Ecological ethics education in farming families in the Mekong Delta in the context of international integration and digital transformation
ThS. Nguyễn Thị Thìn
Trường Đại học Đồng Tháp
Nghiên cứu sinh, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Email: ntthin@dthu.edu.vn
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết làm rõ nội dung, đặc trưng của giáo dục đạo đức sinh thái trong gia đình nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long và phân tích tác động hai chiều của hội nhập quốc tế, chuyển đổi số đối với quá trình này. Giáo dục đạo đức sinh thái được thực hiện thông qua sinh hoạt, lao động, sản xuất và nêu gương, tập trung vào bốn nội dung: sống hài hòa với tự nhiên; sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên; thực hiện trách nhiệm sinh thái trong sản xuất, đời sống; trách nhiệm với cộng đồng và các thế hệ tương lai. Hội nhập quốc tế mở rộng yêu cầu về sản xuất xanh, giảm phát thải và trách nhiệm xã hội; chuyển đổi số mở rộng khả năng tiếp cận tri thức nhưng đồng thời đòi hỏi năng lực chọn lọc, kiểm chứng thông tin. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất gắn giáo dục đạo đức sinh thái với sinh kế bền vững, kết hợp tri thức truyền thống với khoa học – công nghệ, tăng cường tương tác giữa các thế hệ và thúc đẩy chuyển hóa nhận thức, thái độ thành hành vi có trách nhiệm với môi trường.
Từ khóa: Giáo dục đạo đức sinh thái; gia đình nông dân; đồng bằng sông Cửu Long; hội nhập quốc tế; chuyển đổi số.
Abstract: This article clarifies the content and characteristics of ecological ethics education within farming households in the Mekong Delta and analyzes the positive and negative impacts of international integration and digital transformation on this process. Ecological ethics education is fostered through family life, labor, production activities, and role modeling, focusing on four core dimensions: living in harmony with nature; using natural resources rationally and efficiently; fulfilling ecological responsibilities in production and everyday life; and assuming responsibility toward the community and future generations. International integration has heightened requirements for green production, emissions reduction, and social responsibility, while digital transformation has expanded access to knowledge but simultaneously increased the need for the capacity to select and verify information. On this basis, the article proposes linking ecological ethics education with sustainable livelihoods, integrating traditional knowledge with science and technology, strengthening intergenerational interaction, and promoting the transformation of environmental awareness and attitudes into responsible environmental behavior.
Keywords: Ecological ethics education; farming families; Mekong Delta; international integration; digital transformation.
1. Đặt vấn đề
Cùng với phát triển kinh tế – xã hội, suy thoái môi trường và biến đổi khí hậu đang đặt ra những thách thức ngày càng rõ đối với chất lượng cuộc sống và phát triển bền vững. Vì vậy, bảo vệ môi trường không chỉ là yêu cầu về quản lý, pháp luật và công nghệ mà còn đòi hỏi hình thành ở mỗi cá nhân ý thức, thái độ và hành vi ứng xử có trách nhiệm với tự nhiên. Trong quá trình đó, giáo dục đạo đức sinh thái có ý nghĩa quan trọng, nhất là đối với thế hệ trẻ.
Giáo dục đạo đức sinh thái là quá trình lâu dài, cần sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội; trong đó, gia đình là môi trường đầu tiên hình thành nhân cách và các chuẩn mực ứng xử của mỗi cá nhân. Phạm Thị Ngọc Trầm (2005, tr. 29 – 34) cho rằng, giáo dục đạo đức và ứng xử trong gia đình có vai trò khởi đầu trong quá trình hình thành nhân cách trước khi cá nhân tham gia đời sống xã hội. Quan điểm này phù hợp với Chỉ thị số 06-CT/TW ngày 24/6/2021 của Ban Bí thư và Quyết định số 2238/QĐ-TTg ngày 30/12/2021 của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2030, trong đó nhấn mạnh vai trò của gia đình trong hình thành, nuôi dưỡng nhân cách và các giá trị đạo đức (Ban Bí thư, 2021; Thủ tướng Chính phủ, 2021). Đồng thời, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 xác định bảo vệ môi trường là quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình và cá nhân (Quốc hội, 2020). Những định hướng này cho thấy, giáo dục trách nhiệm đối với môi trường không chỉ thuộc phạm vi nhà trường hay xã hội mà cần được hình thành từ chính đời sống gia đình.
