and the fundamental shifts in policy thinking between the two documents. (1) From a single flagship industry to a comprehensive economic ecosystem, with culture as the foundation, extending to the cultural industry, the night economy, and the digital economy. (2) From quantitative growth to a model focused on quality, sustainability, and smart development, targeting high-spending visitors and extended stays, with goals of 10–12% of GDP, 45–50 million international visitors, and 80–90 billion USD by 2030. (3) From sector-specific administrative management to data-driven ecosystem governance involving the entire political system. These transitions are necessary and are expected to drive breakthroughs, but success depends on institutionalization, organizational implementation, and regional collaboration.

Keywords: Tourism development policy; Vietnamese tourism; economic ecosystem; new era; Resolution 26-NQ/TW; sustainable development.

1. Đặt vấn đề

Du lịch được xem là một trong những ngành kinh tế phát triển nhanh và có sức lan tỏa rộng nhất trên thế giới trong hai thập niên qua. Không chỉ tạo ra doanh thu trực tiếp, du lịch còn kéo theo sự phát triển của chuỗi hàng trăm ngành, lĩnh vực liên quan – từ giao thông vận tải, lưu trú, ăn uống, bán lẻ đến tài chính, bảo hiểm, truyền thông, công nghệ và nông nghiệp địa phương. Với đặc tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao, du lịch có khả năng tạo ra giá trị gia tăng lớn, thúc đẩy tiêu dùng, mở rộng thị trường dịch vụ, tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đồng thời góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, tài nguyên thiên nhiên, quảng bá hình ảnh đất nước, con người, từ đó nâng cao vị thế và sức mạnh mềm quốc gia (Bộ Chính trị, 2026). Chính vì vậy, hầu hết các nền kinh tế trong khu vực Đông Nam Á cũng như trên thế giới đều coi du lịch là một trong những trụ cột của chiến lược tăng trưởng dài hạn, đặc biệt trong bối cảnh du lịch toàn cầu sau đại dịch đã phục hồi mạnh mẽ, đi kèm với sự thay đổi sâu sắc về hành vi tiêu dùng, kênh phân phối và mức độ cạnh tranh giữa các điểm đến.

Tại Việt Nam, du lịch được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn ngay từ đầu những năm 2000 và được thể chế hóa mạnh mẽ qua Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Đây được coi là văn bản định hướng cấp cao nhất từ trước đến nay của du lịch Việt Nam tính đến thời điểm đó, tạo nền tảng chính trị, nhận thức và thể chế cho sự phát triển của ngành trong giai đoạn 2017-2026. Với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, kinh tế du lịch đã có những bước tiến đáng ghi nhận: hệ thống cơ chế, chính sách dần được hoàn thiện; thị trường khách ngày càng mở rộng; hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật, hệ thống sản phẩm, công tác quảng bá, xúc tiến và chuyển đổi số có nhiều tiến bộ (Bộ Chính trị, 2026). Năm 2019, trước đại dịch, Việt Nam đón 18 triệu lượt khách quốc tế; sau đại dịch, ngành đã phục hồi nhanh và năm 2025 đạt 21,2 triệu lượt khách quốc tế, tăng 20,4% so với năm 2024, vượt mức trước đại dịch (Báo Thế giới và Việt Nam, 2026).

Tuy nhiên, sự tăng trưởng nói trên vẫn bộc lộ nhiều hạn chế mang tính cơ cấu. Nghị quyết số 26-NQ/TW khi đánh giá giai đoạn vừa qua đã thẳng thắn chỉ ra: du lịch phát triển chưa thực sự bền vững, chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và yêu cầu phát triển của đất nước; nhận thức của một số cấp, ngành, địa phương về tính chất kinh tế tổng hợp, liên ngành, liên vùng của du lịch chưa đầy đủ; nguồn lực đầu tư chưa tương xứng; sản phẩm du lịch thiếu chiều sâu, sức sáng tạo, chưa tạo được nhiều giá trị gia tăng; năng lực quản trị điểm đến, mức độ ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh, chất lượng dịch vụ và năng lực doanh nghiệp du lịch còn hạn chế; sự phối hợp giữa các ngành và khả năng liên kết vùng chưa đồng bộ, chặt chẽ; các điểm nghẽn về thể chế, hạ tầng, nguồn lực và tổ chức thực hiện chậm được tháo gỡ (Bộ Chính trị, 2026). Nói cách khác, sau gần một thập niên, bài toán của du lịch Việt Nam không còn nằm ở quy mô mà nằm ở chất lượng, chiều sâu và giá trị gia tăng.

