The concepts of “nurturing the people” and “educating the people” in Phan Boi Chau’s Khong hoc dang: implications for human development governance in contemporary Vietnam
TS. Luyện Thị Minh Thư
Trường Đại học Hải Dương
Email: luyenthiminhthudhhd@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích nội dung tư tưởng “dưỡng dân”, “giáo dân” của Phan Bội Châu trong tác phẩm Khổng học đăng. Trên cơ sở tiếp thu những yếu tố của tư tưởng Nho giáo Khổng – Mạnh, Phan Bội Châu đề cao yêu cầu dưỡng dân, giáo dân, chăm lo dân sinh và coi trọng lợi ích chung của quốc dân trong việc trị nước. Từ đó, giá trị nổi bật trong luận giải của Ông không nằm ở việc duy trì nguyên vẹn mô hình đức trị truyền thống mà ở việc diễn giải lại một số nội dung của Nho giáo theo hướng đề cao vị trí của dân, gắn việc trị nước với chăm lo dân sinh, giáo hóa dân và coi trọng lợi ích chung của quốc dân. Trên cơ sở đó, bài viết gợi mở một số giá trị tham khảo đối với quản trị phát triển con người ở Việt Nam hiện nay; đồng thời, chỉ ra những giới hạn lịch sử của tư tưởng Phan Bội Châu, qua đó nhấn mạnh yêu cầu kế thừa có chọn lọc, phù hợp với nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền, bảo đảm quyền con người, quyền công dân và phát huy vai trò của người dân.
Từ khóa: Phan Bội Châu; Khổng học đăng; “dưỡng dân”; “giáo dân”; quản trị phát triển con người.
Abstract: This article analyzes Phan Boi Chau’s concepts of “nourishing the people” and “educating the people” as presented in his work Khong hoc dang. Drawing on selected elements of Confucian thought, particularly the teachings of Confucius and Mencius, Phan Boi Chau emphasized the importance of nourishing and educating the people, attending to their livelihoods, and upholding the common interests of the people in governance. Accordingly, the significance of his interpretation lies not in preserving the traditional model of rule through virtue in its original form, but in reinterpreting certain Confucian ideas in ways that emphasize the position of the people, link governance with concern for their livelihoods and moral education, and attach importance to their common interests. On this basis, the article identifies several reference values for human development governance in Vietnam today. It also examines the historical limitations of Phan Boi Chau’s thought, thereby emphasizing the need for selective appropriation in accordance with the principles of the rule-of-law state, the protection of human rights and citizens’ rights, and the promotion of the role of the people.
Keywords: Phan Boi Chau; Khong hoc dang; “nourishing the people”; “educating the people”; human development governance.
1. Đặt vấn đề
Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực quan trọng của sự phát triển xã hội. Việc chăm lo đời sống vật chất, nâng cao dân trí, bồi dưỡng đạo đức, năng lực và tạo điều kiện để người dân tham gia tích cực vào đời sống xã hội đặt ra yêu cầu gắn phát triển con người với phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội. Đây không chỉ là cơ sở để mỗi cá nhân phát triển toàn diện mà còn góp phần củng cố sự đồng thuận xã hội, phát huy sức mạnh của Nhân dân và hướng tới sự phát triển bền vững của đất nước. Nhìn lại lịch sử tư tưởng Việt Nam, từ đầu thế kỷ XX, tác phẩm Khổng học đăng của Phan Bội Châu đã có những luận giải quan trọng về vị trí của dân, đạo trị nước và trách nhiệm của người cầm quyền đối với quốc dân. Trên cơ sở tiếp thu các quan niệm của Nho giáo Khổng – Mạnh và luận giải chúng trong bối cảnh xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX, Ông đề cao “dưỡng dân”, “giáo dân”, nhấn mạnh việc chăm lo dân sinh, giáo hóa dân và coi trọng lợi ích chung của quốc dân trong việc trị nước. Dù chịu sự chi phối của hệ tư tưởng Nho giáo và những điều kiện lịch sử đầu thế kỷ XX, những luận giải này phản ánh sự vận động trong tư tưởng của Phan Bội Châu về dân, dân sinh, giáo hóa và đạo trị nước; đồng thời, gợi mở những giá trị tham khảo về quản trị phát triển con người ở Việt Nam hiện nay.
