Ứng dụng công nghệ thông tin trong phát triển kinh tế hộ gia đình của người dân tộc Tày, dân tộc Dao ở tỉnh Thái Nguyên và tỉnh Lạng Sơn

The application of information technology in household economic development of the Tay and Dao ethnic groups in Thai Nguyen and Lang Son provinces

TS. Trần Thị Thanh Loan
Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới
Email: thanhloanxhh@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích những thuận lợi và khó khăn trong việc sử dụng các ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ phát triển kinh tế hộ gia đình của người dân tộc Tày và Dao. Bằng việc sử dụng dữ liệu định lượng từ nhiệm vụ “Sử dụng các ứng dụng công nghệ thông tin của người dân các dân tộc thiểu số ở tỉnh Bắc Kạn (cũ) và tỉnh Lạng Sơn trong phát triển kinh tế gia đình”, được khảo sát năm 2025, bài viết cho thấy, người dân tộc Tày và Dao có khả năng tiếp cận công nghệ, nhưng năng lực khai thác công nghệ phục vụ phát triển kinh tế hộ gia đình vẫn còn hạn chế. Vì vậy, cần chuyển từ hỗ trợ tiếp cận công nghệ sang nâng cao năng lực số, kỹ năng kinh doanh trực tuyến; kỹ năng bảo đảm an toàn thông tin; đồng thời, phát huy vai trò của gia đình, cộng đồng và các chủ thể liên quan trong quá trình ứng dụng công nghệ số.

Từ khóa: Ứng dụng công nghệ thông tin; kinh tế hộ gia đình; dân tộc Tày; dân tộc Dao.

Abstract: This article analyzes the advantages and challenges in the use of information technology applications to support household economic development among the Tày and Dao ethnic groups. Drawing on quantitative data from the research task “The use of information technology applications by ethnic minority people in the former Bắc Kạn province and Lạng Sơn province for household economic development,” surveyed in 2025, the article demonstrates that Tày and Dao people possess the capacity to access technology; however, their ability to effectively exploit technology for household economic development remains limited. Therefore, it is necessary to shift from supporting technology access toward enhancing digital capacity, online business skills, and information security skills, while simultaneously promoting the roles of the family, the community, and relevant stakeholders in the process of applying digital technology.

Keywords: Information technology applications; household economy; Tày ethnic group; Dao ethnic group.

1. Đặt vấn đề

Sự lan tỏa nhanh chóng và ứng dụng sâu rộng của công nghệ số đã dần biến kỹ năng số trở thành một năng lực then chốt giúp cá nhân thích nghi với xã hội hiện đại và tham gia vào các hoạt động kinh tế. Đối với các hộ gia đình dân tộc thiểu số, kỹ năng số không chỉ giúp họ tiếp cận hiệu quả hơn các công nghệ nông nghiệp, thông tin thị trường và nhiều nguồn lực khác mà còn đóng vai trò tích cực trong việc tối ưu hóa các quyết định sản xuất, giảm chi phí giao dịch và đa dạng hóa nguồn thu nhập, từ đó, tăng cường khả năng ứng phó với các cú sốc bên ngoài. Việc sử dụng điện thoại thông minh và các ứng dụng mạng xã hội đã và đang tạo ra những thay đổi căn bản trong chiến lược sinh kế của hộ gia đình dân tộc thiểu số (Đỗ Anh Đức & cộng sự, 2025; Tang Y & Tang L, 2025).

Tại Việt Nam, với hơn 70% hộ gia đình có kết nối internet và sự phổ cập của điện thoại thông minh, công nghệ thông tin không chỉ dừng lại là công cụ giao tiếp đơn thuần mà đã trở thành nền tảng thiết yếu để hình thành công dân số (Đỗ Anh Đức & cộng sự, 2025; Trần Cao Uy & cộng sự, 2023). Đặc biệt đối với khu vực nông thôn và vùng dân tộc thiểu số, việc sử dụng các ứng dụng, như: các nền tảng mạng xã hội, ngân hàng số và thương mại điện từ được kỳ vọng sẽ tạo ra những thay đổi trong việc thu hẹp khoảng cách về thông tin, giảm chi phí giao dịch và mở rộng môi trường sinh kế cho người dân tộc thiểu số (WB, 2016; Trần Cao Uy & cộng sự, 2023; Changming Cheng & cộng sự, 2024; Lê Đào Ngọc Thanh & cộng sự, 2025). Tuy nhiên, các nghiên cứu chỉ ra rằng, trong khi khoảng cách về tiếp cận thiết bị đang dần thu hẹp nhưng khoảng cách về kỹ năng số và sự khác biệt về hiệu quả thụ hưởng các lợi ích mà chuyển đổi số mang lại đang trở lên rõ rệt. Đặc biệt, đối với người dân tộc thiểu số, việc sử dụng các ứng dụng công nghệ thông tin trong phát triển kinh tế gia đình là một quá trình đan xen giữa thuận lợi và những khó khăn (Tang Y & Tang, 2025; Đỗ Anh Đức & cộng sự, 2025).