Chính bối cảnh đó đã dẫn đến sự ra đời của Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới, thay thế Nghị quyết số 08-NQ/TW (Bộ Chính trị, 2026). Văn bản mới được ban hành trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới với mục tiêu tăng trưởng hai con số, đồng thời du lịch thế giới đứng trước nhiều biến động lớn về địa chính trị, kinh tế và môi trường, đòi hỏi mỗi quốc gia phải linh hoạt ứng phó bằng những chiến lược tiếp cận toàn diện, bền vững. Điểm nổi bật của Nghị quyết số 26-NQ/TW là tư duy phát triển du lịch theo hệ sinh thái kinh tế tổng hợp: du lịch không chỉ là một ngành dịch vụ đứng riêng mà là hạt nhân tạo động lực cho thương mại, dịch vụ, giao thông vận tải, công nghiệp văn hóa, công nghiệp sáng tạo, nông nghiệp, kinh tế số, kinh tế đêm và nhiều lĩnh vực khác (Bộ Chính trị, 2026).

Khái niệm hệ sinh thái trong kinh tế – quản trị ngày càng được sử dụng phổ biến để mô tả sự vận hành của các tập hợp chủ thể liên kết với nhau nhằm cùng tạo ra giá trị lớn hơn tổng giá trị của từng thành viên. Vận dụng vào lĩnh vực du lịch, cách tiếp cận hệ sinh thái cho phép nhận diện đầy đủ hơn các mắt xích của chuỗi giá trị, các bên liên quan và các nguồn lực cần phối hợp để nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến.

2. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính với ba cách tiếp cận bổ trợ cho nhau.

Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu thứ cấp từ nguồn dữ liệu chính là toàn văn Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 và Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị, cùng các bài viết phân tích, công bố chính thống của cơ quan quản lý nhà nước về du lịch (Tổng cục Du lịch, Trung tâm Thông tin du lịch) và báo chí chuyên ngành được kiểm chứng nguồn gốc. Các tài liệu được thu thập trong khoảng thời gian từ ngày 22/8/2026 đến ngày 29/8/2026, tức ngay sau khi nghị quyết mới được ban hành nhằm bảo đảm tính cập nhật của dữ liệu.

Phương pháp so sánh, đối chiếu văn bản chính sách thông qua hai nghị quyết được rà soát song song theo một khung tiêu chí thống nhất gồm bốn nhóm: (1) Bối cảnh ra đời và quan điểm chỉ đạo; (2) Hệ thống mục tiêu định lượng và định tính theo từng mốc thời gian; (3) Các nhóm nhiệm vụ, giải pháp và những lĩnh vực ưu tiên; (4) Cơ chế tổ chức, phân công trách nhiệm thực hiện. Việc đối chiếu theo khung tiêu chí cho phép xác định chính xác đâu là nội dung kế thừa, đâu là nội dung bổ sung, đổi mới – từ đó nhận diện các chuyển dịch căn bản trong tư duy chính sách giữa hai giai đoạn.

Phương pháp phân tích các số liệu về khách du lịch quốc tế, khách nội địa, tổng thu du lịch và mục tiêu việc làm trong giai đoạn 2017-2026 được thu thập từ các nguồn công bố của Tổng cục Du lịch và các cơ quan truyền thông chính thống, sau đó được sử dụng để kiểm chứng tính hợp lý của các mục tiêu trong nghị quyết mới (ví dụ tính toán tốc độ tăng trưởng khách quốc tế bình quân cần thiết để đạt mốc 2030, so sánh với tốc độ của các giai đoạn trước). Một số chỉ tiêu gián tiếp (như lượng khách năm 2024) được suy ra từ các tỷ lệ tăng trưởng công bố và được chú thích rõ trong bài để người đọc có thể kiểm chứng.

3. Cơ sở lý luận: hệ sinh thái du lịch và khung phân tích

Khái niệm hệ sinh thái kinh doanh được phổ biến từ những năm 90 thế kỷ XX nhằm mô tả một cộng đồng các tổ chức, cá nhân có tương tác với nhau qua nền tảng, hạ tầng, thể chế và quy tắc chung, cùng nhau sản sinh ra hàng hóa, dịch vụ và giá trị mà không một thành viên đơn lẻ nào có thể tạo ra được. So với chuỗi giá trị truyền thống vốn được mô tả như một đường thẳng các khâu nối tiếp, cách tiếp cận hệ sinh thái nhấn mạnh tính mạng lưới: các chủ thể vừa cạnh tranh vừa hợp tác, các nguồn lực được chia sẻ, dòng giá trị chảy theo nhiều hướng và sự thịnh vượng của mỗi thành viên phụ thuộc vào sức khỏe chung của cả hệ thống.

