Environmental sustainability in Vietnam in the new context
TS. Đinh Văn Thụy
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Email: dinhvanthuy@gmai.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Phát triển bền vững đã trở thành một trong những định hướng phát triển quan trọng của nhân loại trong thế kỷ XXI. Nếu trong giai đoạn đầu của công nghiệp hóa, tăng trưởng kinh tế thường được đặt ở vị trí ưu tiên, còn môi trường chủ yếu được xem xét như một điều kiện bên ngoài của quá trình sản xuất thì ngày nay nhận thức đó đã có sự thay đổi căn bản. Môi trường không chỉ là “đầu vào” của phát triển mà còn là nền tảng tự nhiên của đời sống xã hội, là một bộ phận cấu thành chất lượng tăng trưởng và là điều kiện bảo đảm sự tồn tại lâu dài của nền kinh tế. Bài viết nghiên cứu nội hàm phát triển bền vững về môi trường ở Việt Nam trong bối cảnh mới và những nhân tố tác động; thực trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển bền vững về môi trường ở Việt Nam trong bối cảnh mới.
Từ khóa: Phát triển bền vững; môi trường; nhân tố tác động; giải pháp phát triển bền vững.
Abstract: Sustainable development has become one of humanity’s key development priorities in the 21st century. Whereas in the early stages of industrialization, economic growth was typically prioritized and the environment was viewed primarily as an external factor in the production process, that perception has now undergone a fundamental shift. The environment is not merely an “input” for development but also the natural foundation of social life, an integral component of growth quality, and a prerequisite for the long-term survival of the economy. This article examines the concept of environmentally sustainable development in Vietnam within the new context and the factors influencing it; it also assesses the current situation and proposes several solutions for environmentally sustainable development in Vietnam under these new circumstances.
Keywords: Sustainable development; environment; influencing factors; sustainable development solutions.
1. Đặt vấn đề
Ở Việt Nam, yêu cầu phát triển bền vững về môi trường ngày càng trở nên cấp thiết. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa và hội nhập quốc tế đã tạo ra những động lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, nhưng đồng thời cũng tạo sức ép lớn lên tài nguyên thiên nhiên và môi trường. Ô nhiễm không khí ở một số đô thị, ô nhiễm nguồn nước, chất thải rắn, suy giảm hệ sinh thái, mất đa dạng sinh học, khai thác tài nguyên thiếu bền vững và những tác động ngày càng rõ của biến đổi khí hậu đang đặt ra những thách thức mới đối với mô hình phát triển.
Nhận thức rõ vấn đề đó, Việt Nam đã từng bước hoàn thiện hệ thống quan điểm, pháp luật và chính sách về bảo vệ môi trường. Luật Bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14 được Quốc hội ban hành ngày 17/11/2020 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2022, tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng cho đổi mới phương thức quản lý môi trường. Đồng thời, Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 được phê duyệt tại Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ, xác định tăng trưởng xanh là phương thức quan trọng để thực hiện phát triển bền vững, hướng tới nền kinh tế xanh và trung hòa carbon. Đặc biệt, cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 đã đưa vấn đề môi trường từ phạm vi bảo vệ tài nguyên, kiểm soát ô nhiễm sang một yêu cầu rộng hơn là chuyển đổi mô hình phát triển. Theo đó, chuyển đổi năng lượng, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, giao thông xanh, sản xuất sạch hơn, tiêu dùng bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu trở thành những bộ phận ngày càng quan trọng của chiến lược phát triển.
2. Nội hàm phát triển bền vững về môi trường ở Việt Nam trong bối cảnh mới và những nhân tố tác động
Phát triển bền vững về môi trường ở Việt Nam có thể được hiểu là quá trình tổ chức các hoạt động kinh tế – xã hội theo hướng đáp ứng nhu cầu phát triển của hiện tại nhưng không làm suy giảm khả năng cung cấp các nguồn lực và các điều kiện môi trường cần thiết cho các thế hệ tương lai. Nội hàm của phát triển bền vững về môi trường không chỉ giới hạn ở việc xử lý ô nhiễm. Đó là một hệ thống các quan hệ bao gồm sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên; phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm; bảo tồn đa dạng sinh học; bảo vệ các hệ sinh thái; sử dụng hiệu quả năng lượng; giảm phát thải khí nhà kính; thích ứng với biến đổi khí hậu; phát triển sản xuất và tiêu dùng bền vững.