2. Quan niệm của Phan Bội Châu về dân và trách nhiệm của người cầm quyền
Khổng học đăng là một trước tác Nho học quan trọng của Phan Bội Châu, được biên soạn trong những năm cuối đời, khi bị giam lỏng ở Huế, khoảng từ năm 1929 đến năm 1935 (Nguyễn Thọ Đức, 2011, tr.37-57). Tác phẩm không chỉ thể hiện sự tiếp nhận các quan niệm của Khổng – Mạnh mà còn cho thấy nỗ lực của Phan Bội Châu trong việc lựa chọn, luận giải và làm rõ lại một số nội dung của Nho giáo trước những yêu cầu của xã hội Việt Nam đương thời. Trong đó, những luận giải về vị trí của dân, đạo trị nước và trách nhiệm của người cầm quyền là những nội dung quan trọng, thể hiện sự quan tâm của Ông đối với dân sinh và sự hưng thịnh của quốc gia.
Thứ nhất, đề cao vị trí của dân trong việc trị nước.
Trong tác phẩm Khổng học đăng, khi luận giải tư tưởng chính trị của Nho giáo Khổng – Mạnh, Phan Bội Châu dành sự quan tâm lớn đến vị trí, vai trò của dân đối với việc trị nước và sự hưng vong của quốc gia. Tiếp nhận quan niệm của Mạnh Tử về vị trí của dân trong đạo trị nước, Phan Bội Châu không chỉ bàn đến việc người cầm quyền phải chăm lo cho dân mà còn nhấn mạnh mối quan hệ giữa dân với sự hưng vong của triều đại và việc trị nước.
Trên cơ sở đó, Ông gắn vấn đề dân với quan niệm về Trời và Thiên mệnh. Trong tư tưởng Nho giáo, Thiên mệnh là một phạm trù quan trọng được dùng để lý giải vị thế của người cầm quyền và sự hưng vong của các triều đại. Trong Khổng học đăng, khi luận giải mối quan hệ giữa Trời, dân và người cầm quyền, Phan Bội Châu đặc biệt nhấn mạnh vai trò của dân. Ông cho rằng, việc vua Thuấn – một trong những hình mẫu minh quân của Nho giáo – có được thiên hạ không chỉ do “thiên dữ chi” mà còn do “dân dữ chi”, qua đó nhấn mạnh mối quan hệ giữa lòng dân với việc xác lập và duy trì ngôi vị của người cầm quyền (Phan Bội Châu, 2010, tr.414-415). Đồng thời, tiếp tục diễn giải: “Trời nhìn, Trời nghe thông qua mắt thấy, tai nghe của nhân dân; dân là đại biểu của Trời và quyền của dân có thể thay cho quyền của Trời” (Phan Bội Châu, 2010, tr.416).
Trên cơ sở cách luận giải này, Phan Bội Châu gắn Thiên mệnh với lòng dân làm nổi bật vai trò của dân trong việc trị nước. Theo cách hiểu của Ông, ý Trời được nhận biết qua dân; vì vậy, lòng dân trở thành căn cứ quan trọng để xem xét việc trị nước và sự hưng vong của triều đại. Người cầm quyền muốn giữ được sự ổn định của đất nước không chỉ dựa vào quyền lực mà còn phải biết thuận lòng dân, chăm lo đời sống của dân. Từ cách tiếp cận đó, Phan Bội Châu phê phán những người cầm quyền chỉ dựa vào quyền lực để áp đặt ý chí của mình. Theo Ông, khi người cầm quyền không tu dưỡng đạo đức, không quan tâm đến lợi ích của dân thì khó có được lòng dân; khi mất lòng dân, việc trị nước dễ phải dựa vào võ lực. Đồng thời, Ông nhấn mạnh mối liên hệ giữa lòng dân với sự hưng vong của triều đại và thành bại của việc trị nước.
Tuy nhiên, việc Phan Bội Châu đề cao vị trí của dân, gắn lòng dân với Thiên mệnh và sự hưng vong của triều đại cho thấy sự điều chỉnh trong cách Ông tiếp nhận và luận giải các phạm trù Nho giáo truyền thống. Cách luận giải này gắn với những yêu cầu mới của đời sống chính trị – xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX, đồng thời nhấn mạnh trách nhiệm của người cầm quyền đối với dân.