Vận dụng vào du lịch, hệ sinh thái du lịch có thể được hiểu là tổ hợp các chủ thể tham gia trực tiếp vào chuỗi cung ứng du lịch (các hãng lữ hành và đại lý du lịch, hãng hàng không, vận chuyển đường bộ, đường thủy, đường sắt, cơ sở lưu trú mọi phân khúc, nhà hàng, khu vui chơi giải trí, điểm tham quan, dịch vụ hướng dẫn, các nền tảng phân phối trực tuyến), các bên hỗ trợ (hạ tầng giao thông, hạ tầng số và viễn thông, tài chính – ngân hàng, bảo hiểm, đào tạo nhân lực, truyền thông – quảng cáo, an ninh trật tự, y tế), các nhà quản lý (trung ương và địa phương) cùng cộng đồng dân cư nơi diễn ra hoạt động du lịch, vận hành trong một môi trường chung về thể chế, văn hóa, cảnh quan, tài nguyên thiên nhiên và các giá trị xã hội. Một hệ sinh thái du lịch khỏe mạnh không chỉ tạo ra trải nghiệm tốt cho khách mà còn phân phối lợi ích công bằng cho các thành viên, hạn chế tác động tiêu cực đến môi trường và cộng đồng, đồng thời có khả năng tự thích ứng trước các cú sốc như dịch bệnh, thiên tai hay biến động thị trường.

Trong Nghị quyết số 26-NQ/TW, cách tiếp cận này được thể chế hóa qua khái niệm hệ sinh thái kinh tế tổng hợp: du lịch được xác định là động lực để phát triển thương mại, dịch vụ, giao thông vận tải, công nghiệp văn hóa, công nghiệp sáng tạo, nông nghiệp, kinh tế số, kinh tế đêm và các ngành, lĩnh vực khác, vừa cộng hưởng nâng cao giá trị gia tăng, vừa bảo đảm sự gắn kết, phát triển bền vững các trụ cột kinh tế – văn hóa – xã hội – môi trường, củng cố quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, mở rộng ngoại giao văn hóa và hội nhập quốc tế (Bộ Chính trị, 2026). Nghị quyết cũng nhấn mạnh phát triển du lịch là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, trong đó doanh nghiệp là lực lượng tiên phong, Nhân dân là chủ thể tham gia và thụ hưởng-một quan điểm hoàn toàn phù hợp với logic của mô hình hệ sinh thái, khi vai trò của các chủ thể không chỉ giới hạn trong khâu sản xuất – kinh doanh mà còn bao gồm kiến tạo môi trường, thụ hưởng và giám sát sự phát triển.

Khung phân tích của bài viết được xác định gồm sáu thành phần của hệ sinh thái du lịch: (1) Chủ thể trung tâm là doanh nghiệp du lịch, đặc biệt là các tập đoàn, tổng công ty có năng lực cạnh tranh quốc tế; (2) Chuỗi cung ứng và sản phẩm dịch vụ liên hoàn; (3) Hạ tầng kết nối đa phương thức và hạ tầng số; (4) Thể chế, chính sách và cơ chế tài chính; (5) Nguồn nhân lực, khoa học – công nghệ và dữ liệu; (6) Cộng đồng, văn hóa và môi trường. Sáu thành phần này sẽ được sử dụng để rà soát nội dung của hai nghị quyết ở các phần tiếp theo, qua đó nhận diện những thay đổi về chính sách ở cấp độ hệ thống.

4. Thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW: kết quả và điểm nghẽn

Nghị quyết 08-NQ/TW đã tạo ra những thay đổi quan trọng về mặt nhận thức và định hướng. Lần đầu tiên, du lịch được khẳng định ở cấp cao nhất là ngành kinh tế mũi nhọn, từ đó kéo theo hàng loạt nội dung cụ thể hóa trong các chiến lược, quy hoạch, đề án của Chính phủ, bộ, ngành và địa phương: Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030, Quy hoạch hệ thống du lịch quốc gia, các chính sách về thị thực, đường bay, hạ tầng và quảng bá điểm đến. Nhận thức của các cấp, các ngành và toàn xã hội về vị trí, vai trò của du lịch có chuyển biến tích cực; hệ thống cơ chế, chính sách từng bước được hoàn thiện; thị trường du lịch ngày càng mở rộng; hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật, hệ thống sản phẩm, chất lượng nguồn nhân lực, công tác quảng bá, xúc tiến và chuyển đổi số trong du lịch có nhiều tiến bộ (Bộ Chính trị, 2026; Trung tâm Thông tin du lịch, 2026).