Từ góc độ phát triển, có thể xem phát triển bền vững về môi trường dựa trên bốn yêu cầu cơ bản:
Thứ nhất, không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá. Tăng trưởng kinh tế phải được đánh giá cả về chất lượng, hiệu quả sử dụng tài nguyên và chi phí môi trường.
Thứ hai, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên. Tài nguyên phải được nhìn nhận như một dạng vốn tự nhiên của quốc gia, có giới hạn và cần được bảo toàn cho quá trình phát triển lâu dài.
Thứ ba, chuyển từ xử lý ô nhiễm sang phòng ngừa ô nhiễm. Đây là sự thay đổi quan trọng trong tư duy quản trị môi trường, bởi chi phí phòng ngừa thường thấp hơn nhiều so với chi phí khắc phục hậu quả.
Thứ tư, gắn bảo vệ môi trường với đổi mới mô hình tăng trưởng. Môi trường không chỉ là đối tượng cần bảo vệ mà còn có thể trở thành động lực thúc đẩy đổi mới công nghệ, tạo ra ngành nghề mới, thị trường mới và việc làm mới. Như vậy, phát triển bền vững về môi trường cần được đặt trong mối quan hệ thống nhất với phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội. Nếu chỉ chú trọng bảo vệ môi trường mà xem nhẹ phát triển kinh tế và sinh kế của người dân thì khó tạo ra sự đồng thuận xã hội; ngược lại, nếu chỉ chú trọng tăng trưởng mà xem nhẹ môi trường thì chính nền tảng của tăng trưởng sẽ bị suy giảm.
Phát triển bền vững về môi trường ở Việt Nam hiện nay chịu tác động của nhiều yếu tố, tuy nhiên tác động trực tiếp nhất có thể chỉ ra năm yếu tố sau:
Một là, biến đổi khí hậu trở thành một yếu tố cấu trúc của quá trình phát triển. Việt Nam có đường bờ biển dài hơn ba ngàn km, nhiều đô thị và vùng sản xuất nằm ở khu vực thấp, ven biển và đồng bằng nên dễ bị tổn thương trước biến đổi khí hậu; các tác động khí hậu đã ảnh hưởng đáng kể đến nền kinh tế và có xu hướng gia tăng nếu không có các biện pháp thích ứng và giảm phát thải phù hợp. Điều này cho thấy bảo vệ môi trường không thể chỉ được hiểu là kiểm soát ô nhiễm tại các địa phương mà phải gắn với khả năng chống chịu của toàn bộ nền kinh tế.
Hai là, chuyển đổi xanh đang trở thành xu hướng phát triển toàn cầu. Các nền kinh tế lớn ngày càng đưa ra những tiêu chuẩn cao hơn về phát thải carbon, sản xuất xanh, chuỗi cung ứng bền vững và trách nhiệm môi trường. Điều này tác động trực tiếp tới năng lực cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam.
Ba là, chuyển đổi số tạo ra những phương thức mới trong quản trị môi trường. Dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật, công nghệ viễn thám và hệ thống cảm biến có thể giúp giám sát chất lượng không khí, nước, đất, rừng, biển và phát thải theo thời gian thực. Vì vậy, chuyển đổi số không chỉ là quá trình đổi mới phương thức sản xuất mà còn có thể trở thành công cụ quan trọng của quản trị môi trường.
Bốn là, kinh tế tuần hoàn đang thay đổi cách thức tiếp cận tài nguyên. Nếu mô hình kinh tế tuyến tính vận hành theo logic “khai thác – sản xuất – tiêu dùng – thải bỏ”, thì kinh tế tuần hoàn hướng tới giảm khai thác tài nguyên nguyên sinh, kéo dài vòng đời sản phẩm, tái sử dụng, tái chế và phục hồi tài nguyên.