Dựa trên dữ liệu khảo sát của nhiệm vụ cấp Bộ “Sử dụng các ứng dụng công nghệ thông tin của người dân các dân tộc thiểu số tại tỉnh Bắc Kạn (nay là tỉnh Thái Nguyên) và tỉnh Lạng Sơn trong phát triển kinh tế gia đình”, thực hiện tháng 12/2025. Bài viết tập trung phân tích thực trạng việc ứng dụng công nghệ thông tin trong phát triển kinh tế gia đình và những thuận lợi, khó khăn mà hộ gia đình người Tày, Dao trong việc ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ phát triển kinh tế gia đình.

2. Biến số và phương pháp phân tích

2.1. Biến số

Biến phụ thuộc là:(1)“Thuận lợi trong ứng dụng công nghệ thông tin phát triển kinh tế gia đình”. Người trả lời đánh giá về những thuận lợi đã và đang gặp phải khi sử dụng các ứng dụng công nghệ thông tin trong phát triển kinh tế hộ gia đình. Bảng hỏi gồm 10 nội dung thuận lợi được liệt kê sẵn, mỗi câu hỏi về thuận lợi được mã hóa thành 2 mức (1. Có; 2. Không). (2) “Khó khăn trong ứng dụng công nghệ thông tin phát triển kinh tế gia đình”. Người trả lời đánh giá về những khó khăn đã và đang gặp phải khi sử dụng các ứng dụng công nghệ thông tin trong phát triển kinh tế hộ gia đình. Bảng hỏi gồm 13 câu, mỗi câu hỏi được mã hóa thành 2 mức (1. Có; 2. Không).  

Biến số độc lập bao gồm: các biến mang đặc trưng nhân khẩu xã hội của người trả lời, điều kiện kinh tế hộ.

1. Các biến số mang đặc trưng nhân khẩu xã hội của người trả lời là: Địa bàn cư trú với 2 giá trị: (1) Lạng Sơn và (2) Bắc Kạn (nay là Thái Nguyên); dân tộc với 2 giá trị: (1) dân tộc Dao và (0) dân tộc Tày; giới tính với 2 giá trị: (1) nam và (0) nữ; học vấn người trả lời với 3 giá trị: (0) THCS trở xuống và (1) THPT trở lên; tuổi người trả lời với 2 giá trị: (1) Dưới 40 tuổi và (2) Từ 40 tuổi trở lên.

2. Các biến số liên quan đến điều kiện kinh tế của hộ: mức sống của hộ với 3 giá trị: (1) nghèo, (2) trung bình và (3) khá giả trở lên; hoạt động kinh tế của hộ với 3 giá trị: (1) Nông nghiệp, (2) Du lịch/dịch vụ và (3) Nông nghiệp hỗn hợp.

2.2. Phương pháp phân tích

Bài viết sử dụng phương pháp thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ) để phân tích những thuận lợi, khó khăn của việc sử dụng ứng dụng công nghệ thông tin trong phát triển kinh tế hộ gia đình qua đánh giá của người Tày và người Dao. Đồng thời, nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tương quan hai biến nhằm xem xét sự khác biệt trong đánh giá về thuận lợi, khó khăn và hiệu quả theo các đặc điểm nhân khẩu xã hội của người trả lời (địa bàn khảo sát, dân tộc, nhóm tuổi, giới tính, trình độ học vấn, hoạt động kinh tế và mức sống gia đình, kỹ năng số).

3. Những thuận lợi trong sử dụng các ứng dụng công nghệ thông tin trong phát triển kinh tế hộ gia đình

Dữ liệu Bảng 1 cho thấy, thuận lợi nổi bật nhất đó là sự phổ cập của các thiết bị số có kết nối Internet trong hộ gia đình người Tày và người Dao. Có tới 99,8% người được khảo sát cho biết, gia đình có sẵn điện thoại thông minh, máy tính hoặc thiết bị kết nối Internet; tiếp đến là thuận lợi từ sự ổn định mạng Internet ở khu vực sinh sống góp phần bảo đảm việc truy cập các ứng dụng, giao dịch trực tuyến và trao đổi thông tin diễn ra thuận lợi được đại đa số người dân tộc Tày và Dao tán thành (86,8%). Kết quả cho thấy, những thuận lợi từ sự phổ cập và chất lượng hạ tầng số là điều kiện quan trọng, tiên quyết thúc đẩy quá trình chuyển đổi số để người Tày và người Dao ứng dụng trong phát triển kinh tế hộ gia đình.