Giai đoạn 2017-2019 chứng kiến sự tăng trưởng nhanh, liên tục của thị trường khách quốc tế, đưa Việt Nam vào nhóm các điểm đến có tốc độ tăng trưởng đáng chú ý của khu vực Đông Nam Á, với mốc 18 triệu lượt khách quốc tế năm 2019 (Báo Thế giới và Việt Nam, 2026). Đại dịch Covid-19 giai đoạn 2020-2021 đã làm gián đoạn toàn bộ chuỗi cung ứng du lịch toàn cầu, và Việt Nam không phải ngoại lệ: lượng khách quốc tế sụt giảm nghiêm trọng, buộc các doanh nghiệp phải tái cấu trúc. Tuy nhiên, nhờ thị trường nội địa được khai thác mạnh trong giai đoạn dịch và các chính sách mở cửa, phục hồi được triển khai quyết liệt sau đó, du lịch Việt Nam đã phục hồi ấn tượng và sớm vượt mốc trước đại dịch: năm 2025, lượng khách quốc tế đạt 21,2 triệu lượt, tăng 20,4% so với năm 2024 (tương đương khoảng 17,6 triệu lượt), vượt đáng kể mức 18 triệu lượt của năm 2019. Năm 2026, ngành du lịch đặt mục tiêu đón 25 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ 150 triệu lượt khách nội địa và tổng thu khoảng 1,125 triệu tỉ đồng (Báo Thế giới và Việt Nam, 2026).

Tuy nhiên, trong giai đoạn vừa qua, mô hình tăng trưởng vẫn nghiêng về số lượng, nhiều địa phương tập trung kéo lượt khách mà chưa chú trọng chi tiêu, thời gian lưu trú, mùa vụ và phân khúc; sản phẩm du lịch thiếu chiều sâu, trùng lặp, chưa tạo được nhiều giá trị gia tăng. Năng lực quản trị điểm đến còn hạn chế: dữ liệu thiếu thống nhất, công tác dự báo, điều phối giữa các bên liên quan tại điểm đến chưa hiệu quả. Ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh mới ở mức từng phần; chất lượng dịch vụ và năng lực doanh nghiệp chưa đồng đều, số doanh nghiệp du lịch có quy mô lớn, thương hiệu mạnh, khả năng cạnh tranh quốc tế còn ít. Sự phối hợp liên ngành, liên vùng chưa đồng bộ, chặt chẽ; các điểm nghẽn về thể chế, hạ tầng, nguồn lực và tổ chức thực hiện chậm được tháo gỡ (Bộ Chính trị, 2026).

Những hạn chế này cho thấy, mô hình phát triển theo chiều rộng đã chạm tới giới hạn của nó trong bối cảnh cạnh tranh điểm đến ngày càng gay gắt. Đây chính là động lực trực tiếp dẫn đến việc Bộ Chính trị ban hành một văn bản định hướng mới, đặt du lịch trong hệ sinh thái kinh tế tổng hợp thay vì tiếp cận như một ngành đơn lẻ.

5. Nghị quyết số 26-NQ/TW: tư duy hệ sinh thái được thể chế hóa

Nghị quyết số 26-NQ/TW gồm 3 bộ phận cấu thành chặt chẽ: quan điểm chỉ đạo (5 quan điểm), hệ thống mục tiêu (đến năm 2030 và đến năm 2045) và các nhóm nhiệm vụ, giải pháp (8 nhóm), kèm theo phần tổ chức thực hiện, phân công trách nhiệm cụ thể. So với Nghị quyết số 08-NQ/TW, văn bản mới không đơn thuần nâng mức các con số mục tiêu mà thay đổi căn bản cách tư duy về du lịch, được thể hiện rõ nhất qua ba chuyển dịch dưới đây.

Thứ nhất, chuyển từ ngành mũi nhọn đơn lẻ sang hệ sinh thái kinh tế tổng hợp.

Nghị quyết 08-NQ/TW xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn với trọng tâm khai thác tài nguyên, tăng nhanh quy mô thị trường. Nghị quyết 26-NQ/TW giữ nguyên và nâng tầm định vị này: du lịch không chỉ là ngành mũi nhọn mà còn là một động lực tăng trưởng mới của đất nước, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số; đồng thời được nhìn nhận như một hệ sinh thái kinh tế tổng hợp với văn hóa làm nền tảng cốt lõi, bản sắc và chất lượng trải nghiệm làm lợi thế cạnh tranh, phát triển dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (Bộ Chính trị, 2026). Cụ thể hóa, nghị quyết yêu cầu phát triển các ngành, lĩnh vực tạo tiền đề cho du lịch, đồng thời coi du lịch là động lực lan tỏa ngược lại cho các ngành đó – một vòng tương tác hai chiều đúng bản chất mạng lưới của hệ sinh thái. Văn hóa được đặt ở vị trí trung tâm: thiết chế văn hóa, thể thao, di sản, thương hiệu quốc gia và công nghiệp văn hóa (điện ảnh, âm nhạc, thời trang, giải trí, sáng tạo số) trở thành nguồn lực chủ đạo để tạo ra sản phẩm du lịch khác biệt, giàu bản sắc.

Thứ hai, chuyển từ mô hình tăng trưởng theo số lượng sang chất lượng, xanh, thông minh.

