Nâng cao năng lực phối hợp trong quản lý hoạt động tôn giáo trên môi trường số ở Việt Nam

Enhancing coordination capacity in the management of religious activities in the digital environment in Vietnam

TS. Nguyễn Văn Thắng
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Email: nguyenvanthang@hcma.vn

(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra sâu rộng ở Việt Nam, hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo đang dịch chuyển ngày càng mạnh mẽ lên không gian mạng, đặt ra yêu cầu cấp bách đối với việc phối hợp giữa các bộ, ngành trong quản lý nhà nước về tôn giáo. Trên cơ sở phân tích khung pháp lý hiện hành, bài viết đánh giá thực trạng phối hợp liên ngành trên các phương diện, như: xây dựng văn bản pháp luật, tuyên truyền, thanh tra, giải quyết khiếu nại, hợp tác quốc tế, thi hành pháp luật, áp dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số khuyến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp liên ngành trong quản lý hoạt động tôn giáo trên môi trường số ở Việt Nam thời gian tới.

Từ khóa: Quản lý nhà nước; hoạt động tôn giáo; chuyển đổi số; môi trường số; phối hợp liên ngành.

Abstract: Against the backdrop of profound digital transformation in Vietnam, belief and religious activities are increasingly shifting to cyberspace, creating an urgent need for coordination among ministries and sectors in state management of religious affairs. Based on an analysis of the current legal framework, this article assesses the current state of intersectoral coordination in such areas as the formulation of legal documents, dissemination of information, inspection, complaint resolution, international cooperation, law enforcement, the application of science and technology, and digital transformation. On that basis, the article proposes a number of recommendations and solutions to enhance the effectiveness of intersectoral coordination in managing religious activities in the digital environment in Vietnam in the coming period.

Keywords: State management; religious activities; digital transformation; digital environment; intersectoral coordination.

1. Đặt vấn đề

Chuyển đổi số hiện nay được xác định là một trong những đột phá chiến lược hàng đầu của Việt Nam. Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản tạo khung pháp lý cho hoạt động này, nổi bật là Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, với ba trụ cột: Chính phủ số, Kinh tế số và Xã hội số. Ngày 23/4/2026, tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội (khóa XVI) đã thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 07/2026/QH16, thay thế Luật số 02/2016/QH14 đã được sửa đổi, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027. Đây là lần đầu tiên pháp luật Việt Nam quy định trực tiếp khái niệm, nguyên tắc và cơ chế quản lý hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng (Bộ Dân tộc và Tôn giáo, 2025). Như vậy, môi trường số đã trở thành một cấu phần không thể tách rời của đời sống xã hội Việt Nam, trong đó có lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Thực tế đặt ra yêu cầu mới mang tính cấp thiết đối với việc phối hợp giữa các bộ, ngành liên quan, không chỉ cơ quan quản lý tín ngưỡng, tôn giáo mà còn các bộ, ngành về an ninh mạng, viễn thông, thông tin – truyền thông, ngoại giao… trong giải quyết các vấn đề phát sinh từ hoạt động tôn giáo.

Việt Nam là một quốc gia có hơn 27.382.864 tín đồ (chiếm khoảng 27% dân số cả nước), 66.365 chức sắc, 120.475 chức việc và 30.374 cơ sở thờ tự thuộc 16 tôn giáo khác nhau với hơn 40 tổ chức, pháp môn tu hành đã được Nhà nước công nhận và cấp đăng ký hoạt động (Ban Tôn giáo Chính phủ, 2023). Cùng với chuyển đổi số, hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo cũng dịch chuyển ngày càng sâu rộng lên không gian mạng với các hoạt động, như: giảng đạo trực tuyến, phát trực tiếp nghi lễ, sinh hoạt qua mạng xã hội và các nền tảng xuyên biên giới. Bên cạnh giá trị tích cực trong lan tỏa văn hóa, đạo đức tôn giáo, thực tiễn cũng cho thấy, hiện tượng lợi dụng không gian mạng để truyền bá mê tín dị đoan, hoạt động tôn giáo trái pháp luật, gây khó khăn cho quản lý nhà nước, nhất là với các hiện tượng tôn giáo mới đang phát triển mạnh hiện nay.