Bảng 1. Tỷ lệ thuận lợi khi sử dụng ứng dụng công nghệ thông tin trong phát triển kinh tế hộ gia đình

STTNhững thuận lợiTỷ lệ (%)N
1Gia đình có sẵn điện thoại thông minh, máy tính hoặc thiết bị có kết nối Internet99,8400
2Các thành viên trong gia đình ủng hộ việc sử dụng các ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động kinh tế của gia đình98,0400
3Ứng dụng dễ sử dụng, có hướng dẫn bằng tiếng Việt rõ ràng94,8400
4Nhận được sự hỗ trợ của người thân khi cần dùng các ứng dụng87,3400
5Dễ dàng tiếp cận và tải các ứng dụng cần thiết (Zalo, Facebook, Shopee, sàn nông sản, ứng dụng du lịch…)87,3400
6Khu vực sinh sống có mạng internet ổn định, giúp việc giao dịch và tìm kiếm thông tin thuận lợi86,8400
7Việc cài đặt và sử dụng các ứng dụng đơn giản, dễ thao tác84,5 
8Trong cộng đồng có nhiều hộ gia đình sử dụng các ứng dụng công nghệ thông tin để hỗ trợ phát triển kinh tế gia đình nên dễ dàng trao đổi và học hỏi kinh nghiệm sử dụng80,5400
9Cán bộ địa phương khuyến khích sử dụng các ứng dụng công nghệ thông tin trong phát triển kinh tế gia đình69,0400
10Được tham gia các khóa tập huấn hướng dẫn sử dụng các ứng dụng công nghệ thông tin trong phát triển kinh tế gia đình24,0400
Nguồn: Dữ liệu của nhiệm vụ cấp Bộ “Sử dụng các ứng dụng công nghệ thông tin của người dân các dân tộc thiểu số tại tỉnh Bắc Kạn (nay là tỉnh Thái Nguyên) và tỉnh Lạng Sơn trong phát triển kinh tế gia đình”, 2025.

Bên cạnh đó, sự hỗ trợ từ các thành viên gia đình và cộng đồng cũng là một thuận lợi quan trọng. Đại đa số (98,0%) người Tày và Dao được khảo sát cho biết, họ được các thành viên trong gia đình ủng hộ sử dụng công nghệ thông tin vào hoạt động kinh tế; 87,3% nhận được sự hỗ trợ của người thân khi cần sử dụng các ứng dụng. Điều này phản ánh môi trường gia đình có vai trò tích cực trong việc khuyến khích và hỗ trợ người dân ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động sản xuất, nhất là với những người lớn tuổi hoặc có kỹ năng số còn hạn chế. Ngoài ra, đa số người Tày và người Dao cho biết, họ có thuận lợi vì trong cộng đồng có nhiều hộ gia đình cùng sử dụng ứng dụng công nghệ thông tin (80,5%), qua đó, tạo điều kiện cho việc trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau. Đây là một đặc điểm đáng chú ý ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số cho thấy, tính gắn kết xã hội và các mối quan hệ cộng đồng cũng có vai trò thúc đẩy sự lan tỏa của phương thức sản xuất mới dựa trên công nghệ thông tin.

Đối với các thuận lợi liên quan đến tính năng của các ứng dụng công nghệ thông tin, đại đa số người Tày và người Dao đều có đánh giá tích cực. Có 94,8% người Tày và người Dao cho rằng, các ứng dụng dễ sử dụng và có hướng dẫn bằng tiếng Việt rõ ràng; 87,3% cho biết, họ dễ dàng tiếp cận và tải các ứng dụng cần thiết: như: Zalo, Facebook, Shopee, các sàn nông sản hoặc ứng dụng du lịch; 84,5% đánh giá việc cài đặt và sử dụng các ứng dụng tương đối đơn giản, dễ thao tác là một thuận lợi.

Đối với sự khuyến khích của cán bộ địa phương. Kết quả phân tích cho thấy, chỉ có 69% người được khảo sát cho biết, họ nhận được sự khuyến khích ứng dụng công nghệ thông tin để phát triển kinh tế hộ gia đình của cán bộ địa phương. Phân tích theo địa bàn khảo sát cho thấy, có khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai địa bàn nghiên cứu (p = 0,003), tỷ lệ người Tày và người Dao nhận được sự khuyến khích của cán bộ địa phương tại Thái Nguyên đạt 75,9%, cao hơn 14 điểm phần trăm so với người dân ở Lạng Sơn (62,2%). Kết quả này phản ánh mức độ triển khai hoạt động tuyên truyền về ứng dụng công nghệ thông tin trong phát triển kinh tế hộ gia đình khác nhau giữa hai địa bàn khảo sát.

