Solutions for training personnel in records management and archiving to meet the requirements of digital government
TS. Tạ Thị Liễu
Học viện Hành chính và Quản trị công
E-mail:lieutt@apag.edu.vn
(Quanlynhanuoc.vn) – Chuyển đổi số đang tái định hình yêu cầu năng lực đối với nguồn nhân lực văn thư, lưu trữ, trong đó năng lực số và quản trị dữ liệu ngày càng trở thành những thành tố thiết yếu bên cạnh năng lực nghiệp vụ. Bài viết khảo sát thực trạng năng lực số và khoảng cách kỹ năng công nghệ thông tin của đội ngũ trực tiếp thực hiện công tác văn thư, lưu trữ. Kết quả cho thấy, mặc dù đào tạo đã bước đầu chú trọng ứng dụng công nghệ và an toàn thông tin, năng lực quản trị dữ liệu, số hóa, xử lý dữ liệu và vận hành hệ thống quản lý tài liệu điện tử vẫn còn hạn chế. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất đổi mới đào tạo theo hướng chuẩn hóa chương trình dựa trên yêu cầu năng lực, tăng cường thực hành trong môi trường số, phát triển năng lực dữ liệu và tăng cường liên kết giữa cơ sở đào tạo với cơ quan, tổ chức sử dụng nhân lực, góp phần đáp ứng yêu cầu phát triển chính phủ số ở Việt Nam.
Từ khóa: Nguồn nhân lực văn thư, lưu trữ; đào tạo và bồi dưỡng; năng lực số; chuyển đổi số; Chính phủ số.
Abstract: Digital transformation is reshaping competency requirements for records and archives personnel, with digital competencies and data governance increasingly becoming essential components alongside professional competencies. This article examines the current state of digital competencies and information technology skills gaps among personnel directly engaged in records and archives work. The findings indicate that although training has initially focused on technology application and information security, competencies in data governance, digitization, data processing, and the operation of electronic document management systems remain limited. Based on these findings, the article proposes reforming training by standardizing curricula based on competency requirements, strengthening hands-on practice in digital environments, developing data competencies, and enhancing collaboration between training institutions and agencies and organizations that employ such personnel, thereby helping to meet the requirements for the development of digital government in Vietnam.
Keywords: Records and archives human resources; education and professional development; digital competencies; digital transformation; digital government.
1. Đặt vấn đề
Chuyển đổi số đang làm thay đổi căn bản phương thức quản lý, tổ chức nghiệp vụ văn thư, lưu trữ và đặt ra yêu cầu mới đối với năng lực của đội ngũ nhân lực. Bên cạnh kiến thức nghiệp vụ, người làm văn thư, lưu trữ cần được trang bị năng lực số, quản trị dữ liệu, vận hành hệ thống quản lý tài liệu điện tử và bảo đảm an toàn, toàn vẹn dữ liệu. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy năng lực số của đội ngũ còn chưa đồng đều, trong khi hoạt động đào tạo chưa thực sự đáp ứng đầy đủ yêu cầu của môi trường làm việc số. Khoảng cách giữa yêu cầu năng lực và năng lực thực tế đặt ra yêu cầu đổi mới nội dung, phương thức đào tạo theo hướng gắn với khung năng lực và vị trí việc làm. Trên cơ sở kết quả khảo sát 128 người làm công tác văn thư, lưu trữ, bài viết phân tích thực trạng năng lực số, nhận diện những kỹ năng còn thiếu và đề xuất một số định hướng đổi mới đào tạo nguồn nhân lực văn thư, lưu trữ đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số.
2. Thực trạng năng lực số và khoảng cách kỹ năng công nghệ thông tin của nhân lực văn thư, lưu trữ
Kết quả khảo sát về năng lực tự đánh giá của cán bộ làm công tác văn thư, lưu trữ trong sử dụng phần mềm, xử lý dữ liệu số và bảo đảm an toàn thông tin cho thấy sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm năng lực. Trong tổng số 128 người tham gia khảo sát, 52,3% cho biết có khả năng bảo đảm an toàn hệ thống lưu trữ, đây là tỷ lệ cao nhất trong các nhóm năng lực được đánh giá. Kết quả này cho thấy đội ngũ cán bộ lưu trữ đã có sự quan tâm và nhận thức nhất định về yêu cầu bảo vệ thông tin, dữ liệu trong môi trường số. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng kết quả tự đánh giá chủ yếu phản ánh mức độ nhận thức và khả năng thực hiện các yêu cầu bảo mật cơ bản, chưa đủ để khẳng định năng lực vận hành các giải pháp kỹ thuật chuyên sâu về an toàn thông tin.
Trong khi đó, các năng lực gắn trực tiếp với việc vận hành hạ tầng và hệ thống lưu trữ số lại có tỷ lệ tự đánh giá thấp hơn đáng kể. Chỉ có 29/128 người, tương đương 22,7%, cho biết thành thạo hệ thống quản lý tài liệu hệ thống quản lý văn bản và điều hành (DMS) và hệ thống quản lý tài liệu lưu trữ điện tử (EDMS). Đây là một tỷ lệ tương đối thấp trong điều kiện các cơ quan, tổ chức đang từng bước chuyển đổi quy trình quản lý tài liệu từ môi trường giấy sang môi trường điện tử. Khoảng cách này cho thấy năng lực khai thác và vận hành các nền tảng quản lý tài liệu lưu trữ số của đội ngũ chưa đáp ứng tương xứng với tốc độ ứng dụng công nghệ trong hoạt động văn thư, lưu trữ.
Đối với năng lực xử lý dữ liệu số, chỉ có 32 người, chiếm 25,0% số người được khảo sát, tự đánh giá có khả năng thực hiện tốt. Kết quả này cho thấy quản trị và xử lý dữ liệu vẫn là một trong những điểm hạn chế của nguồn nhân lực văn thư, lưu trữ. Trong môi trường số, xử lý dữ liệu không chỉ bao gồm các thao tác kỹ thuật đơn thuần mà còn đòi hỏi khả năng tổ chức, chuẩn hóa, kiểm soát chất lượng, bảo đảm tính toàn vẹn và khai thác dữ liệu phục vụ hoạt động quản lý. Vì vậy, tỷ lệ tự đánh giá thấp ở nhóm năng lực này phản ánh sự thiếu hụt nhất định về kiến thức và kỹ năng cần thiết cho quá trình chuyển đổi từ quản lý tài liệu truyền thống sang quản trị tài liệu và dữ liệu số.