Thứ hai, trị nước phải gắn với việc chăm lo lợi ích chung của quốc dân.
Trên nền tảng đề cao vị trí của dân, Phan Bội Châu tiếp tục luận giải trách nhiệm của người cầm quyền trong việc trị nước. Ông tiếp nhận tư tưởng “đức trị”, “nhân trị” của Nho giáo; đồng thời, nhấn mạnh việc trị nước không chỉ dừng ở tu dưỡng đạo đức, thực hành nhân nghĩa của người cầm quyền, mà còn phải biết lo lợi chung cho quốc dân. Khi luận giải cuộc đối thoại giữa Lương Huệ Vương và Mạnh Tử, Phan Bội Châu cho rằng, người cầm quyền nếu biết lấy nhân nghĩa làm trọng, lo lợi chung cho quốc dân thì các tầng lớp trong xã hội cũng sẽ hướng đến lợi ích chung của đất nước. Theo đó, Ông không đặt “lợi” đối lập hoàn toàn với “nghĩa”, mà phân biệt lợi chung với lợi riêng, nhấn mạnh yêu cầu người cầm quyền phải biết lo lợi chung cho quốc dân. Cách luận giải này cho thấy, nhân nghĩa của người cầm quyền không chỉ thể hiện ở việc tu dưỡng bản thân mà còn được thể hiện qua việc chăm lo đời sống và lợi ích của dân.
Từ những quan niệm đó, Phan Bội Châu đánh giá cao những nội dung trong tư tưởng của Mạnh Tử liên quan đến “phân điền”, “chế sản”, “dưỡng dân”, từ đó, nhấn mạnh mối liên hệ giữa đạo trị nước với việc chăm lo dân sinh. Ông không xem Nho giáo chỉ bàn về tu dưỡng đạo đức và đạo trị nước, mà còn tìm thấy trong tư tưởng Mạnh Tử những luận điểm gắn với việc chăm lo dân sinh, làm cho dân được yên ổn làm ăn và lo lợi chung cho dân. Bên cạnh việc đề cao “nhân trị”, “đức trị”, Phan Bội Châu còn coi trọng vai trò của hình pháp trong việc trị nước. Ông cho rằng, “hình pháp được công bình” thì người không có tội không phải chịu oan, còn người làm điều gian ác biết sợ mà tránh tội. Vì vậy, có thể thấy trong quan niệm của Phan Bội Châu, việc trị nước không chỉ dựa vào sự tu dưỡng và thực hành nhân nghĩa của người cầm quyền mà còn đòi hỏi hình pháp được thực hiện công bình để người không có tội khỏi phải chịu oan, người gian ác biết sợ mà tránh tội. Tuy nhiên, không nên đồng nhất quan niệm về “hình pháp” của Ông với nguyên tắc pháp quyền trong tư tưởng chính trị đương đại.
Như vậy, quan niệm của Phan Bội Châu về trách nhiệm của người cầm quyền có thể khái quát ở ba điểm: đề cao vị trí của dân; coi trọng lòng dân, ý dân trong việc trị nước; đồng thời, gắn việc trị nước với việc chăm lo lợi ích chung của quốc dân. Những luận điểm này tạo cơ sở để Ông tiếp tục luận giải tư tưởng “dưỡng dân”, “giáo dân” trong Khổng học đăng. Theo đó, nếu coi trọng dân là một yêu cầu của đạo trị nước thì “dưỡng dân”, “giáo dân” là những phương diện cụ thể trong việc chăm lo dân và giáo hóa dân của người cầm quyền.
3. Quan niệm của Phan Bội Châu về “dưỡng dân”, “giáo dân” trong tác phẩm Khổng học đăng
Từ việc đề cao vị trí của dân và yêu cầu người cầm quyền phải lo lợi ích chung cho quốc dân, Phan Bội Châu dành sự quan tâm đến các nội dung “dưỡng dân”, “giáo dân” khi luận giải tư tưởng Khổng – Mạnh về trị nước và giáo hóa trong Khổng học đăng. Theo cách luận giải của Ông, đạo trị nước không chỉ gắn với việc tu dưỡng đạo đức, thực hành nhân nghĩa của người cầm quyền mà còn phải chú trọng “dưỡng dân” và “giáo dân”. Hai nội dung này gắn bó với nhau trong đạo trị nước, “dưỡng dân” chú trọng chăm lo dân sinh, làm cho dân được yên ổn làm ăn; “giáo dân” chú trọng giáo hóa, mở mang tri thức và bồi dưỡng đạo đức cho dân.