Xét theo dân tộc, người Dao có tỷ lệ nhận được sự khuyến khích từ cán bộ địa phương cao hơn người Tày (73,3% so với 68%). Tuy nhiên, mức chênh lệch không lớn cho thấy, việc tiếp cận các hoạt động hỗ trợ của chính quyền tương đối đồng đều giữa hai nhóm dân tộc.

Xét theo nhóm tuổi, người Tày và người Dao ở nhóm dưới 40 tuổi có tỷ lệ nhận được sự khuyến khích ứng dụng công nghệ thông tin từ cán bộ địa phương cao hơn nhóm từ 40 tuổi trở lên (73% so với 65,2%). Điều này cho thấy, các hoạt động tuyên truyền và khuyến khích có xu hướng tiếp cận hiệu quả hơn với nhóm dân số trẻ.

Phân tích theo giới tính cho thấy, nam giới dân tộc thiểu số có tỷ lệ nhận được sự khuyến khích ứng dụng công nghệ thông tin cao hơn nữ giới (74% so với 67,3%). Sự khác biệt này có thể phản ánh thực tế nam giới thường tham gia vào các hoạt động sản xuất – kinh doanh hoặc các cuộc họp, sinh hoạt cộng đồng nhiều hơn so với nữ, qua đó, họ cũng có nhiều cơ hội tiếp cận thông tin và các chương trình tuyên truyền về chuyển đổi số.

Theo trình độ học vấn, nhóm có trình độ từ trung học phổ thông trở lên có tỷ lệ nhận được sự khuyến khích từ cán bộ địa phương cao hơn nhóm có trình độ trung học cơ sở trở xuống (72,3% so với 64,2%).

Đáng chú ý, khi xét theo hoạt động kinh tế có ghi nhận sự khác biệt rất rõ và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,001). Người Tày và người Dao ở các hộ có hoạt động kinh tế hỗn hợp có tỷ lệ nhận được sự khuyến khích từ cán bộ địa phương cao nhất (76,2%), tiếp đến là nhóm hộ chỉ sản xuất nông nghiệp (60,8%), trong khi nhóm hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ và du lịch có tỷ lệ thấp nhất (55,8%). Kết quả này cho thấy, sự hỗ trợ của chính quyền địa phương hiện có thể tập trung nhiều hơn vào các hộ có mô hình sinh kế nông nghiệp và kết hợp và nhóm hộ chỉ sản xuất nông nghiệp; trong khi các hộ gia đình có hoạt động dịch vụ và du lịch – vốn là hoạt động kinh tế có nhiều tiềm năng ứng dụng công nghệ số để quảng bá và mở rộng thị trường ít được quan tâm một cách tương xứng.

Về tham gia các khóa tập huấn. Kết quả khảo sát tại Bảng 2 cho thấy, chỉ có khoảng 1/4 số người Tày và người Dao (24%) cho biết, có sự thuận lợi đến từ việc tham gia các khóa tập huấn hướng dẫn sử dụng ứng dụng công nghệ thông tin trong phát triển kinh tế hộ gia đình. Đây là tỷ lệ thấp nhất trong số các thuận lợi, phản ánh một thực tế là hoạt động đào tạo công nghệ thông tin, bồi dưỡng kỹ năng số cho người Tày và người Dao vẫn còn hạn chế ở cả hai địa bàn khảo sát. Mặc dù bên cạnh những thuận lợi về sự sẵn có cơ sở hạ tầng số, về tiếp cận thiết bị số và Internet rất phổ biến thì cơ hội được trang bị kiến thức và kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin bài bản vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của người dân.

Việc tham gia các khóa tập huấn hướng dẫn sử dụng có sự chênh lệch khá lớn giữa hai địa bàn khảo sát. Tại Thái Nguyên, có 32,7% người dân cho biết đã được tham gia các khóa tập huấn, cao hơn hai lần so với Lạng Sơn (15,4%). Kết quả này cho thấy, việc tổ chức các chương trình tập huấn, hướng dẫn kỹ năng số cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Thái Nguyên được triển khai rộng hơn so với Lạng Sơn.