Đáng chú ý, sự chênh lệch giữa năng lực bảo đảm an toàn hệ thống được tự đánh giá ở mức 52,3% và năng lực thành thạo DMS/EDMS ở mức 22,7% cho thấy một đặc điểm đáng quan tâm trong cấu trúc năng lực của đội ngũ. Cán bộ lưu trữ có xu hướng tự tin hơn đối với các yêu cầu chung về bảo mật, trong khi năng lực kỹ thuật chuyên sâu liên quan đến vận hành hệ thống và quản trị dữ liệu còn hạn chế. Sự mất cân đối này có thể ảnh hưởng đến khả năng triển khai đồng bộ các hoạt động văn thư, lưu trữ điện tử, bởi hiệu quả của môi trường văn thư, lưu trữ số không chỉ phụ thuộc vào nhận thức về an toàn thông tin mà còn gắn chặt với năng lực vận hành hệ thống, kiểm soát dữ liệu và tổ chức khai thác tài liệu điện tử.
Nhìn chung, kết quả khảo sát phản ánh khoảng cách giữa yêu cầu phát triển nguồn nhân lực văn thư, lưu trữ trong bối cảnh chuyển đổi số và năng lực thực tế của đội ngũ. Trong khi nhận thức về an toàn và bảo mật thông tin đã có những chuyển biến tích cực, các năng lực cốt lõi như vận hành hệ thống quản lý tài liệu điện tử và xử lý dữ liệu số vẫn chưa được phát triển tương xứng. Thực tiễn đặt ra yêu cầu cần đổi mới hoạt động đào tạo, bồi dưỡng theo hướng phát triển năng lực thực hành, tăng cường các nội dung chuyên sâu về quản lý tài liệu điện tử, DMS/EDMS, số hóa, chuẩn hóa và quản trị dữ liệu. Việc tổ chức đào tạo thường xuyên, gắn với hệ thống công nghệ và các tình huống nghiệp vụ thực tế sẽ góp phần thu hẹp khoảng cách giữa yêu cầu của môi trường làm việc số và năng lực nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ văn thư, lưu trữ, từ đó nâng cao hiệu quả quản lý và khai thác tài liệu, dữ liệu trong tiến trình chuyển đổi số (thể hiện ở Biểu đồ 1).
Biểu đồ 1. Đánh giá năng lực sử dụng phầm mềm, số hóa, bảo mật

Nguồn: Tổng hợp từ kết quả khảo sát của tác giả, 2025
Kết quả khảo sát cho thấy, có 128 người làm công tác văn thư, lưu trữ trả lời các kỹ năng công nghệ thông tin còn thiếu trong công việc chủ yếu tập trung vào nhóm kỹ năng liên quan đến quản trị, xử lý và chuyển đổi dữ liệu số. Cụ thể, kỹ năng quản trị dữ liệu tài liệu số được lựa chọn với tỷ lệ cao nhất, đạt 70,3%. Tỷ lệ này cho thấy, đây là khoảng trống năng lực nổi bật nhất trong nhóm đối tượng khảo sát. Về bản chất, quản trị dữ liệu tài liệu số không chỉ bao gồm việc lưu trữ dữ liệu trên hệ thống mà còn liên quan đến việc xác lập cấu trúc dữ liệu, quản lý siêu dữ liệu, chuẩn hóa dữ liệu, kiểm soát chất lượng, phân quyền truy cập, duy trì tính toàn vẹn, xác thực và bảo đảm khả năng truy xuất, sử dụng dữ liệu trong các giai đoạn khác nhau của vòng đời tài liệu. Yêu cầu này tương thích với xu hướng quản lý tài liệu lưu trữ số hiện nay, trong đó dữ liệu mô tả về phông, hồ sơ và tài liệu được cấu trúc thành các thành phần dữ liệu có quan hệ với nhau, phục vụ quản lý, tìm kiếm, khai thác và kết nối với các hệ thống thông tin khác (Bộ Nội vụ, 2025).
Tỷ lệ 70,3% cũng gợi ra một vấn đề có ý nghĩa về mặt đào tạo: năng lực số của người làm văn thư, lưu trữ đang có sự chuyển dịch từ “sử dụng công nghệ” sang “quản trị dữ liệu bằng công nghệ”. Nếu đào tạo chỉ tập trung vào hướng dẫn sử dụng phần mềm hoặc thao tác số hóa thì khó đáp ứng đầy đủ yêu cầu này. Người học cần được trang bị khả năng hiểu cấu trúc dữ liệu, nguyên tắc tổ chức và liên kết dữ liệu, quản lý siêu dữ liệu, kiểm soát chất lượng dữ liệu và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình dữ liệu được tạo lập, cập nhật, lưu trữ và khai thác.
Đứng thứ hai là kỹ năng chuyển đổi số dữ liệu, với 67,2% người trả lời cho rằng còn thiếu. Kết quả này cho thấy, quá trình chuyển đổi từ tài liệu và dữ liệu truyền thống sang môi trường số vẫn đặt ra nhiều thách thức đối với đội ngũ thực hiện nghiệp vụ. Chuyển đổi số dữ liệu trong lĩnh vực văn thư, lưu trữ không chỉ là quét tài liệu giấy thành hình ảnh điện tử mà bao gồm một chuỗi công việc từ lựa chọn tài liệu, chuẩn bị tài liệu, số hóa, tạo lập dữ liệu và siêu dữ liệu, kiểm tra chất lượng, chuẩn hóa, tích hợp, bảo quản và đưa dữ liệu vào hệ thống quản lý. Thông tư số 05/2025/TT-BNV ngày 14/5/2025 của Bộ Nội vụ đã quy định tương đối cụ thể về cấu trúc dữ liệu lưu trữ số và yêu cầu kỹ thuật đối với số hóa tài liệu, qua đó cho thấy, hoạt động số hóa ngày càng gắn chặt với yêu cầu quản trị dữ liệu thay vì chỉ tạo ra bản sao điện tử của tài liệu giấy.