Trong khi giai đoạn trước chú trọng gia tăng lượt khách, Nghị quyết số 26-NQ/TW đặt trọng tâm chiến lược vào phân khúc khách có mức chi tiêu cao, lưu trú dài ngày và các sản phẩm giá trị gia tăng cao: du lịch văn hóa gắn với công nghiệp văn hóa; nghỉ dưỡng biển, đảo, núi, rừng cao cấp; du lịch y tế và chăm sóc sức khỏe (kết hợp y dược cổ truyền, nha khoa, spa); du lịch thể thao (golf, marathon, thể thao biển, thể thao mạo hiểm); du lịch hội nghị – sự kiện – lễ hội (MICE); du lịch mua sắm gắn với cơ chế hoàn thuế giá trị gia tăng, cửa hàng miễn thuế, trung tâm outlet; kinh tế đêm với tổ hợp biểu diễn nghệ thuật, trung tâm hòa nhạc, phố lễ hội (Bộ Chính trị, 2026). Các mục tiêu định lượng được nâng mức rõ rệt, chi tiết tại Bảng 1: đến năm 2030, du lịch đóng góp trực tiếp 10-12% GDP, phấn đấu đón 45-50 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ 160 triệu lượt khách nội địa, tổng thu từ khách du lịch 80-90 tỷ USD; đến năm 2045, đóng góp trực tiếp 14-15% GDP, thuộc nhóm 30 quốc gia có năng lực cạnh tranh du lịch hàng đầu thế giới và đón khoảng 70 triệu lượt khách quốc tế (Bộ Chính trị, 2026).

Bảng 1. Mục tiêu phát triển du lịch theo Nghị quyết 26-NQ/TW

Chỉ tiêuĐến 2030Đến 2045
Đóng góp trực tiếp GDP10-12%14-15%
Khách quốc tế (triệu lượt)45-5070
Khách nội địa (triệu lượt)160—
Tổng thu từ khách du lịch80-90 tỷ USD—
Việc làm trực tiếp/gián tiếp2,3/3,5 triệu việc làm—
Xếp hạng năng lực cạnh tranhNhóm đầu Đông Nam ÁTop 30 thế giới
Nguồn: Nghị quyết 26-NQ/TW, 2026

Thứ ba, chuyển từ quản trị hành chính ngành sang quản trị hệ sinh thái dựa trên dữ liệu.

Nghị quyết 08-NQ/TW chủ yếu vận hành theo cơ chế ngành: cơ quan quản lý du lịch chủ trì, các bộ, địa phương phối hợp. Nghị quyết 26-NQ/TW đổi mới phương thức quản trị ở hai chiều. Một là, quản trị theo dữ liệu: nghị quyết yêu cầu nâng cao năng lực quản trị du lịch theo hướng hiện đại, ứng dụng công nghệ số, quản trị theo dữ liệu gắn với quy hoạch không gian phát triển; hình thành đồng bộ hệ sinh thái du lịch thông minh, cơ sở dữ liệu du lịch quốc gia và nền tảng số du lịch quốc gia (Bộ Chính trị, 2026). Hai là, huy động cả hệ thống chính trị: phát triển du lịch trở thành nhiệm vụ chung, gắn trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền và người đứng đầu; mục tiêu du lịch được lồng ghép vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội; doanh nghiệp là lực lượng tiên phong, Nhân dân là chủ thể tham gia và thụ hưởng (Bộ Chính trị, 2026). Đây là thay đổi có ý nghĩa rất lớn: du lịch không còn là câu chuyện của riêng ngành văn hóa, thể thao và du lịch hay các địa phương có tài nguyên du lịch, mà là câu chuyện chung của cả nền kinh tế, của mọi cấp, mọi ngành.

Bảng 2. So sánh một số nội dung tiêu biểu giữa Nghị quyết 08 NQ/TW và Nghị quyết 26-NQ/TW

Tiêu chíNghị quyết 08-NQ/TW (2017)Nghị quyết 26-NQ/TW (2026)
Định vị du lịchNgành kinh tế mũi nhọnNgành kinh tế mũi nhọn, động lực tăng trưởng mới gắn mục tiêu tăng trưởng hai con số
Cách tiếp cậnNgành đơn lẻ, khai thác tài nguyênHệ sinh thái kinh tế tổng hợp, văn hóa làm nền tảng
Mô hình tăng trưởngNghiêng về số lượngChất lượng, xanh, thông minh, sáng tạo
Trọng tâm thị trườngMở rộng thị trường, tăng lượt kháchKhách chi tiêu cao, lưu trú dài ngày
Phương thức quản trịQuản lý hành chính ngànhQuản trị dữ liệu, hệ sinh thái, trách nhiệm cả hệ thống chính trị
Công cụ công nghệChuyển đổi số từng bướcHệ sinh thái du lịch thông minh, dữ liệu du lịch quốc gia, trí tuệ nhân tạo
Nguồn: Tổng hợp từ hai nghị quyết

Thứ tư, tám nhóm nhiệm vụ, giải pháp: nội dung và điểm nhấn.