Năm là, yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng gắn với tiêu chuẩn môi trường. Doanh nghiệp Việt Nam không chỉ cạnh tranh bằng giá cả và chất lượng mà ngày càng phải đáp ứng những yêu cầu về dấu chân carbon, nguồn gốc nguyên liệu, năng lượng sạch, trách nhiệm xã hội và tiêu chuẩn môi trường của thị trường nhập khẩu.
3. Thực trạng phát triển bền vững về môi trường ở Việt Nam hiện nay
Trong những năm qua, vấn đề phát triển bền vững về môi trường ngày càng được quan tâm, tại Đại hội XIV, Đảng xác định bảo vệ môi trường ngang hàng với phát triển kinh tế: “Phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a. tr. 26). Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã tạo cơ sở pháp lý cho cách tiếp cận mới, trong đó bảo vệ môi trường được đặt trong mối quan hệ với phát triển kinh tế – xã hội, quản lý tài nguyên, biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh.Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn 2050. Tiếp đó, Thủ tướng ban hành Quyết định số 882/QĐ-TTg ngày 22/7/2022 phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 – 2030. Nhờ đó mà “Chính sách, pháp luật về quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường tiếp tục được đổi mới, hoàn thiện; tháo gỡ nhiều bất cập trong quy định về quản lý đất đai, tài nguyên, môi trường. Các thị trường quyền sử dụng đất, quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản, tín chỉ carbon… từng bước được hình thành. Quản lý chất thải và kiểm soát môi trường khu công nghiệp có nhiều tiến bộ. Việc kiểm soát ô nhiễm môi trường ở các lưu vực sông, đô thị, làng nghề được quan tâm triển khai. Việc xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng được đẩy mạnh” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a. tr.312).
Thứ nhất, chuyển đổi năng lượng và phát triển năng lượng tái tạo được thúc đẩy.
Chuyển đổi năng lượng là một trong những nội dung trung tâm của phát triển bền vững về môi trường. Trong những năm qua, Việt Nam đã có bước phát triển đáng kể về điện mặt trời, điện gió và các nguồn năng lượng tái tạo khác, “đẩy mạnh chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, chuyển đổi năng luợng, chuyển đổi cơ cấu và chất luợng nguồn nhân lực… ngày càng đuợc các nuớc quan tâm, thúc đẩy” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a. tr.78). Quy hoạch điện VIII (phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050) cũng định hướng phát triển mạnh các nguồn năng lượng tái tạo, tăng cường lưới điện thông minh và giảm phát thải trong ngành điện.
Thứ hai, công tác bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học được quan tâm.
Việt Nam là quốc gia có mức độ đa dạng sinh học cao, với nhiều hệ sinh thái rừng, biển, đất ngập nước và vùng ven biển có giá trị lớn. Trong những năm qua, hệ thống khu bảo tồn, vườn quốc gia và các khu vực có giá trị đa dạng sinh học tiếp tục được quan tâm. Việc bảo tồn thiên nhiên ngày càng được gắn với phục hồi hệ sinh thái, bảo vệ nguồn gene, bảo tồn các loài nguy cấp và duy trì dịch vụ hệ sinh thái. Đại hội XIV đã khẳng định: “Công tác bảo tồn đa dạng sinh học, quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên, rừng đặc dụng, khu bảo tồn biển có nhiều tiến bộ” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a. tr.313).
Thứ ba, nhận thức của doanh nghiệp có chuyển biến, xuất hiện nhiều mô hình kinh tế thân thiện với môi trường.