Xét theo dân tộc, người Dao có tỷ lệ được tham gia tập huấn cao hơn người Tày (28% so với 23,1%). Tuy nhiên, mức chênh lệch không lớn, cho thấy, cơ hội tiếp cận các khóa đào tạo giữa hai nhóm dân tộc nhìn chung tương đối tương đồng và đều ở mức thấp.

Phân tích theo giới tính cho thấy, nam giới người dân tộc Tày và Dao có tỷ lệ tham gia các khóa tập huấn cao hơn nữ giới (30% so với 22%). Kết quả này phản ánh rằng, phụ nữ dân tộc thiểu số có ít cơ hội tiếp cận các chương trình đào tạo về công nghệ thông tin, về kỹ năng số hơn nam giới, có thể do hạn chế về thời gian, gánh nặng công việc gia đình hoặc mức độ tham gia các hoạt động cộng đồng.

Bảng 2. Tỷ lệ được cán bộ địa phương khuyến khích/tham gia các khóa tập huấn sử dụng ứng dụng công nghệ thông tin cho phát triển kinh tế hộ gia đình

 Được cán bộ địa phương khuyến khích sử dụng ứng dụng công nghệ thông tinĐược tham gia các khóa tập huấn ứng dụng công nghệ thông tin
 Tỷ lệ (%)N = 400Tỷ lệ (%)N = 400
Chung69,040024,0400
Địa bàn khảo sát *** *** 
Lạng Sơn62,220115,4201
Bắc Kạn75,919932,7199
Dân tộc    
Tày68,032523,1325
Dao73,37528,075
Nhóm tuổi    
Dưới 40 tuổi73,019623,5196
Trên 4065,220424,5204
Giới tính    
Nữ67,330022,0300
Nam74,010030,0100
Học vấn    
THCS trở xuống64,216524,2165
THPT trở lên72,323523,8235
Hoạt động kinh tế*** *** 
Chỉ nông nghiệp60,87425,774
Du lịch/dịch vu55,88623,386
Nông nghiệp hỗn hợp76,224023,8240
Nguồn: Dữ liệu của nhiệm vụ cấp Bộ “Sử dụng các ứng dụng công nghệ thông tin của người dân các dân tộc thiểu số tại tỉnh Bắc Kạn (nay là tỉnh Thái Nguyên) và tỉnh Lạng Sơn trong phát triển kinh tế gia đình”, 2025

Mức ý nghĩa thống kê: *p=< 0,1; **p=< 0,05; ***p=<0,001

Có thể thấy, có sự khác biệt về sự tham gia các khóa tập huấn hướng dẫn sử dụng theo nhóm tuổi, trình độ học vấn và hoạt động kinh tế của người Tày và người Dao cho thấy, kế hoạch tổ chức các chương trình tập huấn được xây dựng, thiết kế và triển khai thực hiện chưa có tính đến các đặc thù theo nhóm tuổi và từng loại hình sinh kế cùng vùng dân tộc thiểu số.

4. Một số khó khăn

Kết quả tại Bảng 3 thể hiện khó khăn được ghi nhận trong việc ứng dụng công nghệ thông tin để phát triển kinh tế, theo tỷ lệ người dân tộc Tày và dân tộc Dao, cho thấy hạn chế về kỹ năng kinh doanh trực tuyến là cao nhất (52,4%). Khó khăn tiếp theo đó là hạn chế về kỹ năng sử dụng điện thoại thông minh hoặc máy tính (50,3%). Có gần 1/2 người Tày và người Dao cho biết, họ khó khăn trong việc bảo đảm an toàn và bảo mật dữ liệu (48,8%). Tương tự, 48% người trả lời cho rằng, khó khăn là do một số ứng dụng còn phức tạp và khó sử dụng. Kết quả này cho thấy, cần tiếp tục cải tiến thiết kế giao diện cho người dùng theo hướng đơn giản, trực quan và thân thiện hơn, đặc biệt đối với đồng bào dân tộc thiểu số, vốn còn hạn chế về kỹ năng và năng lực sử dụng công nghệ số.