2. Công tác phối hợp quản lý hoạt động tôn giáo trên môi trường số hiện nay

Kể từ ngày 18/02/2025, chức năng quản lý nhà nước thống nhất về tín ngưỡng, tôn giáo được chuyển giao từ Bộ Nội vụ sang Bộ Dân tộc và Tôn giáo, cơ quan được thành lập trên cơ sở Ủy ban Dân tộc và Ban Tôn giáo Chính phủ trước đây. Thay đổi về mô hình tổ chức, cùng với sự ra đời của khung pháp lý mới, đặt công tác phối hợp liên ngành trong quản lý hoạt động tôn giáo trên môi trường số trước cả cơ hội và thách thức.

Một là, phối hợp xây dựng, trình văn bản quy phạm pháp luật.

Quá trình xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 minh chứng rõ tính liên ngành của công tác này. Trên cơ sở tổng kết 8 năm thi hành Luật năm 2016 (từ 01/01/2018 đến hết 30/9/2025), Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương xây dựng, trình Chính phủ nhiều hồ sơ, như: dự thảo Tờ trình, dự thảo Luật, báo cáo tổng kết thi hành pháp luật, báo cáo rà soát chủ trương của Đảng và hệ thống pháp luật liên quan, cùng các báo cáo chuyên đề về cải cách thủ tục hành chính, phân quyền, phân cấp, chuyển đổi số và bình đẳng giới. Việc xây dựng một đạo luật về tôn giáo hiện nay đòi hỏi sự tham gia của nhiều bộ, ngành có chức năng liên quan đến hành chính công, cải cách bộ máy và công nghệ thông tin.

Kết quả của quá trình phối hợp này là Luật số 07/2026/QH16 được Quốc hội (khóa XVI) thông qua ngày 23/4/2026 với tỷ lệ 100% (492/492) đại biểu có mặt biểu quyết đồng ý; mức đồng thuận cao đạt được nhờ công tác phối hợp, lấy ý kiến rộng rãi trước khi trình Quốc hội (Phan Hồng Thủy, 2026). Sau khi Luật được thông qua, Bộ Dân tộc và Tôn giáo tiếp tục chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương tham mưu Chính phủ ban hành Nghị định hướng dẫn thi hành, dự kiến có hiệu lực với Luật từ 01/01/2027. Tuy nhiên, khoảng thời gian chuyển tiếp giữa hai mốc này đặt ra thách thức về tiến độ, nhiều nội dung mới, đặc biệt là cơ chế quản lý hoạt động tôn giáo trên không gian mạng, cần văn bản hướng dẫn chi tiết mới triển khai được thống nhất, đòi hỏi sự khẩn trương, đồng bộ giữa Bộ Dân tộc và Tôn giáo với các bộ quản lý công nghệ thông tin, an ninh mạng, viễn thông…

Hai là, phối hợp tuyên truyền, phổ biến văn bản pháp luật về tôn giáo.

Hoạt động này đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ, có trách nhiệm giữa cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội và chính các tổ chức tôn giáo. Trong giai đoạn thi hành Luật năm 2016, cả nước đã tổ chức 216 hội nghị tập huấn cho 28.100 lượt cán bộ, công chức làm công tác tín ngưỡng, tôn giáo, trang bị kiến thức về chủ trương, chính sách, pháp luật cũng như kỹ năng xử lý vụ việc phát sinh từ hoạt động tôn giáo (Nguyễn Thị Kim Thoa & Hồ Thị Mộng Tuyền, 2025).

Ở Trung ương, Ban Tôn giáo Chính phủ đã tổ chức hội nghị phổ biến Nghị định số 95/2023/NĐ-CP ngày 29/12/2023 ngay sau khi văn bản có hiệu lực, nhằm thống nhất nhận thức, cách áp dụng trong toàn hệ thống. Ở địa phương, hoạt động phổ biến thường được triển khai qua phối hợp giữa cơ quan chuyên môn phụ trách tôn giáo với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp, gồm: cả hội nghị cho cán bộ, công chức và lớp tập huấn chuyên sâu cho chức sắc, chức việc, nhà tu hành. Trong bối cảnh chuyển đổi số, tuyên truyền không chỉ dừng ở phổ biến văn bản theo phương thức truyền thống mà còn phải mở rộng sang kênh truyền thông số, mạng xã hội, nơi một bộ phận tín đồ, đặc biệt giới trẻ, tiếp cận thông tin tôn giáo hằng ngày. Điều này đòi hỏi phối hợp chặt chẽ hơn giữa cơ quan quản lý tín ngưỡng, tôn giáo với cơ quan quản lý báo chí, truyền thông, để thông tin chính thống được lan tỏa kịp thời, cạnh tranh hiệu quả với thông tin sai lệch vốn có tốc độ phát tán rất nhanh trên không gian mạng, hoạt động truyền thông số vẫn được xem là điểm yếu trong mắt xích tuyên truyền hiện nay.