Đối với vùng đồng bằng sông Cửu Long, yêu cầu này càng có ý nghĩa do sinh kế của một bộ phận lớn dân cư gắn trực tiếp với đất, nước, hệ sinh thái và các hoạt động nông nghiệp. Theo Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 của Chính phủ, vùng đồng bằng sông Cửu Long đóng góp hơn 50% sản lượng lúa, 65% sản lượng thủy sản nuôi trồng và 70% sản lượng trái cây của cả nước (Chính phủ, 2017). Mối quan hệ mật thiết giữa sinh kế và các nguồn lực tự nhiên khiến cách thức sử dụng đất, nước, vật tư sản xuất và xử lý chất thải của mỗi hộ gia đình không chỉ tác động đến hiệu quả kinh tế mà còn ảnh hưởng đến chất lượng môi trường và khả năng duy trì sinh kế lâu dài. Vì vậy, giáo dục đạo đức sinh thái trong gia đình nông dân cần được tiếp cận từ sự thống nhất giữa lợi ích kinh tế, trách nhiệm môi trường và phát triển bền vững.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và chuyển đổi số, quá trình này đứng trước những điều kiện mới. Hội nhập mở rộng khả năng tiếp cận các phương thức sản xuất xanh, tiêu chuẩn môi trường và yêu cầu về trách nhiệm xã hội; chuyển đổi số tạo điều kiện tiếp nhận nhanh hơn tri thức về sản xuất, môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu, nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu về năng lực chọn lọc, kiểm chứng và chuyển hóa thông tin thành hành vi phù hợp. Đây là những yếu tố đang làm thay đổi cả nội dung, phương thức và quan hệ giữa các thế hệ trong giáo dục đạo đức sinh thái ở gia đình nông dân.
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, kết hợp phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hóa và nghiên cứu tài liệu, bài viết tập trung làm rõ nội dung, đặc trưng của giáo dục đạo đức sinh thái trong gia đình nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long; phân tích tác động của hội nhập quốc tế và chuyển đổi số; từ đó nhận diện những vấn đề đặt ra và đề xuất định hướng nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức sinh thái trong bối cảnh mới.
2. Nội dung và đặc trưng của giáo dục đạo đức sinh thái trong gia đình nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long
Trong gia đình nông dân, giáo dục đạo đức sinh thái mang những đặc điểm riêng. Gia đình vừa là thiết chế xã hội cơ bản thực hiện chức năng giáo dục, vừa là không gian sinh hoạt, vừa thực hiện hoạt động sản xuất. Bởi vậy, những giá trị và chuẩn mực sinh thái không chỉ được truyền đạt bằng lời nói mà còn thông qua hoạt động sử dụng đất, nước, chăm sóc cây trồng và vật nuôi, sử dụng vật tư nông nghiệp, xử lý chất thải và ứng xử với môi trường sống. Trẻ em và thế hệ trẻ tiếp nhận các giá trị đó thông qua các hoạt động thực tiễn sinh hoạt và sản xuất, như: quan sát, tham gia lao động, trải nghiệm và sự nêu gương của cha mẹ.
Giáo dục đạo đức sinh thái trong gia đình nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long có thể được hiểu là quá trình các thành viên và các thế hệ trong gia đình, thông qua sinh hoạt, lao động, sản xuất, nêu gương và truyền thụ kinh nghiệm, tác động lẫn nhau nhằm hình thành, củng cố và phát triển ý thức, thái độ, hành vi đúng đắn trong quan hệ với tự nhiên; qua đó, góp phần bảo vệ môi trường, sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo đảm sinh kế bền vững và lợi ích của các thế hệ hiện tại và tương lai.
2.1. Nội dung cơ bản của giáo dục đạo đức sinh thái trong gia đình nông dân đồng bằng sông Cửu Long
Việc giáo dục đạo đức sinh thái trong gia đình nông dân được hình thành từ thực tiễn cuộc sống, trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, gắn với đặc điểm sinh hoạt và hoạt động sản xuất của gia đình. Đối với gia đình nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long, việc giáo dục đạo đức sinh thái gắn chặt với đặc điểm sinh thái, sinh kế và văn hóa sông nước; sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng và khai thác thủy sản, sử dụng nguồn nước mặt, đất phù sa và hệ thống kênh rạch có quan hệ mật thiết với sinh kế của phần lớn hộ nông dân. Vì vậy, nội dung giáo dục đạo đức sinh thái trong gia đình phải gắn với chính những quan hệ sinh thái cụ thể trong đời sống hằng ngày của người dân.