Tỷ lệ 67,2% có thể được xem là chỉ báo về khoảng cách giữa yêu cầu kỹ thuật của quá trình số hóa và năng lực thực hành của đội ngũ. Đặc biệt, khi số hóa được triển khai ở quy mô lớn, những hạn chế về chuẩn hóa dữ liệu, đặt tên, lập chỉ mục, tạo siêu dữ liệu, kiểm tra chất lượng hình ảnh, xác định mối liên hệ giữa hồ sơ và tài liệu hoặc tích hợp dữ liệu vào cơ sở dữ liệu có thể làm giảm giá trị sử dụng lâu dài của dữ liệu số. Vấn đề này có ý nghĩa đặc biệt đối với lưu trữ, bởi dữ liệu được tạo ra trong quá trình số hóa không chỉ phục vụ nhu cầu khai thác trước mắt mà còn phải duy trì khả năng xác thực, truy xuất và sử dụng trong dài hạn. Trong khi đó, 41,4% người được hỏi cho rằng còn thiếu kỹ năng sử dụng phần mềm lưu trữ. Mặc dù tỷ lệ này thấp hơn đáng kể so với hai nhóm kỹ năng về quản trị và chuyển đổi dữ liệu, nhưng vẫn cho thấy mức độ thành thạo các hệ thống phần mềm nghiệp vụ chưa đồng đều. Kết quả này cần được nhìn nhận trong mối quan hệ với sự thay đổi của môi trường tác nghiệp. Phần mềm lưu trữ hiện nay không chỉ thực hiện chức năng đăng ký, tra cứu hoặc thống kê tài liệu mà ngày càng trở thành một thành phần của hệ sinh thái quản lý dữ liệu, đòi hỏi người sử dụng có khả năng khai thác các chức năng liên quan đến dữ liệu, siêu dữ liệu, phân quyền, liên thông, kết nối và chia sẻ thông tin. Do đó, hạn chế về kỹ năng sử dụng phần mềm có thể trở thành rào cản đối với việc chuyển hóa năng lực nghiệp vụ truyền thống thành năng lực tác nghiệp trong môi trường số.
Đáng chú ý, chỉ 5,5% số người trả lời cho rằng không thiếu kỹ năng công nghệ thông tin nào, trong khi 7% cho rằng còn thiếu kỹ năng quản lý tài liệu số nói chung. Sự chênh lệch này cho thấy, nhận thức về khoảng trống năng lực có xu hướng tập trung mạnh hơn vào các kỹ năng có tính kỹ thuật và chuyên sâu, đặc biệt là quản trị dữ liệu và chuyển đổi dữ liệu. Xét tổng thể, các tỷ lệ 70,3%, 67,2% và 41,4% tạo thành một mẫu hình tương đối rõ về khoảng cách năng lực số: khoảng trống lớn nhất nằm ở quản trị dữ liệu và chuyển đổi dữ liệu; tiếp đến là năng lực vận hành công cụ, phần mềm. Điều này cho thấy, vấn đề hiện nay không phải đơn giản là thiếu kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin mà sâu hơn là sự chưa tương thích giữa năng lực hiện có của nguồn nhân lực với sự chuyển dịch của công tác văn thư, lưu trữ từ quản lý tài liệu sang quản trị tài liệu gắn với dữ liệu. Đây là điểm cần được đặc biệt lưu ý trong thiết kế chính sách phát triển nguồn nhân lực.
Kết quả khảo sát cho thấy, cần tránh cách tiếp cận đồng nhất “năng lực số” với “khả năng sử dụng phần mềm”. Trong bối cảnh Luật Lưu trữ năm 2024, Luật Dữ liệu năm 2024 và các quy định về nghiệp vụ lưu trữ tài liệu số được triển khai, người làm văn thư, lưu trữ phải tham gia vào nhiều công đoạn của chuỗi dữ liệu, từ tạo lập, chuẩn hóa, quản lý, bảo quản đến khai thác và chia sẻ. Yêu cầu kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan cũng làm gia tăng yêu cầu về tính chuẩn hóa và khả năng tương tác của dữ liệu. Do đó, năng lực số cần được cấu trúc theo hướng tích hợp giữa nghiệp vụ lưu trữ – dữ liệu – công nghệ – an toàn thông tin, thay vì chỉ bổ sung một số kỹ năng tin học vào chương trình đào tạo nghiệp vụ. Cụ thể:
Biểu đồ 2. Tự đánh giá kỹ năng công nghệ thông tin còn thiếu trong công việc của người làm văn thư, lưu trữ

Nguồn: Tổng hợp từ kết quả khảo sát của tác giả năm 2025
3. Một số đề xuất giải pháp
3.1. Chuẩn hóa chương trình đào tạo theo khung năng lực và vị trí việc làm
Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và xây dựng Chính phủ số, chương trình đào tạo nguồn nhân lực văn thư, lưu trữ cần được đổi mới theo hướng chuẩn hóa, liên ngành và tích hợp giữa kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ truyền thống với năng lực công nghệ số và quản trị dữ liệu. Yêu cầu này xuất phát từ sự thay đổi của môi trường pháp lý và thực tiễn quản lý tài liệu, dữ liệu trong môi trường số, đặc biệt là các quy định về lưu trữ tài liệu điện tử, quản lý dữ liệu, an toàn thông tin, kết nối và chia sẻ dữ liệu.
Luật Lưu trữ năm 2024 tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc đổi mới hoạt động lưu trữ và phát triển năng lực của đội ngũ làm công tác văn thư, lưu trữ trong môi trường số. Trên cơ sở đó, Thông tư số 05/2025/TT-BNV quy định nghiệp vụ lưu trữ tài liệu lưu trữ số, đặt ra những yêu cầu mới đối với năng lực tổ chức, quản lý và xử lý tài liệu lưu trữ số của đội ngũ chuyên môn. Đặc biệt, chương trình đào tạo (cần cập nhật kiến thức và kỹ năng liên quan đến chuẩn hóa dữ liệu và khả năng trao đổi dữ liệu giữa các hệ thống thông tin. Thông tư số 08/2025/TT-BCA ngày 05/02/2025 của Bộ Công an ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về cấu trúc thông điệp dữ liệu trao đổi với Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia, trong đó quy định các yêu cầu kỹ thuật đối với cấu trúc thông điệp dữ liệu phục vụ hoạt động kết nối và trao đổi dữ liệu. Vì vậy, chương trình đào tạo cần từng bước trang bị cho người học kiến thức cơ bản về cấu trúc dữ liệu, chuẩn hóa dữ liệu, khả năng tương tác giữa các hệ thống và các yêu cầu kỹ thuật trong quá trình kết nối, trao đổi dữ liệu.