Ngày càng nhiều doanh nghiệp nhận thức rằng thực hiện trách nhiệm môi trường không chỉ là nghĩa vụ pháp lý mà còn liên quan trực tiếp đến khả năng cạnh tranh. Các khái niệm như ESG (Environmental – Môi trường, Social- Xã hội và Governance- Quản trị), sản xuất xanh, sản phẩm xanh, chuỗi cung ứng xanh, trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất và kinh tế tuần hoàn ngày càng được quan tâm, như Đại hội XIV đã khẳng định: “Tăng trưởng kinh tế bước đầu thay đổi theo hướng chuyển đổi xanh, xuất hiện nhiều mô hình kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn, công nghiệp xanh, đô thị xanh” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b. tr.124). Bên cạnh đó, người tiêu dùng cũng bắt đầu quan tâm nhiều hơn tới nguồn gốc sản phẩm, bao bì, mức tiêu thụ năng lượng và tác động môi trường của hàng hóa. Đây là một cơ sở xã hội quan trọng để thúc đẩy quá trình chuyển đổi xanh,
Thứ năm, vấn đề thu gom, xử lý chất thải có nhiều chuyển biến tích cực. Đại hội XIV đã chỉ ra: “Năm 2025, tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải nguy hại đạt khoảng 97%, tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị đạt khoảng 95%; tỷ lệ sử dụng nuớc sạch theo quy chuẩn của dân cư thành thị và nông thôn đạt lần luợt 99% và 60%; tỷ lệ khu công nghiệp có hệ thống xử lý nuớc thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường là 95,5%; tỷ lệ che phủ rừng là 42,03%” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a. tr.312-313).
Bên cạnh những mặt tích cực, phát triển bền vững về môi trường vẫn còn tồn tại một số hạn chế như:
Một là, ô nhiễm môi trường vẫn là vấn đề đáng quan tâm.
Mặc dù công tác bảo vệ môi trường có nhiều chuyển biến, nhưng ô nhiễm không khí, nước và đất vẫn xuất hiện ở nhiều khu vực, như Đại hội XIV đã thừa nhận: “Ô nhiễm môi truờng chưa đuợc kiểm soát hiệu quả, có mặt còn trầm trọng hơn, nhất là môi truờng ở các đô thị lớn, khu công nghiệp, cụm công nghiệp và các làng nghề” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a. tr.65).Ô nhiễm không khí là ví dụ điển hình cho tính phức tạp của vấn đề môi trường hiện nay. Nguồn ô nhiễm không chỉ xuất phát từ một chủ thể mà liên quan đến giao thông, xây dựng, công nghiệp, năng lượng, đốt sinh khối và điều kiện khí tượng.Tương tự, ô nhiễm nguồn nước tại một số lưu vực sông, khu vực đô thị, làng nghề và khu sản xuất cho thấy khả năng xử lý nước thải vẫn chưa theo kịp tốc độ phát sinh chất thải.
Hai là, chất thải gia tăng nhanh, trong khi kinh tế tuần hoàn chưa phát triển tương xứng.
Quá trình đô thị hóa và thay đổi mức sống làm gia tăng lượng chất thải sinh hoạt và chất thải công nghiệp. Một số địa phương vẫn gặp khó khăn trong việc phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải.Trong khi đó, một trong những yêu cầu cốt lõi của kinh tế tuần hoàn là coi chất thải của quá trình này như một nguồn tài nguyên cho các quá trình khác. Thực tế cho thấy, chuỗi giá trị tái chế, tái sử dụng và thu hồi tài nguyên ở Việt Nam vẫn chưa hoàn chỉnh. Điểm nghẽn không chỉ nằm ở công nghệ mà còn ở thị trường, cơ chế giá, tiêu chuẩn sản phẩm tái chế, trách nhiệm của nhà sản xuất và thói quen tiêu dùng.
Ba là, hiệu quả sử dụng tài nguyên còn hạn chế.
Mô hình tăng trưởng trong một số ngành vẫn phụ thuộc đáng kể vào việc sử dụng tài nguyên và năng lượng. Tình trạng khai thác tài nguyên thiếu hiệu quả không chỉ làm suy giảm vốn tự nhiên mà còn tạo ra chi phí môi trường lâu dài, như Đại hội XIV của Đảng đã chỉ ra: “Việc quản lý, sử dụng tài nguyên, khoáng sản, nhất là đất đai và nguồn nước hiệu quả chưa cao” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a. tr.65).