Ba là, phối hợp hướng dẫn áp dụng văn bản quy phạm pháp luật và thanh tra, kiểm tra.

Hướng dẫn áp dụng pháp luật là khâu chuyển hóa quy định pháp luật thành hướng dẫn nghiệp vụ cụ thể cho cơ quan quản lý các cấp cũng như tổ chức, cá nhân tôn giáo. Về bản chất, hướng dẫn áp dụng pháp luật có tính phối hợp hai chiều: theo chiều dọc giữa Trung ương và địa phương, theo chiều ngang giữa cơ quan quản lý tín ngưỡng, tôn giáo với các sở, ngành liên quan, như: nội vụ, tư pháp, công an, thông tin – truyền thông tại từng địa phương. Tuy vậy, việc phối hợp giữa các cơ quan hiện còn gặp nhiều khó khăn trong đồng bộ thông tin, cập nhật thông tin, nhân sự triển khai, công cụ hỗ trợ…, nhất là trong giai đoạn chuyển tiếp khi Luật năm 2026 đã được thông qua nhưng Nghị định hướng dẫn đang được soạn thảo. Nhu cầu phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa các cơ quan trong ban hành hướng dẫn tạm thời, bảo đảm tính liên tục trong quản lý, nhất là với các quy định hoàn toàn mới về hoạt động tôn giáo trên không gian mạng, môi trường mạng, càng trở nên cấp thiết hơn.

Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo có ý nghĩa kép: vừa bảo đảm pháp luật được thực thi nghiêm túc, vừa hạn chế nguy cơ lạm quyền dẫn đến xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo hợp pháp. Hoạt động này cần cơ chế phối hợp thường xuyên với Cục An ninh nội địa (Bộ Công an), Bộ Ngoại giao, Ban Dân vận Trung ương, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Bộ Tài nguyên và Môi trường để giải quyết vấn đề phức tạp phát sinh. Đối với Luật năm 2026, Điều 8 quy định, cơ quan nhà nước có thẩm quyền chịu trách nhiệm hướng dẫn, giám sát, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, đồng thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý vi phạm hoạt động tôn giáo trên môi trường số.

Việc thanh tra, kiểm tra trên không gian mạng đặt ra yêu cầu phối hợp phức tạp hơn về kỹ thuật. Thực tiễn cho thấy, việc xác minh hành vi vi phạm trên mạng, như: truyền bá tà đạo, mê tín dị đoan, lợi dụng tôn giáo để trục lợi… gặp rất nhiều khó khăn, nhất là khi diễn ra trên nền tảng mạng xã hội nước ngoài, ngoài phạm vi quản lý trực tiếp trong nước. Điều này đòi hỏi phối hợp không chỉ giữa các bộ, ngành trong nước, nhất là cơ quan quản lý tín ngưỡng, tôn giáo với cơ quan quản lý an ninh mạng, viễn thông mà trong một số trường hợp còn cần cơ chế hợp tác với chính các nền tảng công nghệ xuyên quốc gia.

Bốn là, phối hợp trong giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm.

Xử lý vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng hiện dựa trên nhiều căn cứ pháp lý thuộc thẩm quyền của các bộ, ngành khác nhau, đòi hỏi phối hợp chặt chẽ trong áp dụng. Một số vụ việc liên quan các nhóm tự xưng tổ chức tôn giáo hoạt động trái pháp luật trên mạng đã kéo dài, phức tạp, một phần do hạn chế trong phối hợp liên ngành, liên tổ chức giữa cơ quan quản lý tôn giáo, cơ quan thông tin – truyền thông và công an trong phát hiện, xác minh, xử lý kịp thời. Luật năm 2026 bổ sung cơ chế phối hợp mang tính bắt buộc: tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ không gian mạng, viễn thông có trách nhiệm triển khai giải pháp kỹ thuật, phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền gỡ bỏ, ngăn chặn nội dung vi phạm khi có yêu cầu.

Năm là, phối hợp trong hợp tác quốc tế về tôn giáo.