Thứ nhất, “dưỡng dân”.
Trong Khổng học đăng, Phan Bội Châu không đồng tình với cách hiểu cho rằng Nho giáo chỉ “trọng nghĩa khinh lợi”, xem nhẹ những vấn đề liên quan đến đời sống của dân. Theo ông, điều Nho giáo phê phán không phải là “lợi” nói chung mà là lợi riêng, trong khi “lợi” chung của quốc dân vẫn là điều người cầm quyền phải quan tâm. Vì vậy, Ông tìm thấy trong tư tưởng của Mạnh Tử những nội dung liên quan đến dân sinh như “phân điền”, “chế sản”, “dưỡng dân”, qua đó cho thấy sự quan tâm của Nho gia đối với việc làm cho dân được yên ổn và có sinh kế.
Theo cách luận giải của Phan Bội Châu, “dưỡng dân” trước hết gắn với việc chăm lo dân sinh, từ việc chia ruộng cho dân có đủ cày cấy đến việc làm cho dân có tiền của đủ dùng. Theo đó, người cầm quyền không chỉ phải giảm nhẹ hình phạt, bớt sưu thuế, mà còn phải quan tâm đến ruộng đất và việc làm ăn của dân. Khi giải thích các khái niệm “phân điền”, “chế sản”, Ông viết: “Chia ruộng cho dân được đủ cày; ai nấy cũng cân như nhau, là gọi bằng “phân điền”. Sửa sang sắp đặt cho dân, khiến cho ai nấy cũng có tiền của cho đủ tiền xài, gọi bằng “chế sản” (Phan Bội Châu, 2010, tr.410).
Qua cách giải thích trên, có thể thấy, “dưỡng dân” trong tư tưởng của Phan Bội Châu không chỉ gắn với việc giảm bớt sưu thuế, hình phạt mà còn bao hàm việc chăm lo ruộng đất, sản nghiệp và việc làm ăn của dân. Đồng thời, làm cho dân được yên ổn làm ăn, có tiền của đủ dùng là một phương diện quan trọng trong trách nhiệm của người cầm quyền đối với dân và trong đạo trị nước.
Trong Khổng học đăng, Phan Bội Châu còn nhấn mạnh những nội dung trong tư tưởng Mạnh Tử liên quan đến việc lo “lợi” chung cho quốc dân. Khi dẫn lại cuộc đối thoại giữa Lương Huệ Vương với Mạnh Tử, Ông giải thích: “Vua mà cứ chăm về “nhân nghĩa”, lo “lợi” chung cho quốc dân, thời đại phu, thứ nhân cũng đua nhau làm “nhân nghĩa” mà lo “lợi” chung cho nước… Đó là thâm ý của thầy Mạnh” (Phan Bội Châu, 2010, tr.399). Qua cách diễn giải này, Phan Bội Châu phân biệt “lợi” chung với “lợi” riêng, đồng thời nhấn mạnh trách nhiệm của người cầm quyền trong việc hướng việc trị nước vào lợi ích chung của quốc dân.
Trên cơ sở đó, Phan Bội Châu tìm thấy trong học thuyết Mạnh Tử những nội dung liên quan đến kinh tế và dân sinh, khẳng định Nho học không chỉ bàn về đạo đức mà còn gắn với việc chăm lo đời sống và việc làm ăn của dân. Ông viết: “Xem như mấy câu trên ấy thời ai bảo Khổng học mà không phải kinh tế học đâu?” (Phan Bội Châu, 2010, tr.485). Cách nhìn này cho thấy, nỗ lực của Phan Bội Châu trong việc diễn giải tư tưởng Khổng – Mạnh từ những vấn đề gắn với đời sống của dân, từ đó, nhấn mạnh những nội dung thiết thực đối với xã hội đương thời.