Để hiện thực hóa các mục tiêu, Nghị quyết số 26-NQ/TW đề ra 8 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm: (1) Đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức và trách nhiệm; (2) Hoàn thiện thể chế, chính sách, tạo đột phá chiến lược, khơi thông nguồn lực; (3) Phát triển hạ tầng đồng bộ, hình thành các trung tâm du lịch có sức cạnh tranh cao; (4) Phát triển thị trường và sản phẩm du lịch chất lượng cao; (5) Tăng cường, nâng cao hiệu quả quảng bá, xúc tiến và thương hiệu du lịch; (6) Phát triển nguồn nhân lực, doanh nghiệp và cộng đồng; (7) Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và du lịch thông minh; (8) Đổi mới phương thức quản trị du lịch, nâng cao chất lượng điểm đến xanh, thông minh, an toàn, bền vững.

Trong đó, nhóm nhiệm vụ thứ hai được xem là nhóm tạo đột phá nhiều nhất, với hàng loạt cơ chế, chính sách mới được yêu cầu nghiên cứu, ban hành: phát triển các mô hình kinh tế chia sẻ, kinh doanh trên nền tảng số, kinh tế đêm, kinh tế ven sông, ven biển; hoàn thuế giá trị gia tăng tại các trung tâm thương mại và du lịch lớn để phát triển du lịch mua sắm, gia tăng chi tiêu của khách; hoàn thiện cơ chế quản lý các nền tảng du lịch trực tuyến xuyên biên giới; cơ chế hợp tác công – tư trong quản lý, bảo tồn và khai thác các điểm đến có giá trị sinh thái đặc biệt; bổ sung du lịch vào danh mục ngành, nghề ưu đãi đầu tư đối với các dự án động lực; chính sách thị thực thuận lợi, mở rộng miễn thị thực song phương, thị thực linh hoạt và ưu đãi cho phân khúc khách chi trả cao, kèm quy định bảo hiểm bắt buộc đối với khách du lịch quốc tế; tín dụng ưu đãi cho dự án du lịch xanh, bền vững; nghiên cứu cơ chế thí điểm có kiểm soát để thu hút khách lưu trú dài ngày, người làm việc từ xa và dòng vốn quốc tế vào lĩnh vực du lịch, nghỉ dưỡng.

Về không gian phát triển, nghị quyết xác định phát triển mạnh ba cực tăng trưởng du lịch Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng; từng bước đưa Phú Quốc trở thành cực tăng trưởng mới, trung tâm du lịch nghỉ dưỡng biển cao cấp mang tầm quốc tế, thu hút các sự kiện lớn; hình thành 10 trung tâm du lịch trọng điểm, 20 khu du lịch quốc gia; bảo đảm khoảng 1,5 triệu buồng lưu trú du lịch; phấn đấu có 15 tập đoàn, tổng công ty du lịch có thương hiệu mạnh và sức cạnh tranh quốc tế; toàn ngành tạo khoảng 2,3 triệu việc làm trực tiếp và 3,5 triệu việc làm gián tiếp. Đáng chú ý, nghị quyết dành sự quan tâm đặc biệt cho hạ tầng đường biển, đặt mục tiêu đưa Việt Nam trở thành điểm đến quan trọng trong hành trình du lịch tàu biển khu vực châu Á – Thái Bình Dương; đồng thời phát triển mạng lưới hạ tầng kết nối đa phương thức từ các cửa ngõ quốc tế đến các vùng động lực, trung tâm du lịch và khu du lịch quốc gia, gồm cao tốc, đường ven biển, hành lang du lịch liên vùng, cảng tàu du lịch, bến du thuyền, tuyến đường thủy, đường sắt du lịch và các nhà ga có hệ sinh thái dịch vụ đồng bộ.

Về quảng bá, thương hiệu, nghị quyết yêu cầu xây dựng chương trình xúc tiến du lịch quốc gia thống nhất, chuyên nghiệp, định vị Việt Nam là điểm đến chất lượng cao, an toàn, hấp dẫn; Nhà nước điều phối thống nhất các chiến dịch quảng bá điểm đến quốc gia và đồng hành với doanh nghiệp lớn; xây dựng mạng lưới đại sứ du lịch số tại các thị trường trọng điểm, lựa chọn người có ảnh hưởng, nhà sáng tạo nội dung số, chuyên gia văn hóa – du lịch bản địa, quảng bá bằng ngôn ngữ của từng thị trường; xây dựng hệ thống dữ liệu nội dung gốc du lịch quốc gia đa ngôn ngữ làm nguồn tư liệu chính thống cho báo chí, truyền thông; ứng dụng nền tảng số, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo trong toàn bộ các khâu quảng bá, xúc tiến và quản trị danh tiếng điểm đến; có cơ chế hỗ trợ mở đường bay mới, đón các đoàn làm phim quốc tế đến Việt Nam.