Hợp tác quốc tế về tôn giáo là phương diện phối hợp đặc thù, đòi hỏi sự thống nhất quan điểm chặt chẽ giữa Bộ Dân tộc và Tôn giáo với Bộ Ngoại giao và Bộ Công an. Trong thời gian qua, các cơ quan quản lý nhà nước Việt Nam đạt một số kết quả đáng ghi nhận, như: Đại lễ Vesak Liên Hợp quốc năm 2025 tổ chức tại Việt Nam có sự tham dự của đại diện Chính phủ 16 quốc gia cùng lãnh đạo các tổ chức Phật giáo từ 72 quốc gia, vùng lãnh thổ; đối ngoại tôn giáo cũng mở rộng với Ấn Độ, Australia, Ireland, New Zealand, Nhật Bản (Ngọc Linh, 2025). Quan hệ Việt Nam – Tòa thánh Vatican cũng ghi nhận bước tiến, cụ thể: từ năm 2023, hai bên nâng cấp quan hệ lên Đại diện thường trú của Tòa thánh tại Việt Nam; đến tháng 9/2025, Tổ công tác hỗn hợp đã tiến hành 12 vòng đàm phán (Hồng Phúc, 2026); tháng 10/2025, Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã gặp Đại diện thường trú Tòa thánh nhằm tăng cường phối hợp song phương giữa các tổ chức quản lý về tôn giáo.

Sáu là, phối hợp trong áp dụng khoa học – công nghệ, chuyển đổi số.

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 lần đầu bổ sung khái niệm hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng. Việc tổ chức, cá nhân sử dụng không gian mạng để thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo theo quy định pháp luật và nghiêm cấm hành vi dùng không gian mạng, trí tuệ nhân tạo (AI) hoặc công nghệ khác để vi phạm pháp luật tín ngưỡng, tôn giáo (Minh Trang, 2026). Điều 8 của Luật phân định trách nhiệm phối hợp giữa ba nhóm chủ thể: (1) Cơ quan nhà nước có thẩm quyền hướng dẫn, giám sát, kiểm tra, thanh tra, phát hiện, ngăn chặn, xử lý vi phạm; (2) Tổ chức, cá nhân hoạt động trên không gian mạng phải tuân thủ pháp luật liên quan; (3) Tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ không gian mạng, viễn thông triển khai giải pháp kỹ thuật, phối hợp gỡ bỏ, ngăn chặn nội dung vi phạm. Cơ cấu ba bên này cho thấy, quản lý tôn giáo trên môi trường số không thể chỉ dựa vào một cơ quan chuyên ngành mà đòi hỏi sự tham gia thường xuyên của cơ quan an ninh mạng, viễn thông cùng khu vực doanh nghiệp công nghệ.

Để triển khai hiệu quả, yêu cầu về hạ tầng và nguồn lực cũng được đặt ra: các cơ quan cần bố trí kinh phí nâng cấp cổng, trang thông tin điện tử; số hóa tài liệu; trang bị phương tiện phục vụ thủ tục hành chính trên môi trường điện tử; liên thông, kết nối cơ sở dữ liệu, gắn kết trực tiếp với định hướng chính phủ số theo Quyết định số 749/QĐ-TTg và tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW. Quản lý tôn giáo trên môi trường số cần được đặt trong tổng thể chiến lược chuyển đổi số quốc gia chứ không thể tách biệt đơn lẻ ở mỗi cơ quan. Bên cạnh đó, mặc dù khung pháp lý mới đã được thiết lập nhưng thực tiễn còn hạn chế, thiếu quy định cụ thể về các hình thức, nội dung tôn giáo phổ biến trên mạng, như: giảng pháp trực tuyến, lễ nghi phát trực tiếp, khó xác minh vi phạm, nhất là trên nền tảng xuyên biên giới, tốc độ phản bác nội dung xuyên tạc, mê tín còn chậm hơn tốc độ lan truyền. Sự xuất hiện các cộng đồng cư dân tôn giáo trên mạng tương đối độc lập, ít gắn kết với tổ chức truyền thống cũng đang là thách thức mới với cả cơ quan quản lý lẫn các giáo hội tôn giáo.