Bốn là, tác động của biến đổi khí hậu ngày càng rõ nét.
Biến đổi khí hậu đang tác động đến nhiều lĩnh vực của Việt Nam như nông nghiệp, thủy sản, giao thông, đô thị, công nghiệp, tài nguyên nước và sức khỏe cộng đồng. Các khu vực như đồng bằng sông Cửu Long, duyên hải miền Trung và các đô thị ven biển có mức độ dễ bị tổn thương cao. Tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn, sạt lở và nước biển dâng đang tạo ra những rủi ro ngày càng lớn.
Năm là, suy giảm đa dạng sinh học vẫn là thách thức
Các hệ sinh thái rừng, biển, đất ngập nước và ven biển đang chịu sức ép từ phát triển kinh tế, chuyển đổi sử dụng đất, khai thác tài nguyên và biến đổi khí hậu. Đại hội XIV của Đảng đã chỉ ra: “Việt Nam đang đối mặt với nguy cơ suy thoái đa dạng sinh học và sự mất cân bằng sinh thái. Những vấn đề về ô nhiễm môi trường gây ra các thách thức như: Suy thoái chất lượng rừng và mất chức năng phòng hộ; thách thức đối với vấn đề an toàn thực phẩm; cạn kiệt nguồn tài nguyên và gia tăng xung đột môi trường; thách thức về xâm luợc sinh thái và an ninh môi trường xuyên biên giới” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b. tr.250 – 251).
Nguyên nhân của những hạn chế bắt nguồn từ các yếu tố khách quan và chủ quan. Về khách quan, Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa với tốc độ tương đối cao. Nhu cầu năng lượng, đất đai, nước và nguyên liệu tăng lên tạo sức ép lớn lên môi trường. Đồng thời, Việt Nam là quốc gia có mức độ dễ bị tổn thương cao trước biến đổi khí hậu. Mô hình tăng trưởng ở một số lĩnh vực vẫn chưa chuyển hoàn toàn sang dựa trên hiệu quả sử dụng tài nguyên, khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo. Một số hoạt động sản xuất vẫn còn sử dụng công nghệ tiêu hao nhiều năng lượng và tạo ra nhiều chất thải; nguồn lực đầu tư cho môi trường còn hạn chế so với nhu cầu như Đại hội XIV của Đảng đã chỉ ra: “đầu tư trở lại cho môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu còn hạn chế” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b. tr. 131).
Nhiều dự án xử lý nước thải, chất thải và phục hồi hệ sinh thái cần vốn lớn, thời gian thu hồi vốn dài nên chưa hấp dẫn khu vực tư nhân nếu thiếu cơ chế khuyến khích phù hợp; năng lực quản trị môi trường ở một số địa phương chưa đáp ứng yêu cầu, như Đại hội XIV của Đảng chỉ ra: “Các chế tài để ngăn ngừa, xử lý các hành vi vi phạm chưa đủ sức răn đe và thiếu hiệu quả; quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu trên một số mặt còn lỏng lẻo” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b. tr. 130); khoa học – công nghệ và nguồn nhân lực môi trường chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của quá trình chuyển đổi xanh; ý thức và trách nhiệm môi trường của một bộ phận doanh nghiệp và người dân còn hạn chế. “Ý thức chấp hành pháp luật về quản lý, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu còn thấp. Bảo vệ môi trường chưa trở thành ý thức, hành động, thói quen, nếp sống, văn hoá của người dân” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b. tr. 130).
4. Những vấn đề mới đặt ra trong phát triển bền vững về môi trường
Thứ nhất, chuyển từ “bảo vệ môi trường” sang “chuyển đổi mô hình phát triển”.