Thứ nhất, giáo dục tình yêu, sự tôn trọng và ý thức sống hài hòa với tự nhiên. Trần Ngọc Thêm (2022, tr. 649) khẳng định: “Ý thức sống hòa hợp với tự nhiên vốn là một trong những đặc trưng của loại hình văn hóa gốc nông nghiệp sống phụ thuộc vào thiên nhiên”. Đây là nội dung nền tảng của giáo dục đạo đức sinh thái, bởi hành vi có trách nhiệm đối với môi trường chỉ có thể trở nên bền vững khi được xây dựng trên cơ sở tình cảm, thái độ và sự tôn trọng đối với tự nhiên. Đối với gia đình nông dân đồng bằng sông Cửu Long, nội dung này cần gắn với việc hình thành tình yêu đối với quê hương, ruộng đồng, sông nước; thái độ quý trọng đất đai, nguồn nước, cây trồng, vật nuôi và các nguồn lợi tự nhiên gắn bó trực tiếp với đời sống và sinh kế. Giáo dục các thành viên trong gia đình, nhất là thế hệ trẻ, không xem tự nhiên đơn thuần là đối tượng để khai thác phục vụ cuộc sống mà phải biết bảo vệ, phát triển và tôn trọng quy luật tự nhiên. Trong điều kiện biến đổi khí hậu, hạn hán, xâm nhập mặn và những biến động ngày càng phức tạp của môi trường ở đồng bằng sông Cửu Long, lối sống hài hòa với tự nhiên còn thể hiện ở khả năng chủ động thích ứng, điều chỉnh phương thức sinh hoạt và sản xuất phù hợp với điều kiện sinh thái thay vì chỉ tìm cách khai thác tối đa hoặc cải biến tự nhiên phục vụ lợi ích trước mắt.
Thứ hai, giáo dục ý thức sử dụng hợp lý, tiết kiệm và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Đất, nước và nguồn lợi sinh vật vừa là những yếu tố quan trọng trong hệ sinh thái vùng đồng bằng sông Cửu Long, vừa là những nguồn lực trực tiếp bảo đảm sinh kế của gia đình nông dân. Vì vậy, giáo dục đạo đức sinh thái cần hình thành ở các thành viên ý thức quý trọng, sử dụng tiết kiệm và có trách nhiệm đối với những nguồn tài nguyên này. Đối với nguồn nước, cần giáo dục ý thức tiết kiệm, giữ gìn chất lượng nước và không xem sông, kênh, rạch như nơi tiếp nhận vô hạn chất thải sinh hoạt và sản xuất. Đối với đất sản xuất, cần giáo dục trách nhiệm duy trì chất lượng và khả năng sản xuất lâu dài của đất, hạn chế những phương thức canh tác làm suy thoái đất. Đối với các loài tôm, cua, cá, cần hình thành thái độ không khai thác tận diệt, tôn trọng khả năng tái tạo của tự nhiên và bảo vệ đa dạng sinh học. Tiết kiệm và sử dụng hợp lý tài nguyên vì thế không chỉ là biện pháp giảm chi phí sản xuất mà phải được nâng lên thành một chuẩn mực đạo đức, thể hiện trách nhiệm của con người đối với những điều kiện tự nhiên bảo đảm sự tồn tại của chính mình và thế hệ sau. Trong thực tiễn, sức ép cạnh tranh và lợi ích kinh tế trước mắt cũng có thể dẫn đến khai thác tài nguyên hoặc sử dụng các yếu tố đầu vào chưa hợp lý. Vì vậy, giáo dục đạo đức sinh thái cần góp phần định hướng các thành viên hài hòa giữa lợi ích kinh tế với trách nhiệm đối với môi trường, cộng đồng và sinh kế lâu dài.