Bên cạnh đó, khi bàn về trị nước, Phan Bội Châu không chỉ đề cập đến “nhân trị”, “đức trị” mà còn chú ý đến vai trò của hình pháp. Ông viết: “Hình pháp được công bình thời người không tội lỗi khỏi phải chịu oan, mà người gian ác biết lo tránh tội” (Phan Bội Châu, 2010, tr.152). Qua đó, có thể thấy, bên cạnh yêu cầu tu dưỡng đạo đức và thực hành nhân nghĩa, Phan Bội Châu còn lưu ý đến sự công bình của hình pháp trong việc trị nước và giữ gìn trật tự. Tuy nhiên, quan niệm về “hình pháp” của Ông được đặt trong khuôn khổ tư tưởng Nho giáo đương thời, không đồng nhất với nguyên tắc pháp quyền trong Nhà nước pháp quyền hiện nay.
Nhìn chung, tư tưởng “dưỡng dân” của Ông vẫn được đặt trong mạch tư tưởng “nhân trị”, “đức trị” của Nho giáo, trong đó người cầm quyền giữ vai trò quan trọng đối với việc chăm lo dân sinh và làm cho dân được yên ổn. Vì vậy, “dưỡng dân” trong Khổng học đăng chưa phải là quan niệm về chính sách dân sinh hiện nay, mà là yêu cầu về đạo trị nước, người cầm quyền phải biết chăm lo dân sinh, làm cho dân được yên ổn làm ăn và lo lợi chung cho quốc dân. Đây cũng là giới hạn lịch sử cần được tính đến khi tiếp cận tư tưởng này. Tuy vậy, việc Phan Bội Châu chú trọng đến việc làm cho dân được yên ổn làm ăn và lo lợi chung cho quốc dân cho thấy những biến đổi trong cách Ông tiếp nhận và luận giải tư tưởng Nho giáo trước những yêu cầu của xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX.
Thứ hai, tư tưởng “giáo dân”.
Bên cạnh “dưỡng dân”, Phan Bội Châu coi trọng việc giáo dân trong đạo trị nước. Nếu “dưỡng dân” gắn với việc chăm lo dân sinh, làm cho dân được yên ổn làm ăn, thì “giáo dân” gắn với việc giáo hóa, mở mang tri thức và bồi dưỡng đạo đức cho dân. Trong Khổng học đăng, Ông tiếp nhận quan niệm của Nho giáo về vai trò của giáo hóa đối với việc tu dưỡng con người và giữ gìn trật tự xã hội. Tuy nhiên, trong cách luận giải của Ông, “giáo dân” không chỉ dừng ở việc truyền dạy đạo lý, mà còn gắn với việc học tập, mở mang tri thức và rèn luyện con người để làm việc, giúp ích cho dân và nước.
Theo Phan Bộ Châu, mục đích của việc học không phải chỉ để tạo ra những người đi thi, làm quan hoặc đạt được địa vị trong xã hội, mà trước hết là để làm người. Ông viết: “Chúng ta sở dĩ học là cốt để học làm người” (Phan Bội Châu, 2010, tr.201). Đồng thời, khi luận giải quan niệm “vị kỉ”, Ông nhấn mạnh người học cần “vun nuôi lấy đạo đức của mình, tăng tiến lấy trí thức của mình”, thay vì học chỉ để “mua chuốc cái danh giá ở người” (Phan Bội Châu, 2010, tr.32). Qua đó, có thể thấy Phan Bội Châu đặt việc tu dưỡng đạo đức và mở mang trí thức ở vị trí quan trọng trong mục đích của việc học. Đồng thời, nhấn mạnh việc giáo dục gắn với bồi dưỡng các phẩm chất Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín; mở mang tri thức để con người có thể hành đạo, làm việc và giúp ích cho dân, nước.
Đặc biệt, Phan Bội Châu không chỉ luận giải việc học từ phương diện tu dưỡng cá nhân mà còn đặt nó trong mối liên hệ với những yêu cầu của đất nước. Trong điều kiện đất nước mất độc lập, xã hội có nhiều biến chuyển, Ông gắn việc mở mang tri thức với yêu cầu hiểu biết thời thế, tự tu dưỡng và góp sức chấn hưng đất nước. Vì vậy, việc học trong cách luận giải của Ông không chỉ nhằm tu dưỡng đạo đức mà còn hướng đến việc làm và những yêu cầu của dân, nước.