Về vốn con người và doanh nghiệp, nghị quyết yêu cầu thành lập Hội đồng kỹ năng nghề du lịch quốc gia, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng, thu hút, trọng dụng nhân tài, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và kênh phân phối toàn cầu.

Bảng 3. Tám nhóm nhiệm vụ, giải pháp của Nghị quyết 26-NQ/TW

NhómNội dung trọng tâm
1Đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp, ngành, người đứng đầu
2Hoàn thiện thể chế, chính sách; đột phá về thị thực, hoàn thuế, kinh tế đêm, PPP, thí điểm có kiểm soát, khơi thông nguồn lực
3Hạ tầng kết nối đa phương thức; cảng tàu biển cỡ lớn; 3 cực tăng trưởng; Phú Quốc; tổ hợp du lịch – giải trí – mua sắm
4Phát triển thị trường, sản phẩm chất lượng cao: văn hóa, nghỉ dưỡng, y tế, thể thao, MICE, mua sắm, ẩm thực, cộng đồng
5Quảng bá, xúc tiến: chương trình quốc gia thống nhất, đại sứ du lịch số, dữ liệu nội dung gốc đa ngôn ngữ
6Phát triển nguồn nhân lực, doanh nghiệp và cộng đồng; Hội đồng kỹ năng nghề du lịch quốc gia
7Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; du lịch thông minh; dữ liệu du lịch quốc gia
8Đổi mới quản trị du lịch; điểm đến xanh, thông minh, an toàn, bền vững
Nguồn: Nghị quyết 26-NQ/TW, 2026

Thứ năm, tính khả thi và các điều kiện thực hiện.

Với mục tiêu 25 triệu lượt khách quốc tế năm 2026, để đạt mốc 45-50 triệu lượt vào năm 2030, lượng khách bình quân phải tăng khoảng 17-19%/năm trong bốn năm liên tiếp (2027-2030). Đây là mức cao so với mặt bằng chung của du lịch thế giới, song không phải là bất khả thi đối với Việt Nam: giai đoạn trước đại dịch, thị trường khách quốc tế của một số điểm đến trong khu vực từng đạt tốc độ tăng trưởng hai con số nhờ chính sách thị thực thuận lợi và sự bùng nổ của các đường bay quốc tế; năm 2025 vừa qua, chính Việt Nam đã đạt mức tăng 20,4% trong bối cảnh phục hồi sau đại dịch (Báo Thế giới và Việt Nam, 2026). Nói cách khác, câu hỏi không phải là thị trường có cầu hay không, mà là năng lực hấp thụ của hệ thống du lịch trong nước có theo kịp hay không: hạ tầng tiếp cận điểm đến, công suất lưu trú (mục tiêu 1,5 triệu buồng), chất lượng sản phẩm và nhân lực, mức độ đồng bộ giữa các khâu của chuỗi cung ứng.

Hình 1. Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam và mục tiêu đến năm 2030

(triệu lượt)

Các quốc gia chuyển đổi thành công sang mô hình du lịch chất lượng cao thường dựa trên ba trụ cột: chính sách thị thực và tài chính thuận lợi, hạ tầng kết nối vượt trội và chiến dịch thương hiệu điểm đến thống nhất, bền bỉ. Nghị quyết 26-NQ/TW đã đồng thời đề cập cả ba nhóm này. Điểm mạnh của văn bản là sự toàn diện: các giải pháp bao phủ từ tầm vĩ mô (thể chế, hạ tầng, thị thực) đến vi mô (sản phẩm cụ thể như du lịch golf, marathon, nha khoa, spa, chợ đêm, làng du lịch cộng đồng, hệ thống nhà hàng đạt chuẩn quốc tế), từ đầu vào (nhân lực, vốn, đất đai) đến đầu ra (quảng bá, dữ liệu, danh tiếng điểm đến). Đặc biệt, việc cho phép thí điểm có kiểm soát đối với những vấn đề cấp bách chưa có khung pháp lý thể hiện tinh thần đột phá, chấp nhận thử nghiệm mà giai đoạn trước chưa có.