Bên cạnh đó, nội dung đào tạo cần gắn với yêu cầu về kết nối và chia sẻ dữ liệu trong hệ thống chính trị. Nghị định số 278/2025/NĐ-CP ngày 22/10/2025 của Chính phủ quy định về kết nối, chia sẻ dữ liệu bắt buộc giữa các cơ quan thuộc hệ thống chính trị, nhấn mạnh yêu cầu chuẩn hóa, kết nối, đồng bộ và khai thác dữ liệu dùng chung. Trên cơ sở đó, chương trình đào tạo nguồn nhân lực văn thư, lưu trữ cần hướng tới phát triển năng lực quản trị dữ liệu, phối hợp và chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan, tổ chức; đồng thời, nâng cao hiểu biết về các nguyên tắc liên thông, đồng bộ và bảo đảm chất lượng dữ liệu.
Như vậy, xây dựng chương trình đào tạo chuẩn hóa cho nguồn nhân lực văn thư, lưu trữ không nên chỉ giới hạn trong việc cập nhật kiến thức về nghiệp vụ truyền thống mà cần được thiết kế theo hướng tích hợp ba nhóm năng lực cơ bản: năng lực nghiệp vụ văn thư, lưu trữ; năng lực công nghệ số; và năng lực quản trị, khai thác và phát huy giá trị dữ liệu. Đây là cơ sở quan trọng để hình thành đội ngũ nhân lực có khả năng thích ứng với yêu cầu quản lý tài liệu và dữ liệu trong môi trường số, đáp ứng yêu cầu xây dựng Chính phủ số và quản trị quốc gia dựa trên dữ liệu.
Ngoài ra, cần chú trọng đào tạo kỹ năng mềm và tư duy số cho người học như: tư duy dữ liệu; tư duy hệ thống; kỹ năng phân tích và xử lý thông tin; kỹ năng quản trị rủi ro dữ liệu; kỹ năng phối hợp liên ngành; đạo đức nghề nghiệp trong môi trường số.
Việc chuẩn hóa chương trình đào tạo phải gắn với chuẩn đầu ra nghề nghiệp và vị trí việc làm trong cơ quan nhà nước, bảo đảm người học sau khi tốt nghiệp có thể đáp ứng ngay yêu cầu thực tiễn của công tác văn thư, lưu trữ số trong mô hình Chính phủ số. Chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo, bao gồm: (1) Năng lực tạo lập, xác định giá trị, thu nộp, phân loại, bảo quản và khai thác hồ sơ, tài liệu lưu trữ số; (2) Năng lực quản trị dữ liệu, metadata, chuẩn dữ liệu và liên thông hệ thống; (3) Năng lực ứng dụng công nghệ số (AI, dữ liệu lớn, điện toán đám mây) trong lưu trữ; (4) Năng lực bảo đảm tính xác thực, toàn vẹn, an toàn, bảo mật thông tin, khả năng sử dụng, phát huy giá trị tài liệu lưu trữ điện tử và tuân thủ pháp luật về lưu trữ, dữ liệu; (5) Năng lực nghiên cứu, phân tích và đề xuất giải pháp quản trị dữ liệu.
Vị trí việc làm sau đào tạo:
Nhóm 1. Văn thư viên, lưu trữ viên, chuyên viên Văn thư – Hành chính, chuyên viên Văn thư – Lưu trữ;
Nhóm 2. Chuyên viên quản lý hồ sơ điện tử, quản trị dữ liệu văn thư, lưu trữ số (quản trị hệ thống quản lý văn bản và điều hành, hệ thống lưu trữ tài liệu điện tử);
Nhóm 3. Chuyên viên phụ trách chuyển đổi số và dữ liệu trong tổ chức;
Nhóm 4. Nghiên cứu viên, giảng viên trong lĩnh vực văn thư, lưu trữ số;
Nhóm 5. Quản lý doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ lưu trữ.
Cấu trúc và nội dung chương trình đào tạo: chương trình đào tạo được thiết kế theo hướng liên ngành, tích hợp và ứng dụng, gồm các nhóm học phần chủ yếu sau:
(1) Khối kiến thức cơ sở ngành: nhập môn khoa học văn thư, lưu trữ; quản trị học và quản lý nhà nước; pháp luật về văn thư, lưu trữ và dữ liệu; phương pháp nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực văn thư, lưu trữ.
(2) Khối kiến thức chuyên ngành văn thư, lưu trữ: quản lý văn bản điện tử và thiết bị lưu khóa bí mật; lập hồ sơ và quản lý hồ sơ, tài liệu lưu trữ điện tử; thu thập, xử lý thông tin và phân tích dữ liệu số; tổ chức khoa học tài liệu lưu trữ điện tử; tổ chức bảo quản, tu bổ phục chế tài liệu lưu trữ; bảo mật thông tin trong công tác văn thư, lưu trữ; quản trị rủi ro trong công tác văn thư, lưu trữ; phân loại, xác định giá trị tài liệu lưu trữ điện tử; chuẩn hóa công tác văn thư lưu trữ; chuyển đổi số trong công tác văn thư lưu trữ; tổ chức và quản lý công tác văn thư, lưu trữ; xây dựng và tổ chức thực hiện đề án, dự án, kế hoạch về công tác văn thư, lưu trữ; dịch vụ lưu trữ số; tổ chức khai thác, phát huy giá trị tài liệu lưu trữ; công bố tài liệu lưu trữ; đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp trong lĩnh vực văn thư lưu trữ.
(3) Khối kiến thức quản trị dữ liệu và công nghệ số: quản trị dữ liệu và cơ sở dữ liệu; Metadata và chuẩn dữ liệu trong lưu trữ số; hệ thống quản lý hồ sơ tài liệu lưu trữ điện tử (ERMS); lưu trữ số; ứng dụng AI và tự động hóa trong lưu trữ; An toàn, an ninh thông tin và bảo vệ dữ liệu văn thư, lưu trữ số.