Nhìn chung, “giáo dân” trong Khổng học đăng vẫn thuộc phạm trù giáo hóa của Nho giáo, trong đó tu dưỡng đạo đức và mở mang trí thức giữ vị trí quan trọng. Đồng thời, cách Phan Bội Châu luận giải “giáo dân” cho thấy sự điều chỉnh nhất định khi Ông gắn việc học với việc làm, dân sinh và yêu cầu chấn hưng đất nước. Tuy nhiên, tư tưởng này vẫn mang dấu ấn rõ nét của Nho giáo, thể hiện ở việc đề cao giáo hóa và vai trò của người có học, người cầm quyền trong việc dạy dân, hướng dẫn dân. Vì vậy, không nên đồng nhất “giáo dân” với các quan niệm hiện nay về quyền học tập, quyền phát triển hay vai trò chủ thể của người dân trong giáo dục. Đây là giới hạn lịch sử cần được lưu ý khi tiếp cận tư tưởng “giáo dân” của Phan Bội Châu.
4. Giá trị tham chiếu và giới hạn của tư tưởng “dưỡng dân”, “giáo dân” đối với quản trị phát triển con người ở Việt Nam hiện nay
Tư tưởng “dưỡng dân”, “giáo dân” trong Khổng học đăng được hình thành trong điều kiện lịch sử đầu thế kỷ XX, gắn với yêu cầu chấn hưng đất nước, chăm lo dân sinh và mở mang trí thức cho dân. Vì vậy, không thể đồng nhất trực tiếp những quan niệm này với lý luận quản trị phát triển con người hiện nay. Tuy nhiên, khi được đặt trong bối liên hệ với yêu cầu phát triển con người Việt Nam hiện nay, tư tưởng của Phan Bội Châu đã gợi mở một số giá trị tham chiếu đáng chú ý.
Một là, gợi mở về việc lấy người dân làm trung tâm trong quản trị phát triển.
Một trong những giá trị nổi bật trong tư tưởng của Phan Bội Châu là việc đề cao vị trí của dân đối với sự hưng vong của đất nước và trách nhiệm của người cầm quyền đối với quốc dân. Từ quan niệm dân là gốc của nước, Ông cho rằng người cầm quyền cần biết coi trọng dân, thuận lòng dân và hướng việc trị nước đến lợi ích chung của quốc dân. Từ quan niệm coi trọng dân, thuận lòng dân và lo lợi chung cho quốc dân, Ông nhấn mạnh yêu cầu người cầm quyền phải hướng việc trị nước vào việc chăm lo dân sinh và lợi ích chung. Đây là điểm tham chiếu khi xem xét yêu cầu lấy con người làm trung tâm trong quản trị phát triển hiện nay.
Trong điều kiện hiện nay, yêu cầu này thể hiện trước hết ở việc các chính sách và hoạt động quản lý phải quan tâm đến nhu cầu chính đáng, điều kiện sống và những vấn đề thực tiễn của người dân. Theo đó, quản trị phát triển không chỉ hướng đến các mục tiêu kinh tế mà còn phải quan tâm đến khả năng tiếp cận và thụ hưởng thành quả phát triển của người dân. Cách tiếp cận này tương đồng về phương diện định hướng với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, trong đó con người được xác định là trung tâm, mục tiêu, chủ thể và động lực của sự phát triển đất nước.
Từ yêu cầu coi trọng lòng dân, ý dân trong tư tưởng của Phan Bội Châu, có thể gợi mở rằng quá trình hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách cần tăng cường lắng nghe tiếp thu ý kiến và phản hồi của người dân. Điều này không đồng nhất quan niệm “thuận lòng dân” của Phan Bội Châu với các nguyên tắc về quyền tham gia của người dân trong quản trị hiện đại, mà cho thấy sự tương đồng về định hướng hoạt động quản trị cần quan tâm đến tiếng nói của người dân và đáp ứng yêu cầu thực tế của đời sống.
Như vậy, giá trị tham chiếu của tư tưởng đề cao dân của Phan Bội Châu không nằm ở việc vận dụng nguyên trạng quan niệm trị nước truyền thống, mà ở yêu cầu hoạt động quản trị vào con người, coi trọng tiếng nói của người dân và đáp ứng yêu cầu thực tế của đời sống. Việc vận dụng giá trị này cần được đặt trong khuôn khổ của Nhà nước pháp quyền XHCN và phù hợp với yêu cầu quản trị ở Việt Nam hiện nay.