Bảng 3. Tỷ lệ khó khăn khi sử dụng ứng dụng công nghệ thông tin trong phát triển kinh tế hộ gia đình

STTCác khó khănTỷ lệ (%)N
1Hạn chế kỹ năng kinh doanh trực tuyến52,4399
2Kỹ năng sử dụng điện thoại thông minh hoặc máy tính hạn chế50,3400
3Khó khăn trong việc đảm bảo an toàn, bảo mật dữ liệu48,8400
4Một số ứng dụng phức tạp, khó sử dụng48,0400
5Khó khăn trong việc xây dựng mạng lưới khách hàng39,0400
6Khó khăn trong xây dựng kế hoạch kinh doanh trên môi trường thương mại điện tử36,6399
7Mạng Internet không ổn định36,3400
8Khó khăn trong quản lý, vận chuyển và đổi trả hàng hóa25,1399
9Chi phí sử dụng Internet cao23,9394
10Chi phí tham gia các nền tảng thương mại điện tử cao5,3400
11Chi phí xây dựng và vận hành ứng dụng thương mại điện tử cao3,8400
12Không được các thành viên trong gia đình ủng hộ3,8400
Nguồn: Dữ liệu của nhiệm vụ cấp Bộ “Sử dụng các ứng dụng công nghệ thông tin của người dân các dân tộc thiểu số tại tỉnh Bắc Kạn (nay là tỉnh Thái Nguyên) và tỉnh Lạng Sơn trong phát triển kinh tế gia đình”, 2025.

Ở nhóm khó khăn liên quan đến hoạt động kinh doanh, có 39% người dân gặp khó khăn trong xây dựng mạng lưới khách hàng, trong khi 36,6% gặp khó khăn trong xây dựng kế hoạch kinh doanh trên môi trường thương mại điện tử. Đối với các yếu tố về hạ tầng số và dịch vụ logistics/hậu cần, 36,3% người dân cho biết, mạng Internet không ổn định, 25,1% gặp khó khăn trong quản lý, vận chuyển và đổi trả hàng hóa.

Các khó khăn liên quan đến chi phí được người trả lời lựa chọn với tỷ lệ tương đối thấp. Cụ thể, 23,9% cho rằng, chi phí sử dụng Internet là một trở ngại, trong khi chỉ có 5,3% gặp khó khăn do chi phí tham gia các nền tảng thương mại điện tử và 3,8% cho rằng, chi phí xây dựng, vận hành ứng dụng thương mại điện tử là rào cản.

Đáng chú ý, chỉ có một tỷ lệ rất nhỏ người Tày và người Dao không nhận được sự ủng hộ của các thành viên trong gia đình (3,8%). Điều này làphù hợp với kết quả phân tích về các những thuận lợi khi đại đa số người được khảo sát cho biết, gia đình ủng hộ việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động kinh tế.

Dữ liệu Bảng 4 trình bày tỷ lệ người Tày và người Dao có gặp khó khăn về kỹ năng sử dụng điện thoại thông minh/máy tính và về kỹ năng kinh doanh trực tuyến theo một số đặc điểm cá nhân. Kết quả phân tích cho thấy, có những khác biệt đáng chú ý theo địa bàn khảo sát, nhóm tuổi, học vấn và hoạt động kinh tế.

Xét theo địa bàn khảo sát, người Tày và người Dao tại Thái Nguyên có tỷ lệ khó khăn về kỹ năng sử dụng điện thoại thông minh/máy tính và khó khăn kỹ năng kinh doanh trực tuyến đều cao hơn so với Lạng Sơn (lần lượt là 57,1% và 58,3% so với  47,8% và 42,3%). Sự khác biệt về kỹ năng kinh doanh trực tuyến giữa hai địa bàn có ý nghĩa thống kê (p = 0,001).

So sánh theo dân tộc, người Dao có tỷ lệ gặp khó khăn cao hơn người Tày ở cả hai nhóm kỹ năng. Cụ thể, 64% người Dao hạn chế trong sử dụng điện thoại thông minh/máy tính so với 49,7% ở người Tày; đối với kỹ năng kinh doanh trực tuyến, tỷ lệ này lần lượt là 56% và 48,9%. Kết quả nào phản ánh xu hướng người Dao gặp nhiều trở ngại hơn trong tiếp cận và sử dụng công nghệ số vào phát triển kinh tế gia đình.

Đối với nhóm tuổi, nhóm dưới 40 tuổi có tỷ lệ hạn chế kỹ năng sử dụng điện thoại thông minh/máy tính cao hơn nhóm trên 40 tuổi (56,1% so với 48,8%; p = 0,025). Tuy nhiên, ở kỹ năng kinh doanh trực tuyến, xu hướng lại ngược lại khi nhóm trên 40 tuổi gặp khó khăn nhiều hơn (59,3% so với 40,8%; p < 0,001). Kết quả này cho thấy, mặc dù người trẻ có thể còn hạn chế trong việc sử dụng thiết bị ở một số khía cạnh nhưng lại có khả năng thích ứng với hoạt động kinh doanh trực tuyến tốt hơn so với nhóm lớn tuổi.