(4) Khối kiến thức ứng dụng và thực hành: thực hành vận hành hệ thống quản lý văn bản và điều hành; thực hành số hóa và tạo lập tài liệu lưu trữ số; thực hành vận hành hệ thống lưu trữ số; thực tập tại cơ quan lưu trữ (lưu trữ hiện hành, lưu trữ lịch sử), doanh nghiệp công nghệ.
3.2. Tăng cường đào tạo thực hành và hình thành môi trường đào tạo số
Một trong những hạn chế lớn của đào tạo văn thư, lưu trữ hiện nay là còn nặng về lý thuyết, thiếu môi trường thực hành số và chưa phản ánh đầy đủ quy trình xử lý dữ liệu trong thực tiễn cơ quan điện tử. Vì vậy, việc tăng cường đào tạo thực hành trên môi trường số là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao năng lực nghề nghiệp cho nguồn nhân lực văn thư, lưu trữ.
Các cơ sở đào tạo cần tổ chức các khóa thực hành chuyên sâu về: quản lý và giải quyết văn bản trên phần mềm đề mô; Tổ chức lập, quản lý hồ sơ điện tử và nộp lưu hồ sơ tài liệu điện tử; số hóa tài liệu; ký số và xác thực điện tử; quản lý cơ sở dữ liệu; tra cứu và khai thác và phát huy giá trị tài liệu lưu trữ số; bảo quản tài liệu điện tử; kết nối và chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống thông tin. Khai thác và vận hành thành thạo Hệ thống quản lý văn bản và điều hành, Hệ thống quản lý tài liệu lưu trữ điện tử.
Hoạt động thực hành cần mô phỏng sát với quy trình vận hành thực tế của cơ quan nhà nước trong môi trường Chính phủ số. Người học phải được trực tiếp thao tác trên các phần mềm quản lý văn bản và điều hành, hệ thống quản lý hồ sơ điện tử, hệ thống lưu trữ số và nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu. Đặc biệt, cần đưa các tình huống nghiệp vụ thực tế vào giảng dạy như: xử lý các tình huống trong quy trình nghiệp vụ soạn thảo, ký ban hành văn bản; quản lý văn bản và giải quyết văn bản; xử lý sự cố mất dữ liệu; phát hiện dữ liệu giả mạo; kiểm soát truy cập trái phép; xử lý lộ lọt thông tin; khôi phục dữ liệu sau sự cố an ninh mạng; quản lý tài liệu mật trên môi trường số. Thông qua các tình huống này, người học không chỉ rèn luyện kỹ năng nghiệp vụ mà còn hình thành năng lực phản ứng nhanh, tư duy xử lý khủng hoảng thông tin và khả năng phối hợp liên ngành trong bảo vệ dữ liệu.
Ngoài ra, cần tăng cường liên kết giữa cơ sở đào tạo với các đơn vị sử dụng lao động, doanh nghiệp công nghệ để tổ chức thực tập, kiến tập và tham gia các dự án chuyển đổi số thực tế. Việc tiếp cận môi trường công vụ số sẽ giúp người học hiểu rõ yêu cầu thực tiễn của vị trí việc làm và nâng cao khả năng thích ứng nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp.
Thực tiễn đào tạo hiện nay cho thấy, còn tồn tại khoảng cách giữa đào tạo lý thuyết và yêu cầu thực tiễn chuyển đổi số trong ngành lưu trữ; thiếu môi trường thử nghiệm công nghệ, nghiên cứu ứng dụng và kết nối hiệu quả giữa cơ sở đào tạo, cơ quan lưu trữ nhà nước và doanh nghiệp công nghệ. Trong bối cảnh đó, việc thành lập Trung tâm đổi mới, sáng tạo văn thư, lưu trữ số là giải pháp cần thiết, góp phần hình thành hệ sinh thái đào tạo, nghiên cứu, thực hành tích hợp, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực văn thư, lưu trữ chất lượng cao. Trung tâm đổi mới sáng tạo văn thư, lưu trữ số được thành lập nhằm các mục tiêu chủ yếu sau: (1) Tạo không gian nghiên cứu, thử nghiệm và ứng dụng các công nghệ số mới trong lĩnh vực văn thư, lưu trữ; (2) Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực văn thư, lưu trữ theo hướng hiện đại, liên ngành và thực hành; (3) Thúc đẩy gắn kết giữa cơ sở đào tạo, cơ quan lưu trữ nhà nước và doanh nghiệp trong phát triển nguồn nhân lực; (4) Hình thành mạng lưới nhân lực văn thư, lưu trữ số chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số ngành văn thư, lưu trữ và quản trị dữ liệu quốc gia. Trung tâm đổi mới sáng tạo văn thư, lưu trữ số được tổ chức theo mô hình liên kết “ba nhà”, trong đó: (1) Các cơ sở giáo dục, đào tạo giữ vai trò chủ trì, chịu trách nhiệm xây dựng định hướng khoa học, chương trình đào tạo, nghiên cứu và quản lý hoạt động của Trung tâm; (2) Cơ quan lưu trữ (Trung tâm Lưu trữ Quốc gia, Trung tâm Lưu trữ lịch sử, Lưu trữ hiện hành tại Bộ, ngành, cấp tỉnh) tham gia với vai trò đối tác chiến lược, cung cấp yêu cầu nghiệp vụ, bối cảnh thực tiễn, dữ liệu và tiếp nhận kết quả nghiên cứu, thử nghiệm; (3) Doanh nghiệp công nghệ và dịch vụ lưu trữ tham gia cung cấp giải pháp công nghệ, nền tảng số, hỗ trợ thử nghiệm, chuyển giao tri thức và kết nối thị trường lao động. Mô hình này bảo đảm Trung tâm không hoạt động theo hướng kinh doanh dịch vụ lưu trữ, mà tập trung vào nghiên cứu, đào tạo, thử nghiệm và chuyển giao tri thức, phù hợp với quy định của Luật Lưu trữ năm 2024.
Chức năng và nhiệm vụ chủ yếu của Trung tâm:
Thứ nhất, nghiên cứu và thử nghiệm công nghệ lưu trữ số, tập trung vào các lĩnh vực như: số hóa và tạo lập tài liệu lưu trữ số; ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong mô tả, phân loại và truy xuất tài liệu; quản trị metadata, liên thông dữ liệu; bảo đảm an toàn, bảo mật và lưu trữ dài hạn.