Hai là, về sự kết hợp giữa bảo đảm dân sinh và phát triển năng lực con người.
Tư tưởng “dưỡng dân”, “giáo dân” của Phan Bội Châu gợi mở mối liên hệ giữa chăm lo đời sống với giáo hóa, mở mang tri thức và tu dưỡng con người. Trong đó, “dưỡng dân” hướng đến việc làm cho dân được yên ổn làm ăn, có điều kiện bảo đảm cuộc sống; “giáo dân” hướng đến việc học, mở mang tri thức và tu dưỡng đạo đức. Hai phương diện này có quan hệ bổ sung cho nhau, bởi chăm lo dân sinh tạo nền tảng cho việc học tập, tu dưỡng, còn giáo hóa góp phần giúp con người có tri thức, đạo đức và khả năng làm việc, giúp ích cho dân, nước.
Tư tưởng “dưỡng dân”, có thể thấy Phan Bội Châu coi trọng những điều kiện gắn trực tiếp với việc làm ăn và đời sống của dân. Các nội dung “phân điền”, “chế sản” được Ông luận giải trong mối liên hệ với yêu cầu làm cho dân có ruộng đất, tiền của và điều kiện yên ổn làm ăn. Giá trị tham chiếu ở đây chính là sự gắn kết giữa chăm lo dân sinh với tạo dựng nền tảng cho sự phát triển của con người. Theo đó, quản trị phát triển hiện nay không chỉ quan tâm đến kết quả tăng trưởng mà còn cần chú trọng bảo đảm điều kiện cần thiết để con người duy trì cuộc sống ổn định và có khả năng phát triển.
Ở phương diện “giáo dân”, Phan Bội Châu coi trọng việc học, mở mang tri thức và tu dưỡng đạo đức. Từ góc độ đó, cách nhìn này có thể liên hệ với yêu cầu giáo dục toàn diện trong Luật Giáo dục năm 2019, trong đó giáo dục hướng đến phát triển con người về đạo đức, tri thức, văn hóa, sức khỏe, thẩm mỹ, nghề nghiệp, phẩm chất, năng lực và ý thức công dân; đồng thời, phát huy tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân, nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực và bồi dưỡng nhân tài.
Như vậy, giá trị tham chiếu của tư tưởng “dưỡng dân”, “giáo dân” không nằm ở việc đồng nhất các quan niệm của Phan Bội Châu với nội dung phát triển con người hiện nay, mà ở gợi mở về sự gắn kết giữa bảo đảm điều kiện sống với học tập, tu dưỡng và phát huy khả năng của con người. Đây là cơ sở để nhìn nhận phát triển con người như một quá trình vừa bảo đảm những điều kiện cần thiết cho cuộc sống, vừa tạo cơ hội để mỗi người học tập, rèn luyện, làm việc và phát huy khả năng của mình.
Một số giới hạn lịch sử và yêu cầu kế thừa có chọn lọc
Bên cạnh những giá trị tham chiếu, tư tưởng “dưỡng dân”, “giáo dân” của Phan Bội Châu cần được nhìn nhận trong giới hạn của điều kiện lịch sử và nền tảng tư tưởng mà nó được hình thành.
Trước hết, các quan niệm này vẫn được đặt trên nền tảng Nho giáo, gắn với tư tưởng “nhân trị”, “đức trị” và trách nhiệm của người cầm quyền đối với dân. Vì vậy, chăm lo dân sinh và giáo hóa dân chủ yếu được ông luận giải từ phương diện đạo trị nước và trách nhiệm của người cầm quyền, chưa gắn với các thiết chế và cơ chế bảo đảm quyền của người dân như hiện nay.
Thứ hai, dù đề cao vị trí của dân và nhấn mạnh lòng dân, ý dân, quan niệm về dân trong Khổng học đăng vẫn chưa đồng nhất với quan niệm về quyền con người, quyền công dân và quyền làm chủ của Nhân dân trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Vì vậy, “dưỡng dân”, “giáo dân” cần được nhìn nhận trong điều kiện lịch sử hình thành của tư tưởng này và không thể đồng nhất với một mô hình quản trị phát triển con người với điều kiện hiện nay.