Theo giới tính, tỷ lệ gặp khó khăn về hai kỹ năng này giữa nam và nữ gần như tương đương với tỷ lệ trên dưới 52%, cho thấy giới tính không tạo nên sự khác biệt đáng kể ở cả kỹ năng sử dụng điện thoại và kỹ năng kinh doanh trực tuyến trong mẫu nghiên cứu.

Về trình độ học vấn, khó khăn về kỹ năng sử dụng điện thoại thông minh/máy tính không chênh lệch nhiều giữa hai nhóm học vấn (53,3% so với 51,7%). Tuy nhiên, ở khó khăn về kỹ năng kinh doanh trực tuyến cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p = 0,001). Kết quả cho thấy người có trình độ học vấn THCS trở xuống gặp nhiều khó khăn về kỹ năng kinh doanh trực tuyến hơn so với nhóm có trình độ THPT trở lên (60,6% so với 43%).

Bảng 4. Tỷ lệ khó khăn về kỹ năng sử dụng điện thoại thông minh/máy tính, về kỹ năng kinh doanh trực tuyến trong phát triển kinh tế hộ gia đình

 Kỹ năng sử dụng điện thoại thông minh hoặc máy tính hạn chếHạn chế kỹ năng kinh doanh trực tuyến
 Tỷ lệN =399Tỷ lệN =400
Chung52,4 50,2 
Địa bàn khảo sát  *** 
Lạng Sơn47,820142,3201
Bắc Kạn57,119858,3199
Dân tộc    
Tày49,732448,9325
Dao64,07556,075
Nhóm tuổi ** *** 
Dưới 40 tuổi56,119640,8196
Trên 4048,820359,3204
Giới tính    
Nữ52,330050,3300
Nam52,59950,0100
Học vấn  *** 
THCS trở xuống53,316560,6165
THPT trở lên51,723443,0235
Hoạt động kinh tế  *** 
Chỉ nông nghiệp43,27445,974
Du lịch/dịch vụ53,58636,086
Nông nghiệp hỗn hợp54,823956,7240
Nguồn: Dữ liệu của nhiệm vụ cấp Bộ “Sử dụng các ứng dụng công nghệ thông tin của người dân các dân tộc thiểu số tại tỉnh Bắc Kạn (nay là tỉnh Thái Nguyên) và tỉnh Lạng Sơn trong phát triển kinh tế gia đình”, 2025.

Mức ý nghĩa thống kê: *p=< 0,1; **p=< 0,05; ***p=<0,001

Xét theo hoạt động kinh tế, khó khăn về kỹ năng sử dụng điện thoại thông minh/máy tính, có tỷ lệ dao động từ 43,2% đến 54,8% giữa các nhóm hoạt động kinh tế và không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Tuy nhiên, ở khó khăn do hạn chế kỹ năng kinh doanh trực tuyến lại có khác biệt có ý nghĩa thống kê (p = 0,003) giữa ba nhóm: nhóm hộ làm nông nghiệp hỗn hợp có tỷ lệ khó khăn do hạn chế về kỹ năng kinh doanh trực tuyến cao nhất (56,7%), tiếp theo là nhóm chỉ làm nông nghiệp (45,9%) và thấp nhất là nhóm du lịch/dịch vụ (36,0%).

Nhìn chung, khoảng một nửa số người Tày và người Dao gặp khó khăn về kỹ năng sử dụng thiết bị số và kỹ năng kinh doanh trực tuyến. Hai khó khăn này tập trung nhiều hơn ở nhóm người dân tại tỉnh Thái Nguyên, ở người Dao, nhóm có học vấn thấp và các hộ làm nông nghiệp hỗn hợp. Đặc biệt, khó khăn về kỹ năng kinh doanh trực tuyến có khác biệt rất rõ theo độ tuổi, học vấn và loại hình hoạt động kinh tế cho thấy cần ưu tiên các chương trình đào tạo kỹ năng số và kỹ năng kinh doanh trực tuyến theo nhóm tuổi và hoạt động kinh tế.

5. Một số giải pháp

Một là, chuyển trọng tâm chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số từ mở rộng tiếp cận công nghệ sang nâng cao năng lực số phục vụ phát triển kinh tế hộ gia đình. Các chương trình hỗ trợ cần ưu tiên nội dung đào tạo kỹ năng số cơ bản đến nâng cao, kỹ năng bán hàng trên các nền tảng (Zalo, Facebook, Shopee, sàn nông sản…), kỹ năng xây dựng kế hoạch kinh doanh điện tử và kỹ năng bảo đảm an toàn dữ liệu, thay vì chỉ tập trung trang bị thiết bị hay mở rộng hạ tầng.