Thứ hai, đào tạo và bồi dưỡng chuyên sâu nguồn nhân lực văn thư, lưu trữ số, bao gồm đào tạo theo khung năng lực văn thư, lưu trữ số, bồi dưỡng cán bộ văn thư, lưu trữ đang công tác trong khu vực công, khu vực tư, đào tạo lại và nâng cao kỹ năng số cho đội ngũ giảng viên, nghiên cứu viên và người làm văn thư, lưu trữ.
Thứ ba, chuyển giao tri thức và mô hình ứng dụng, thông qua xây dựng các mô hình mẫu, quy trình chuẩn, tài liệu hướng dẫn và tư vấn chính sách phục vụ cơ quan lưu trữ nhà nước và các tổ chức có liên quan.
Thứ tư, kết nối cung, cầu nhân lực văn thư, lưu trữ chất lượng cao, hình thành cơ sở dữ liệu nhân lực văn thư, lưu trữ số, hỗ trợ thực tập, thực hành, tuyển dụng và phát triển nghề nghiệp cho người học và người làm lưu trữ. Để Trung tâm đổi mới sáng tạo văn thư, lưu trữ số hoạt động hiệu quả, cần bảo đảm các điều kiện sau: (1) Hoàn thiện cơ sở pháp lý và cơ chế quản lý, trong đó xác định rõ vị trí pháp lý của Trung tâm trong cơ sở đào tạo, cơ chế phối hợp với các đối tác và nguồn lực tài chính; (2) Đầu tư hạ tầng công nghệ và không gian thử nghiệm, bao gồm hệ thống lưu trữ số, nền tảng dữ liệu, phòng thí nghiệm số và môi trường mô phỏng nghiệp vụ văn thư, lưu trữ; (3) Phát triển đội ngũ nhân sự nòng cốt, gồm giảng viên, nhà nghiên cứu, chuyên gia lưu trữ và công nghệ thông tin; (4) Bảo đảm nguồn lực tài chính đa dạng, kết hợp ngân sách nhà nước, nguồn lực từ cơ sở đào tạo, tài trợ nghiên cứu và hợp tác công, tư.
Việc thành lập Trung tâm đổi mới sáng tạo văn thư, lưu trữ số sẽ góp phần đổi mới căn bản phương thức đào tạo nguồn nhân lực văn thư, lưu trữ, rút ngắn khoảng cách giữa đào tạo và thực tiễn, nâng cao năng lực thích ứng công nghệ và đổi mới sáng tạo của người làm lưu trữ. Qua đó, Trung tâm trở thành hạt nhân thúc đẩy hình thành đội ngũ nhân lực văn thư, lưu trữ chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa ngành lưu trữ và chuyển đổi số quốc gia.
3.3. Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng theo yêu cầu của Luật Chuyển đổi số
Việc triển khai Luật Chuyển đổi số cần được xem là một trong những căn cứ quan trọng để đổi mới hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực văn thư, lưu trữ. Luật Chuyển đổi số năm 2025 xác định đào tạo, bồi dưỡng và phát triển năng lực số là một trong những biện pháp bảo đảm chuyển đổi số; đồng thời quy định năng lực số là nội dung quan trọng trong hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực. Đặc biệt, Điều 17 Luật quy định cơ quan trong hệ thống chính trị có trách nhiệm tổ chức đào tạo, bồi dưỡng năng lực số theo Khung năng lực số, bảo đảm cán bộ, công chức, viên chức có đủ năng lực số cần thiết để triển khai chuyển đổi số.
Từ yêu cầu này, cần chuyển từ phương thức đào tạo theo nhu cầu trước mắt sang đào tạo dựa trên khung năng lực và vị trí việc làm. Đối với nguồn nhân lực văn thư, lưu trữ, cần xây dựng bộ tiêu chuẩn năng lực số phù hợp với đặc thù nghề nghiệp, trong đó xác định rõ các nhóm năng lực cốt lõi như: năng lực quản lý tài liệu và hồ sơ điện tử; năng lực số hóa và quản trị dữ liệu; năng lực sử dụng hệ thống quản lý văn bản và lưu trữ số; năng lực kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu; năng lực bảo đảm an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu; năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo và các công nghệ số mới trong hoạt động nghiệp vụ.
Trên cơ sở khung năng lực, các cơ quan, đơn vị cần tổ chức đánh giá khoảng cách năng lực số của đội ngũ văn thư, lưu trữ, xác định mức độ đáp ứng của từng cá nhân đối với yêu cầu của vị trí việc làm và nhiệm vụ chuyển đổi số. Kết quả đánh giá là căn cứ để xây dựng kế hoạch đào tạo cá nhân và kế hoạch đào tạo của cơ quan theo từng nhóm đối tượng. Cá nhân thực hiện nghiệp vụ quản lý văn bản, lập hồ sơ cần được ưu tiên đào tạo về quy trình quản lý văn bản, hồ sơ điện tử và quy trình số; cá nhân phụ trách lưu trữ cần được tăng cường năng lực quản trị dữ liệu, lưu trữ số và bảo quản tài liệu điện tử lâu dài; người quản lý cần được phát triển năng lực quản trị dữ liệu, quản trị thay đổi và hoạch định chiến lược chuyển đổi số.
Bên cạnh đào tạo kiến thức, cần đổi mới phương thức bồi dưỡng theo hướng học tập liên tục, linh hoạt và gắn với thực tiễn công việc. Các cơ quan có thể kết hợp đào tạo tập trung, đào tạo trực tuyến, đào tạo tại chỗ, thực hành trên hệ thống quản lý văn bản và hồ sơ điện tử, mô phỏng tình huống nghiệp vụ và đào tạo thông qua các dự án chuyển đổi số thực tế. Việc đào tạo cần chuyển mạnh từ truyền thụ kiến thức sang phát triển năng lực thực hành, trong đó người học phải có khả năng vận dụng công nghệ và dữ liệu để giải quyết các vấn đề cụ thể của công tác văn thư, lưu trữ.