Tuy vậy, giới hạn lớn nhất của các văn bản định hướng chiến lược nói chung, và của Nghị quyết số 26-NQ/TW nói riêng, nằm ở khâu tổ chức thực hiện. Bài học từ Nghị quyết số 08-NQ/TW cho thấy một văn bản hay không tự động chuyển hóa thành kết quả: những điểm nghẽn về thể chế, nguồn lực đã được chỉ ra từ lâu nhưng vẫn chậm được tháo gỡ vì thiếu cơ chế giám sát, thiếu nguồn lực thực hiện và thiếu sự gắn kết giữa các bộ, ngành, địa phương. Vì vậy, tính khả thi của nghị quyết mới phụ thuộc vào ít nhất bốn điều kiện. Một là, Chương trình hành động của Chính phủ phải có lộ trình, phân công trách nhiệm và nguồn lực cụ thể theo từng nhóm nhiệm vụ. Hai là, việc kiện toàn Ban Chỉ đạo Nhà nước về Du lịch phải đi kèm cơ chế điều phối liên ngành, liên vùng thực chất, không dừng ở hình thức. Ba là, thể chế hóa các chính sách đột phá (thị thực, hoàn thuế, kinh tế đêm, thí điểm) cần được Quốc hội và Chính phủ triển khai nhanh, đồng bộ; bởi giữa mục tiêu chính trị và văn bản quy phạm pháp luật đang còn một khoảng trống lớn. Bốn là, cần có bộ chỉ số theo dõi, đánh giá thường niên để đo lường tiến độ thực hiện từng mục tiêu, công khai để xã hội giám sát.

Ngoài ra, cần lưu ý các rủi ro và hạn chế tiềm ẩn mà nghị quyết chưa giải quyết trọn vẹn. Về môi trường, phát triển nhanh quy mô khách kéo theo áp lực lên các điểm đến nhạy cảm sinh thái như vịnh, đảo, rừng, vườn quốc gia; yêu cầu chuyển đổi xanh đến nay vẫn thiếu chuẩn đo lường và công cụ kiểm soát. Về xã hội, hiện tượng quá tải hạ tầng, đẩy giá bất động sản, (du lịch hóa) các giá trị văn hóa phi vật thể ở một số điểm nóng là rủi ro thường trực cần cơ chế quản trị chặt chẽ. Về thương mại – đầu tư, việc huy động vốn cho 20 khu du lịch quốc gia và 1,5 triệu buồng lưu trú đòi hỏi dòng vốn rất lớn trong khi môi trường tín dụng, thị trường vốn còn nhiều rào cản. Những vấn đề này gợi ý rằng nghị quyết cần các kế hoạch hành động chi tiết hơn theo từng ngành, từng vùng và cần sự tham gia của nghiên cứu khoa học trong thiết kế, giám sát chính sách.

6. Kết luận

Nghị quyết 26-NQ/TW đánh dấu bước chuyển có tính bước ngoặt trong tư duy chính sách phát triển du lịch Việt Nam: từ cách tiếp cận ngành mũi nhọn đơn lẻ sang tiếp cận hệ sinh thái kinh tế tổng hợp, lấy văn hóa làm nền tảng, khoa học – công nghệ và dữ liệu làm phương thức vận hành, với trách nhiệm của cả hệ thống chính trị. Qua phân tích, tổng hợp và đối chiếu toàn văn hai nghị quyết, bài viết đã làm rõ ba chuyển dịch căn bản: về tư duy – du lịch từ chỗ là ngành mũi nhọn đơn lẻ trở thành hạt nhân của một hệ sinh thái kinh tế tổng hợp, lan tỏa sang công nghiệp văn hóa, kinh tế đêm, kinh tế số và nhiều lĩnh vực khác; về mô hình tăng trưởng – chuyển từ số lượng sang chất lượng, xanh, thông minh, hướng tới phân khúc khách chi tiêu cao, lưu trú dài ngày với các mục tiêu định lượng mới ở tầm khu vực; về phương thức quản trị – chuyển từ quản lý hành chính ngành sang quản trị hệ sinh thái dựa trên dữ liệu, với cơ chế phân công trách nhiệm rõ ràng cho toàn bộ hệ thống chính trị.

Tài liệu tham khảo:
Báo Thế giới và Việt Nam (2026). Nghị quyết số 26-NQ/TW tạo động lực mới để du lịch Việt Nam bứt phá. https://baoquocte.vn/nghi-quyet-so-26-nq-tw-tao-dong-luc-moi-de-du-lich-viet-nam-but-pha-437277.html
Bộ Chính trị (2017). Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.
Bộ Chính trị (2026). Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới.
Moore, J.F. (1993). Predators and prey: A new ecology of competition. Harvard Business Review, 71(3), 75–86.
Ritchie, J.R.B., & Crouch, G.I. (2003). The Competitive Destination: A Sustainable Tourism Perspective. Wallingford: CABI Publishing.
Trung tâm Thông tin du lịch (2026). Nghị quyết số 26-NQ/TW: Đột phá phát triển du lịch từ khoa học, công nghệ và chuyển đổi số. https://vietnamtourism.gov.vn/post/68432.