Bảy là, phối hợp phân cấp, ủy quyền quản lý nhà nước về tôn giáo

Thay đổi lớn nhất hiện nay gắn với mô hình chính quyền địa phương hai cấp trong lĩnh vực dân tộc, tôn giáo chính là thẩm quyền quản lý tín ngưỡng, tôn giáo trước đây của Ủy ban nhân dân cấp huyện, được phân bổ lại giữa Trung ương và cấp tỉnh. Để cụ thể hóa, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã ban hành Thông tư số 01/2026/TT-BDTTG ngày 13/01/2026 của Bộ Dân tộc và Tôn giáo, quy định rõ trách nhiệm cơ quan được phân cấp trong tuân thủ pháp luật, tự kiểm tra, tự bảo đảm điều kiện thực hiện, đồng thời chủ trì, phối hợp tổ chức phổ biến, tập huấn nghiệp vụ cho công chức tham mưu quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo (Bộ Dân tộc và Tôn giáo, 2026a); Thông tư số 02/2025/TT-BDTTG ngày 24/6/2025 của Bộ Dân tộc và Tôn giáo hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Sở Dân tộc và Tôn giáo thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo của phòng chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu đã chỉ rõ chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cấp trong quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo.

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 tiếp tục đẩy mạnh phân cấp theo hướng bảo đảm cấp bộ chỉ trực tiếp thực hiện không quá 30% tổng số thủ tục hành chính lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo; theo đó, Chính phủ đã chuyển 8 thẩm quyền, thủ tục từ Bộ Dân tộc và Tôn giáo về Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Việc này giúp rút ngắn quy trình, tăng chủ động cho địa phương, nhưng cũng đặt ra yêu cầu phối hợp mới, đó là Trung ương vẫn giám sát thống nhất, nắm bắt kịp thời tình hình cả nước, nhất là với các vụ việc tôn giáo trên không gian mạng vốn liên tỉnh, xuyên biên giới, không bị giới hạn bởi địa giới hành chính.

3. Một số giải pháp

Thứ nhất, đẩy nhanh tiến độ xây dựng, ban hành Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026, bảo đảm có hiệu lực với Luật từ 01/01/2027; quy định cụ thể hơn về các hình thức nội dung tôn giáo phổ biến trên mạng, như: giảng pháp trực tuyến, lễ nghi phát trực tiếp… cùng tiêu chí nhận diện vi phạm, hạn chế tình trạng áp dụng không thống nhất giữa các địa phương.

Thứ hai, xây dựng quy chế phối hợp liên ngành thường trực, chính thức không chỉ theo vụ việc giữa Bộ Dân tộc và Tôn giáo với Bộ Công an, Bộ Ngoại giao và cơ quan quản lý viễn thông, không gian mạng; xác định rõ cơ quan đầu mối, thời hạn xử lý cụ thể cho từng loại tình huống, kế thừa tinh thần cơ chế phối hợp gỡ bỏ, ngăn chặn nội dung vi phạm mà Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 đã đặt nền móng.

Thứ ba, đầu tư đồng bộ hạ tầng dữ liệu số dùng chung, bảo đảm liên thông, kết nối cơ sở dữ liệu tín ngưỡng, tôn giáo giữa Bộ Dân tộc và Tôn giáo với các bộ, ngành, địa phương. Đây là điều kiện tiên quyết để phân cấp, ủy quyền mà không làm suy giảm khả năng giám sát thống nhất của cơ quan Trung ương.

Thứ tư, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức làm công tác quản lý tín ngưỡng, tôn giáo về kỹ năng nhận diện, xác minh vi phạm trên không gian mạng, nhất là trên nền tảng liên biên giới, xuyên biên giới; nghiên cứu cơ chế hợp tác, trao đổi thông tin với doanh nghiệp cung cấp nền tảng số, mạng xã hội hoạt động tại Việt Nam.

Thứ năm, chủ động, kịp thời hơn trong thông tin đối ngoại về tôn giáo: cung cấp thông tin minh bạch, có căn cứ, phản hồi kịp thời trước đánh giá của tổ chức quốc tế; tiếp tục thúc đẩy các kênh đối thoại song phương hiện có, đối thoại nhân quyền Việt Nam – Hoa Kỳ, đàm phán với Tòa thánh Vatican… nhằm tăng cường hiểu biết, giảm khác biệt trong đánh giá giữa các bên.

Thứ sáu, trong suốt quá trình hoàn thiện thể chế và tổ chức thực hiện, cần quán triệt nguyên tắc hài hòa giữa yêu cầu tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước với bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo hợp pháp của người dân trên không gian mạng; không tạo thêm rào cản hành chính không cần thiết đối với tổ chức, cá nhân tôn giáo tuân thủ pháp luật, đúng định hướng đã thể hiện trong quá trình xây dựng Luật năm 2026.