Đồng thời, cần thiết lập cơ chế đánh giá và cập nhật năng lực số thường xuyên. Do công nghệ, hệ thống thông tin và yêu cầu quản trị dữ liệu liên tục thay đổi, chứng nhận hoàn thành một khóa học không nên được xem là căn cứ duy nhất để xác định năng lực của người lao động. Thay vào đó, cần đánh giá định kỳ thông qua kết quả thực hiện nhiệm vụ, khả năng sử dụng hệ thống số, chất lượng dữ liệu, mức độ tuân thủ quy trình và khả năng xử lý các tình huống phát sinh trong môi trường số. Cách tiếp cận này phù hợp với định hướng của Luật Chuyển đổi số năm 2025 về việc sử dụng Khung năng lực số làm cơ sở cho đào tạo, bồi dưỡng và đánh giá nguồn nhân lực số.
Ngoài ra, cần gắn kết hoạt động đào tạo với cơ chế sử dụng, đánh giá và phát triển nghề nghiệp của đội ngũ văn thư, lưu trữ. Kết quả đào tạo và mức độ đáp ứng năng lực số cần trở thành một trong những căn cứ để bố trí, sử dụng nhân lực, giao nhiệm vụ, đánh giá kết quả công việc và xây dựng kế hoạch phát triển đội ngũ. Đồng thời, cần có chính sách khuyến khích cán bộ chủ động cập nhật kiến thức, tham gia các chương trình đào tạo chuyên sâu và hình thành cộng đồng thực hành về văn thư, lưu trữ số trong các cơ quan, tổ chức.
Như vậy, thực hiện Luật Chuyển đổi số trong đào tạo nguồn nhân lực văn thư, lưu trữ không chỉ dừng ở việc bổ sung một số học phần hoặc tổ chức thêm các khóa đào tạo về công nghệ. Vấn đề quan trọng là tái cấu trúc toàn bộ hệ thống phát triển năng lực, từ xác định chuẩn năng lực, đánh giá khoảng cách năng lực, thiết kế chương trình, tổ chức đào tạo đến đánh giá kết quả và sử dụng nhân lực. Đây là hướng tiếp cận có khả năng tạo ra sự chuyển biến thực chất từ nguồn nhân lực văn thư, lưu trữ truyền thống sang nguồn nhân lực có năng lực số, đáp ứng yêu cầu quản trị tài liệu, dữ liệu và hoạt động của Chính phủ số.
3.4. Phát triển văn hóa dữ liệu và tư duy Chính phủ số
Chuyển đổi số không chỉ là sự thay đổi về công nghệ mà còn là sự thay đổi về tư duy quản trị và văn hóa tổ chức. Vì vậy, đào tạo nguồn nhân lực văn thư, lưu trữ cần hướng tới hình thành văn hóa dữ liệu và tư duy Chính phủ số trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.
Do đó, văn hóa dữ liệu được hiểu là việc sử dụng dữ liệu một cách chính xác, minh bạch, có trách nhiệm và tuân thủ pháp luật. Trong môi trường số, dữ liệu trở thành tài sản chiến lược của quốc gia và cơ quan nhà nước. Vì vậy, người làm văn thư, lưu trữ phải có nhận thức đầy đủ về giá trị của dữ liệu và trách nhiệm bảo vệ dữ liệu trong toàn bộ vòng đời quản lý tài liệu.
Cần tăng cường giáo dục ý thức: bảo mật thông tin; bảo vệ bí mật nhà nước; bảo vệ dữ liệu cá nhân; trách nhiệm cung cấp thông tin; đạo đức sử dụng dữ liệu; tuân thủ quy trình xử lý dữ liệu số. Các nội dung này phải được gắn với quy định của Luật Bảo vệ bí mật nhà nước, Luật An ninh mạng, Luật Tiếp cận thông tin, Luật Chuyển đổi số, Luật Lưu trữ và các quy định chuyên ngành về quản lý dữ liệu số.
Bên cạnh đó, cần hình thành tư duy Chính phủ số cho người học, tức là tư duy quản trị dựa trên dữ liệu, liên thông dữ liệu và phục vụ người dân trên môi trường số. Người làm công tác văn thư, lưu trữ phải nhận thức rằng tài liệu lưu trữ không chỉ có giá trị bảo quản mà còn là nguồn dữ liệu phục vụ điều hành, ra quyết định và cung cấp dịch vụ công số.
3.5. Tăng cường liên kết giữa cơ sở đào tạo, cơ quan, tổ chức sử dụng nguồn nhân lực và doanh nghiệp công nghệ
Đào tạo nguồn nhân lực văn thư, lưu trữ số là nhiệm vụ có tính liên ngành cao, liên quan chặt chẽ đến lĩnh vực công nghệ thông tin, an ninh mạng, quản trị dữ liệu và quản lý nhà nước. Vì vậy, cần đẩy mạnh cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức và cơ sở đào tạo nhằm đồng bộ hóa năng lực và chuẩn hóa chất lượng đào tạo.
Các cơ sở đào tạo cần tăng cường hợp tác thực chất với các cơ quan quản lý, cơ quan lưu trữ, cơ quan nghiên cứu và các tổ chức cung cấp giải pháp công nghệ để gắn đào tạo với yêu cầu thực tiễn của chuyển đổi số. Trọng tâm hợp tác, trước hết là Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước thuộc Bộ Nội vụ; Cục Lưu trữ thuộc Văn phòng Trung ương Đảng; các Trung tâm Lưu trữ quốc gia và các Trung tâm Lưu trữ lịch sử cấp tỉnh; các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; UBND cấp tỉnh, cấp xã và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND các cấp; cùng các cơ quan, đơn vị thực hiện chức năng quản lý, vận hành và khai thác dữ liệu trong hệ thống chính trị. Cơ cấu tổ chức hiện hành xác định Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước là đơn vị trực thuộc Bộ Nội vụ, trong khi Cục Lưu trữ là đơn vị thuộc Văn phòng Trung ương Đảng, do đó việc xác định đúng chủ thể phối hợp có ý nghĩa quan trọng trong thiết kế chương trình và tổ chức đào tạo.