Hai là, tăng cường vai trò đồng hành của cán bộ địa phương trong tuyên truyền, khuyến khích và hỗ trợ người dân ứng dụng công nghệ thông tin. Cần xây dựng cơ chế giao nhiệm vụ cụ thể cho cán bộ cấp xã, thôn, bản; đưa nội dung hướng dẫn sử dụng ứng dụng công nghệ thông tin vào các cuộc họp cộng đồng, sinh hoạt đoàn thể; đồng thời, ưu tiên hỗ trợ các nhóm yếu thế (nữ dân tộc Dao, người lớn tuổi, hộ nông nghiệp thuần túy) để bảo đảm sự lan tỏa đồng đều.

Ba là, thiết kế và tổ chức các chương trình tập huấn theo hướng có phân hóa, phù hợp với đặc thù nhóm tuổi, loại hình sinh kế, trình độ học vấn và địa bàn. Nội dung và hình thức tập huấn cần được thiết kế riêng: ngắn hạn, thực hành nhiều, sử dụng ngôn ngữ dễ hiểu, kết hợp hướng dẫn bằng tiếng Việt rõ ràng; ưu tiên các hộ nông nghiệp hỗn hợp và nhóm học vấn thấp; tổ chức theo nhóm nhỏ tại cộng đồng để tăng tính tiếp cận và hiệu quả.

Bốn là, thiết lập cơ chế liên kết ba bên giữa chính quyền địa phương – doanh nghiệp thương mại điện tử – chuyên gia công nghệ thông tin. Chính quyền đóng vai trò kết nối và tổ chức; doanh nghiệp cung cấp nền tảng, hỗ trợ phí tham gia ban đầu và hướng dẫn vận hành thực tế trên sàn; chuyên gia đảm nhận nội dung đào tạo kỹ năng số và an toàn thông tin. Mô hình này giúp các khóa tập huấn ngắn hạn mang tính ứng dụng cao, gắn trực tiếp với nhu cầu bán nông sản, dịch vụ du lịch và mở rộng thị trường của hộ gia đình người Tày, người Dao.

Năm là, tiếp tục cải thiện chất lượng hạ tầng Internet tại các địa bàn còn hạn chế. Cần phối hợp chặt chẽ với các doanh nghiệp viễn thông để nâng cấp đường truyền, mở rộng vùng phủ sóng chất lượng cao tại các thôn, bản vùng sâu, vùng xa, bảo đảm điều kiện giao dịch và tìm kiếm thông tin liên tục, ổn định.

Sáu là, phát huy mạnh mẽ vai trò của gia đình, cộng đồng và tổ công nghệ số cộng đồng. Cần duy trì và mở rộng các hoạt động chia sẻ kinh nghiệm theo mô hình “hộ đi trước hướng dẫn hộ đi sau”, phát huy vai trò của tổ công nghệ số cộng đồng, đoàn thể và người có uy tín trong việc hỗ trợ kỹ thuật, hướng dẫn sử dụng ứng dụng và lan tỏa các mô hình kinh doanh trực tuyến hiệu quả. Đây là giải pháp bền vững, phù hợp với đặc điểm gắn kết xã hội của vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Tài liệu tham khảo:
Cheng, C., Gao, Q., Ju, K., & Ma, Y. (2024). How digital skills affect farmers’ agricultural entrepreneurship? An explanation from factor availability. Journal of Innovation & Knowledge, 9(2), 100477.
Đỗ Anh Đức, Hà Diệu Linh, Phạm Ánh Ngọc, Hồ Huyền Trang. (2026). Năng lực công nghệ thông tin của các thành viên hộ gia đình tại Việt Nam. Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, 24(6), 841-850.
Lê Đào Ngọc Thanh, Phạm Thiên Hải, Hồ Thanh Công, Đỗ Duy Quân (2025). Financial Inclusion Through Digital Service Innovation: Mobile Banking Solutions for Rural Communities in Vietnam. Journal of Service, Innovation and Sustainable Development, 6(2).
Tang Y and Tang L (2025) Digital technology adoption and farm household income in ethnic minority areas: evidence from Xinjiang, China. Front. Sustain. Food Syst. 9:1595575. doi: 10.3389/fsufs.2025.1595575
Tran Cao Uy, Hoang Dung Ha, Nguyen Ngoc Truyen, Nguyen Van Chung, Duong Ngoc Phuoc, Le Van Nam, Le Thi Hong Phuong and Cao Thi Thuyet  (2023). Mobile phone use for farm-related activities by ethnic minority farmers during the Covid-19 pandemic in Quang Tri Province, Central Vietnam. Information Services and Use, 43(1), 27-37.
World Bank (2016). World development report: Digital dividends.