Thứ ba, việc coi trọng “nhân trị”, “đức trị” trong tư tưởng Phan Bội Châu không thể thay thế vai trò của Hiến pháp, pháp luật và các cơ chế tổ chức, kiểm soát quyền lực nhà nước. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 nêu rõ: “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2022). Vì vậy, giá trị của tư tưởng Phan Bội Châu ở phương diện này chủ yếu nằm ở tinh thần coi trọng dân, trách nhiệm của người cầm quyền và hướng việc trị nước vào lợi ích chung, chứ không thay thế các nguyên tắc, thiết chế và cơ chế bảo đảm của Nhà nước pháp quyền.
Chính vì vậy, việc kế thừa tư tưởng “dưỡng dân”, “giáo dân” cần được thực hiện theo tinh thần chọn lọc, phù hợp với điều kiện lịch sử và yêu cầu phát triển của Việt Nam hiện nay. Nói cách khác, giá trị hiện thời của tư tưởng “dưỡng dân”, “giáo dân” không nằm ở việc áp dụng trực tiếp các nội dung của Nho giáo vào quản lý xã hội, mà ở những gợi mở về tinh thần coi trọng dân, chăm lo dân sinh, coi trọng việc học, mở mang tri thức và hướng hoạt động quản trị vào lợi ích chung. Việc phát huy những giá trị này cần được đặt trong khuôn khổ Nhà nước pháp quyền XHCN, gắn với bảo đảm quyền con người, quyền công dân và quyền làm chủ của Nhân dân.
4. Kết luận
Tư tưởng “dưỡng dân”, “giáo dân” trong Khổng học đăng phản ánh một phương diện đáng chú ý trong tư tưởng chính trị – xã hội của Phan Bội Châu, thể hiện qua cách ông đặt vấn đề chăm lo dân, giáo hóa dân trong mối quan hệ với trách nhiệm của người cầm quyền và sự hưng thịnh của đất nước. Trên cơ sở tiếp nhận và luận giải tư tưởng Khổng – Mạnh, gắn việc trị nước với chăm lo dân sinh, giáo hóa và lợi ích chung của quốc dân. Qua đó, “dưỡng dân” và “giáo dân” không tồn tại tách rời mà bổ sung cho nhau trong quan niệm của ông về đạo trị nước.
Đặt trong mối liên hệ với yêu cầu quản trị phát triển con người ở Việt Nam hiện nay, tư tưởng này có thể được tham chiếu ở phương diện coi trọng dân, gắn trách nhiệm của người cầm quyền với lợi ích của quốc dân và nhìn nhận mối quan hệ giữa chăm lo đời sống với giáo dục, tu dưỡng con người. Tuy nhiên, những giá trị này cần được phân biệt với nội dung và cơ chế của quản trị phát triển hiện nay. Tư tưởng “dưỡng dân”, “giáo dân” được hình thành trong điều kiện lịch sử đầu thế kỷ XX, trên nền tảng Nho giáo và gắn với tư tưởng “nhân trị”, “đức trị”; do đó, cần được nhìn nhận trong giới hạn lịch sử của nó và không thể đồng nhất với các quan niệm về quyền con người, quyền công dân và Nhà nước pháp quyền hiện nay.
Vì vậy, việc tiếp nhận tư tưởng “dưỡng dân”, “giáo dân” cần được thực hiện theo hướng kế thừa có chọn lọc, tập trung vào những giá trị phù hợp như tinh thần coi trọng dân, trách nhiệm của người cầm quyền, chăm lo dân sinh và hướng hoạt động quản trị vào lợi ích chung. Những giá trị này cần được đặt trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật, gắn với bảo đảm quyền con người, quyền công dân và quyền làm chủ của Nhân dân, phù hợp với yêu cầu quản trị phát triển ở Việt Nam hiện nay.
Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2022). Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Phan Bội Châu (2010). Khổng học đăng. Nxb Văn học.
Quốc hội (2013). Hiến pháp năm 2013.
Quốc hội (2019). Luật Giáo dục năm 2019 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Quốc hội (2025). Luật Việc làm năm 2025.
Nguyễn Thọ Đức (2013). Tìm hiểu xu hướng hiện đại hóa tư tưởng Nho giáo trong Khổng học đăng của Phan Bội Châu. Tạp chí Hán Nôm, số 6/2011.