Bên cạnh đó, cần mở rộng quan hệ hợp tác với các cơ quan chuyên trách về chuyển đổi số, khoa học, công nghệ và an toàn thông tin; các cơ sở nghiên cứu và đào tạo công nghệ; các trung tâm dữ liệu; các doanh nghiệp công nghệ số và doanh nghiệp cung cấp giải pháp quản lý văn bản, hồ sơ, dữ liệu và lưu trữ số. Sự tham gia của các chủ thể này giúp cơ sở đào tạo cập nhật thường xuyên công nghệ, tiêu chuẩn kỹ thuật và phương thức quản trị dữ liệu mới, đồng thời tạo điều kiện để người học được tiếp cận môi trường công nghệ thực tế.
Quan hệ hợp tác cần được triển khai theo hướng “cùng xây dựng – cùng đào tạo – cùng thực hành – cùng đánh giá”, trong đó cơ quan sử dụng nhân lực tham gia xác định chuẩn đầu ra, yêu cầu năng lực theo vị trí việc làm và xây dựng tình huống nghiệp vụ; cơ sở đào tạo chịu trách nhiệm phát triển chương trình, tổ chức giảng dạy và đánh giá năng lực; các cơ quan, doanh nghiệp công nghệ hỗ trợ nền tảng, công cụ, dữ liệu mô phỏng và môi trường thực hành. Đặc biệt, có thể xây dựng các phòng thực hành văn thư, lưu trữ số, phòng thí nghiệm dữ liệu và trung tâm đổi mới sáng tạo về văn thư, lưu trữ số, tạo môi trường để người học thực hành quản lý hồ sơ điện tử, số hóa tài liệu, quản trị metadata, quản trị dữ liệu, kết nối và chia sẻ dữ liệu, bảo đảm an toàn thông tin và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong nghiệp vụ.
Cách tiếp cận này không chỉ góp phần thu hẹp khoảng cách giữa đào tạo và thực tiễn sử dụng nhân lực mà còn hình thành hệ sinh thái đào tạo NNL văn thư, lưu trữ số, trong đó cơ sở đào tạo, cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan lưu trữ, cơ quan thuộc hệ thống chính trị và doanh nghiệp công nghệ cùng tham gia phát triển năng lực nghề nghiệp. Đây là cơ sở quan trọng để đào tạo đội ngũ nhân lực có khả năng thích ứng nhanh với sự thay đổi của công nghệ, pháp luật và yêu cầu quản trị dữ liệu trong quá trình xây dựng Chính phủ số.
Ngoài hợp tác trong nước, cần nghiên cứu và tham khảo kinh nghiệm quốc tế về đào tạo nguồn nhân lực văn thư, lưu trữ số và quản trị dữ liệu công. Nhiều quốc gia đã chuyển mạnh từ mô hình lưu trữ truyền thống sang lưu trữ số tích hợp với Chính phủ điện tử và Chính phủ số. Việc tiếp thu kinh nghiệm quốc tế sẽ giúp Việt Nam xây dựng chuẩn năng lực hiện đại, phù hợp với xu thế quản trị dữ liệu toàn cầu.
Đồng thời, cần thúc đẩy hợp tác quốc tế trong trao đổi học thuật; chuyển giao công nghệ lưu trữ số; đào tạo chuyên gia dữ liệu; xây dựng tiêu chuẩn metadata; bảo quản khai thác và phát huy giá trị tài liệu điện tử; an toàn dữ liệu và an ninh mạng. Thông qua hợp tác liên ngành và quốc tế, công tác đào tạo nguồn nhân lực văn thư, lưu trữ số sẽ có điều kiện phát triển đồng bộ, hiện đại và đáp ứng yêu cầu xây dựng Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số ở Việt Nam.
4. Kết luận
Trong bối cảnh chuyển đổi số và xây dựng Chính phủ số, phát triển nguồn nhân lực văn thư, lưu trữ là yêu cầu có tính chiến lược, quyết định khả năng quản trị tài liệu, dữ liệu và bảo đảm giá trị pháp lý, an toàn, tin cậy của thông tin trong khu vực công. Kết quả nghiên cứu cho thấy khoảng cách giữa yêu cầu năng lực mới và thực trạng đào tạo vẫn còn đáng kể, đặc biệt ở các năng lực về công nghệ số, quản trị và khai thác dữ liệu. Do đó, đào tạo cần được chuyển từ tiếp cận nghiệp vụ truyền thống sang phát triển năng lực toàn diện, dựa trên vị trí việc làm và yêu cầu của môi trường số; đồng thời, kết hợp chặt chẽ giữa chuẩn hóa chương trình, đào tạo thực hành, cập nhật công nghệ, quản trị dữ liệu và bảo đảm an toàn thông tin. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp này sẽ góp phần hình thành đội ngũ nhân lực văn thư, lưu trữ có năng lực số, thích ứng với yêu cầu quản trị hiện đại, qua đó nâng cao hiệu quả vận hành Chính phủ số và chất lượng quản trị quốc gia dựa trên dữ liệu.
Tài liệu tham khảo:
Bộ Công an (2025). Thông tư số 08/2025/TT-BCA ngày 05/02/2025 ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về cấu trúc thông điệp dữ liệu trao đổi với Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia.
Bộ Nội vụ (2025). Thông tư số 05/2025/TT-BNV ngày 14/5/2025 quy định nghiệp vụ lưu trữ tài liệu lưu trữ số.
Chính phủ (2025a). Nghị định số 113/2025/NĐ-CP ngày 03/6/2025 quy định chi tiết một số điều của Luật Lưu trữ.
Chính phủ (2025b). Nghị định số 278/2025/NĐ-CP ngày 22/10/2025 quy định về kết nối, chia sẻ dữ liệu bắt buộc giữa các cơ quan thuộc hệ thống chính trị.
Chính phủ (2026c). Nghị định số 63/2026/NĐ-CP ngày 28/02/2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Bảo vệ bí mật nhà nước.
Quốc hội (2024a). Luật Lưu trữ năm 2024.
Quốc hội (2024b). Luật Dữ liệu năm 2024.
Quốc hội (2025a). Luật An ninh mạng năm 2025.
Quốc hội (2025b). Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2025.
Quốc hội (2025c). Luật Chuyển đổi số năm 2025.
Quốc hội (2026). Luật Tiếp cận thông tin năm 2026.
Tạ Thị Liễu (2025). Phát triển nguồn nhân lực lưu trữ chất lượng cao trong chuyển đổi số [Đề tài khoa học cấp cơ sở]. Học viện Hành chính và Quản trị công.