Đây là vấn đề có tính nền tảng. Nếu trước đây bảo vệ môi trường thường được tiếp cận như một nhiệm vụ nhằm giảm thiểu những tác động tiêu cực của phát triển thì trong bối cảnh mới, yêu cầu đặt ra cao hơn: phải thay đổi chính phương thức tạo ra tăng trưởng, “đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả, phát triển kinh tế nhanh, bền vững; tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường.đổi mới mô hình tăng trưởng” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b. tr.43). Điều này có nghĩa là môi trường phải được tích hợp ngay từ khâu quy hoạch, đầu tư, thiết kế sản phẩm, lựa chọn công nghệ, tổ chức sản xuất và tiêu dùng.
Thứ hai, gắn chuyển đổi xanh với chuyển đổi số.
Chuyển đổi số tạo điều kiện hình thành một phương thức quản trị môi trường mới dựa trên dữ liệu. Các hệ thống cảm biến có thể cung cấp dữ liệu thời gian thực về chất lượng không khí, nước và đất. Công nghệ viễn thám có thể hỗ trợ giám sát rừng và biến động sử dụng đất. Trí tuệ nhân tạo có thể hỗ trợ dự báo ô nhiễm và thiên tai. Vì vậy, cần xây dựng hệ sinh thái dữ liệu môi trường số, kết nối dữ liệu giữa trung ương, địa phương, doanh nghiệp và cộng đồng.
Thứ ba, phát triển kinh tế tuần hoàn ở quy mô toàn nền kinh tế.
Kinh tế tuần hoàn cần được triển khai ở cả cấp độ doanh nghiệp, ngành, vùng và quốc gia. Ở cấp doanh nghiệp, cần thiết kế sản phẩm có khả năng tái sử dụng và tái chế. Ở cấp ngành, cần hình thành các chuỗi liên kết để phụ phẩm của doanh nghiệp này trở thành nguyên liệu của doanh nghiệp khác. Ở cấp vùng, cần phát triển các hệ sinh thái công nghiệp và đô thị tuần hoàn. Đây là sự thay đổi quan trọng từ tư duy “quản lý chất thải” sang “quản trị dòng vật chất”. Từ chỗ chủ yếu tập trung vào xử lý ô nhiễm sau khi xảy ra, chuyển sang phòng ngừa, kiểm soát từ nguồn và đánh giá tác động môi trường
Thứ tư, bảo đảm công bằng trong chuyển đổi xanh
Chuyển đổi xanh tạo ra cơ hội mới nhưng cũng có thể tạo ra chi phí xã hội. Một số ngành nghề sử dụng nhiều carbon có thể bị thu hẹp; người lao động có thể phải chuyển đổi nghề nghiệp; doanh nghiệp phải đầu tư công nghệ mới. Do đó, chuyển đổi xanh phải gắn với đào tạo lại lao động, tạo việc làm xanh, hỗ trợ doanh nghiệp và bảo đảm an sinh xã hội. Chiến lược tăng trưởng xanh của Việt Nam cũng đặt vấn đề nâng cao khả năng chống chịu, bảo đảm bình đẳng về điều kiện và cơ hội, hướng tới quá trình chuyển đổi xanh công bằng và bao trùm.
Thứ năm, môi trường trở thành yếu tố của năng lực cạnh tranh quốc gia
Trong điều kiện hội nhập sâu rộng, tiêu chuẩn môi trường ngày càng tác động đến thương mại và đầu tư. Doanh nghiệp không đáp ứng tiêu chuẩn xanh có thể mất thị trường; ngược lại, doanh nghiệp đi đầu trong công nghệ sạch có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh. Vì vậy, bảo vệ môi trường cần được nhìn nhận không chỉ như chi phí mà còn là đầu tư cho năng lực cạnh tranh dài hạn.
5. Một số giải pháp
Một là, tiếp tục hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường.
Cần rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật về môi trường theo hướng đồng bộ, thống nhất, khả thi; tăng cường trách nhiệm của các cơ quan quản lý, doanh nghiệp và cộng đồng; nâng cao hiệu quả thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm. Cần chuyển mạnh từ tư duy “xử lý ô nhiễm sau khi xảy ra” sang phòng ngừa ô nhiễm ngay từ quá trình quy hoạch, lựa chọn công nghệ, đầu tư và tổ chức sản xuất. Các quyết định phát triển kinh tế – xã hội cần đánh giá đầy đủ tác động môi trường và khả năng chịu tải của hệ sinh thái, bảo đảm không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế trước mắt.