4. Kết luận

Chuyển đổi số đang diễn ra sâu rộng ở Việt Nam, đặt quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trước yêu cầu hoàn toàn mới mà trọng tâm là năng lực phối hợp giữa các bộ, ngành liên quan. Phân tích trên các phương diện cụ thể cho thấy, kể từ khi Bộ Dân tộc và Tôn giáo được thành lập và đặc biệt từ khi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 được thông qua, Việt Nam đã từng bước xây dựng khung thể chế, tổ chức bộ máy tương đối đồng bộ để quản lý hoạt động tôn giáo trên môi trường số. Tuy nhiên, khoảng cách giữa quy định pháp luật và năng lực tổ chức thực hiện, đặc biệt về hạ tầng dữ liệu số, năng lực xác minh vi phạm xuyên biên giới và tốc độ phối hợp phản ứng vẫn là thách thức cần tiếp tục khắc phục. Trong thời gian tới, triển khai đồng bộ, kịp thời Nghị định hướng dẫn thi hành Luật, xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành thường trực, đầu tư hạ tầng dữ liệu dùng chung; đồng thời, bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu quản lý và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, sẽ là những yếu tố quyết định hiệu quả quản lý nhà nước về tôn giáo trên môi trường số ở Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.

Tài liệu tham khảo:
Ban Tôn giáo Chính phủ (2023). Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam (Sách trắng về tôn giáo).
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Dân tộc và Tôn giáo (2025). Báo cáo số 2357-BC/BDTTG ngày 30/12/2025 về tổng kết việc thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Bộ Dân tộc và Tôn giáo (2025b). Thông tư số 02/2025/TT-BDTTG ngày 24/6/2025 hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Sở Dân tộc và Tôn giáo thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo của phòng chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu.
Bộ Dân tộc và Tôn giáo (2026a). Thông tư số 01/2026/TT-BDTTG ngày 13/01/2026 quy định phân cấp một số nhiệm vụ quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo của Bộ Dân tộc và Tôn giáo.
Chính phủ (2023). Nghị định số 95/2023/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Hồng Phúc (01/7/2026). Củng cố tin cậy, tạo nền tảng cho quan hệ lâu dài giữa Việt Nam và Vatican. https://vietnamnet.vn/cung-co-tin-cay-tao-nen-tang-cho-quan-he-lau-dai-giua-viet-nam-va-vatican-2531127.html
Minh Trang (14/5/2026). Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026: Nghiêm cấm sử dụng không gian mạng để vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo. Báo Đại biểu Nhân dân. https://daibieunhandan.vn/luat-tin-nguong-ton-giao-nam-2026-nghiem-cam-su-dung-khong-gian-mang-de-vi-pham-phap-luat-ve-tin-nguong-ton-giao-10416932.html
Ngọc Linh (03/7/2025). Bộ Dân tộc và Tôn giáo: Dấu ấn 6 tháng đầu năm 2025 trên hành trình kiến tạo phát triển và đoàn kết. Cổng thông tin điện tử Bộ Dân tộc và Tôn giáo. http://www.cema.gov.vn/bo-dan-toc-va-ton-giao-dau-an-6-thang-dau-nam-2025-tren-hanh-trinh-kien-tao-phat-trien-va-doan-ket.htm
Nguyễn Phú Lợi (12/02/2022). USCIRF Report on religious freedom in Vietnam biased, one-sided. Vietnam Law & Legal Forum. https://vietnamlawmagazine.vn/uscirf-report-on-religious-freedom-in-vietnam-biased-one-sided-59319.html
Nguyễn Thị Kim Thoa & Hồ Thị Mộng Tuyền (24/7/2025). Tăng cường quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo trên không gian mạng ở Việt Nam hiện nay. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/07/24/tang-cuong-quan-ly-nha-nuoc-ve-hoat-dong-ton-giao-tren-khong-gian-mang-o-viet-nam-hien-nay/
Phan Hồng Thủy (16/5/2026). 6 điểm đột phá của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2026. VietnamNet. https://dantocphattrien.vietnamnet.vn/6-diem-dot-pha-cua-luat-tin-nguong-ton-giao-2026-75334.html
Quốc hội (2016). Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016
Quốc hội (2026). Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026
Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
USCIRF (2025). Annual Report 2025 – Country updates: Vietnam. United States Commission on International Religious Freedom. https://www.uscirf.gov/