Hai là, đẩy mạnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh, tuần hoàn và phát thải thấp.
Phát triển bền vững về môi trường phải được đặt trong quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế. Cần khuyến khích phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, sản xuất sạch hơn, sử dụng tiết kiệm năng lượng và tài nguyên; thúc đẩy năng lượng tái tạo, giao thông xanh, công trình xanh và các ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao. Đồng thời, từng bước hình thành chuỗi giá trị trong đó chất thải của quá trình sản xuất này có thể trở thành đầu vào của quá trình sản xuất khác. Qua đó, chuyển từ mô hình “khai thác – sản xuất – tiêu dùng – thải bỏ” sang mô hình “tiết kiệm tài nguyên – sản xuất xanh – tiêu dùng bền vững – tái sử dụng – tái chế”.
Ba là, phát huy mạnh mẽ vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong bảo vệ môi trường.
Cần xây dựng hệ thống dữ liệu môi trường thống nhất, tăng cường quan trắc tự động, ứng dụng AI, dữ liệu lớn, viễn thám và công nghệ số để giám sát chất lượng không khí, nguồn nước, đất, rừng và đa dạng sinh học. Chuyển đổi số cần được sử dụng để hình thành quản trị môi trường dựa trên dữ liệu, cho phép phát hiện sớm nguy cơ ô nhiễm, dự báo thiên tai và hỗ trợ hoạch định chính sách. Đồng thời, cần thúc đẩy nghiên cứu, ứng dụng các công nghệ xử lý chất thải, tiết kiệm năng lượng, vật liệu mới và công nghệ carbon thấp, qua đó biến yêu cầu bảo vệ môi trường thành động lực đổi mới công nghệ và nâng cao năng suất.
Bốn là, tăng cường bảo vệ, phục hồi hệ sinh thái và sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên.
Cần chuyển từ tư duy chủ yếu khai thác tài nguyên sang coi tài nguyên thiên nhiên và hệ sinh thái là nguồn vốn tự nhiên của quốc gia. Chú trọng bảo vệ rừng tự nhiên, nguồn nước, đất, biển và ven biển; phục hồi các hệ sinh thái bị suy thoái; bảo tồn đa dạng sinh học; kiểm soát khai thác khoáng sản và tài nguyên nước. Cần gắn bảo vệ hệ sinh thái với sinh kế của cộng đồng, nhất là người dân ở khu vực miền núi, vùng ven biển và những địa bàn phụ thuộc trực tiếp vào tài nguyên tự nhiên. Khi người dân có sinh kế ổn định và được hưởng lợi hợp lý từ bảo tồn, bảo vệ môi trường sẽ trở thành lợi ích và trách nhiệm chung của cộng đồng.
Năm là, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu và tăng cường năng lực bảo đảm an ninh môi trường, an ninh con người.
Việt Nam là quốc gia chịu nhiều tác động của nước biển dâng, thiên tai cực đoan, hạn hán, xâm nhập mặn và các biến động khí hậu. Do đó, cần chuyển mạnh từ ứng phó bị động sang quản trị rủi ro khí hậu chủ động, tăng cường hệ thống cảnh báo sớm, quy hoạch không gian phát triển phù hợp với điều kiện tự nhiên, đầu tư hạ tầng có khả năng chống chịu và nâng cao năng lực phòng ngừa, ứng phó thiên tai. Đặc biệt, cần quan tâm bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương, bảo đảm an ninh nguồn nước, an ninh lương thực, sức khỏe cộng đồng và sinh kế của người dân.
Sáu là, phát huy vai trò chủ thể của doanh nghiệp, cộng đồng và Nhân dân trong bảo vệ môi trường.
Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế, định hướng và kiểm soát, nhưng bảo vệ môi trường là trách nhiệm của toàn xã hội. Cần nâng cao ý thức và trách nhiệm môi trường của doanh nghiệp; khuyến khích các mô hình sản xuất, kinh doanh xanh; thúc đẩy tiêu dùng bền vững; tăng cường giáo dục và hình thành văn hóa sống thân thiện với môi trường. Đồng thời, cần tạo điều kiện để người dân, tổ chức xã hội và cộng đồng tham gia giám sát môi trường, phản ánh các hành vi gây ô nhiễm và tham gia các hoạt động bảo tồn, phục hồi hệ sinh thái. Qua đó hình thành phương thức quản trị môi trường theo hướng Nhà nước kiến tạo – doanh nghiệp trách nhiệm – cộng đồng tham gia – Nhân dân thụ hưởng.
6. Kết luận
Phát triển bền vững về môi trường ở Việt Nam trong những năm qua đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Hệ thống quan điểm, pháp luật và chính sách về môi trường từng bước được hoàn thiện; tăng trưởng xanh được xác lập như một định hướng phát triển; chuyển đổi năng lượng, kinh tế tuần hoàn, bảo tồn đa dạng sinh học và ứng phó với biến đổi khí hậu ngày càng được quan tâm. Những kết quả đó tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam chuyển sang mô hình phát triển xanh và bền vững hơn. Tuy nhiên, những thách thức môi trường vẫn rất lớn. Ô nhiễm không khí, nước và đất; chất thải gia tăng; hiệu quả sử dụng tài nguyên chưa cao; suy giảm đa dạng sinh học; tác động của biến đổi khí hậu và những hạn chế trong năng lực quản trị đang đặt ra yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ mô hình phát triển.
Điểm đáng chú ý là trong bối cảnh mới, nội hàm của phát triển bền vững về môi trường đã thay đổi. Bảo vệ môi trường không còn chỉ là xử lý những hậu quả của quá trình phát triển mà phải trở thành một nguyên tắc tổ chức toàn bộ quá trình phát triển. Chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, kinh tế tuần hoàn, năng lượng sạch, giảm phát thải carbon và khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu cần được tích hợp vào chiến lược phát triển của từng ngành, từng địa phương và từng doanh nghiệp. Vì vậy, Việt Nam cần chuyển mạnh từ tư duy “bảo vệ môi trường để giảm tác động tiêu cực của tăng trưởng” sang tư duy “đổi mới mô hình tăng trưởng để tạo ra sự thống nhất giữa phát triển kinh tế, tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường”. Đây không chỉ là yêu cầu của bảo vệ môi trường mà còn là yêu cầu của việc nâng cao chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia.Trong dài hạn, phát triển bền vững về môi trường cần được đặt trên nền tảng của khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao. Đồng thời, phải bảo đảm sự tham gia của Nhà nước, doanh nghiệp, cộng đồng và người dân; kết hợp nguồn lực trong nước với nguồn lực quốc tế; gắn chuyển đổi xanh với chuyển đổi số và bảo đảm công bằng trong quá trình chuyển đổi.
Có thể khẳng định rằng, môi trường không chỉ là điều kiện của phát triển mà đang trở thành một nguồn lực, một động lực và một tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng phát triển của Việt Nam. Nếu thực hiện thành công quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh, tuần hoàn, carbon thấp và có khả năng chống chịu cao, Việt Nam không chỉ giải quyết tốt hơn các vấn đề môi trường mà còn có thể mở ra những động lực tăng trưởng mới, tạo việc làm mới và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Đây chính là nền tảng quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh, bền vững và hướng tới một Việt Nam xanh, thịnh vượng trong những thập niên tới.
Tài liệu tham khảo:
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026a). Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ XIV. (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026b). Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ XIV. (Tập II). Nxb Chính trị quốc gia.
Quốc hội (2020). Luật Bảo vệ môi trường năm 2020.
Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn 2050.
Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 882/QĐ-TTg ngày 22/7/2022 phê duyệt kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030