Thứ ba, giáo dục trách nhiệm sinh thái trong lao động, sản xuất và đời sống. Đối với người nông dân, quan hệ với tự nhiên chủ yếu được hiện thực hóa thông qua hoạt động sản xuất. Do đó, trách nhiệm sinh thái cần được thể hiện trong việc lựa chọn và thực hiện những hành vi sản xuất không chỉ bảo đảm hiệu quả kinh tế cho bản thân và gia đình mà còn hạn chế tác động bất lợi đến môi trường. Trong trồng trọt, đó là trách nhiệm sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và các vật tư đầu vào hợp lý; thu gom và xử lý bao bì, chất thải đúng cách; hạn chế những phương thức canh tác làm ô nhiễm đất và nước. Trong chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản, đó là ý thức sử dụng thức ăn, thuốc, hóa chất có trách nhiệm, xử lý chất thải và nước thải phù hợp, không chuyển hậu quả môi trường từ hoạt động sản xuất của gia đình sang cộng đồng. Trong khai thác tài nguyên thiên nhiên, không được khai thác theo kiểu trái phép, tận diệt. Trong sinh hoạt, trách nhiệm sinh thái được thể hiện qua tiết kiệm, hạn chế lãng phí, giảm chất thải, tái sử dụng và tận dụng hợp lý phụ phẩm. Giáo dục những hành vi này cần hướng đến việc giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế trước mắt và lợi ích sinh thái lâu dài, để người nông dân nhận thức rằng bảo vệ môi trường là bảo vệ nguồn sống của chính gia đình mình.
Thứ tư, giáo dục trách nhiệm đối với cộng đồng và các thế hệ tương lai. Đây là nội dung thể hiện sự mở rộng phạm vi trách nhiệm của đạo đức sinh thái từ cá nhân và gia đình đến cộng đồng xã hội và các thế hệ con cháu trong tương lai. Đặc trưng của hệ thống sông ngòi, kênh rạch và các hệ sinh thái ở đồng bằng sông Cửu Long làm cho hành vi môi trường của một cá nhân hay một hộ gia đình có thể ảnh hưởng đến các gia đình khác cũng như cộng đồng. Nước thải, hóa chất hoặc chất thải phát sinh từ một hoạt động sản xuất có thể không dừng lại trong phạm vi ruộng, vườn hay ao nuôi của một gia đình mà tác động đến nguồn nước và môi trường chung; trong khi đó, đặc trưng của người dân vùng đồng bằng sông Cửu Long là sử dụng nước kênh rạch và sông ngòi để phục vụ sinh hoạt. Vì vậy, giáo dục đạo đức sinh thái cần hình thành ý thức không vì lợi ích riêng mà gây tổn hại đến lợi ích môi trường của cộng đồng. Việc khai thác và sử dụng đất, nước, nguồn lợi thủy sản và các tài nguyên khác cần gắn với trách nhiệm của nhiều thế hệ. Người nông dân có quyền khai thác tự nhiên để bảo đảm cuộc sống và phát triển, nhưng không có quyền làm suy giảm những điều kiện sinh thái cần thiết cho cuộc sống của các thế hệ tương lai. Giáo dục trách nhiệm cộng đồng và trách nhiệm liên thế hệ vì thế góp phần mở rộng phạm vi của đạo đức gia đình, từ trách nhiệm đối với những người đang sống sang trách nhiệm đối với môi trường sống chung và sự phát triển bền vững lâu dài của vùng.
Có thể thấy, giáo dục đạo đức sinh thái trong gia đình nông dân đồng bằng sông Cửu Long không chỉ nhằm cung cấp những hiểu biết về môi trường mà quan trọng hơn là hình thành ý thức, thái độ và khả năng tự điều chỉnh hành vi của mỗi thành viên trong mối quan hệ với tự nhiên, phù hợp với đặc điểm sinh thái và yêu cầu phát triển bền vững của vùng.
2.2. Đặc trưng của giáo dục đạo đức sinh thái trong gia đình nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long
Giáo dục đạo đức sinh thái trong gia đình nông dân trước hết mang tính thực tiễn sâu sắc. Khác với giáo dục trong nhà trường được tổ chức tương đối hệ thống thông qua chương trình và hoạt động giáo dục, giáo dục trong gia đình chủ yếu diễn ra trong đời sống thường ngày, gắn trực tiếp với lao động sản xuất mưu sinh của người nông dân. Trên cơ sở đó, có thể khái quát bốn đặc trưng cơ bản như sau:
Một là, giáo dục đạo đức sinh thái gắn chặt với hoạt động sản xuất và sinh kế của gia đình. Đối với nông dân đồng bằng sông Cửu Long, đời sống và thu nhập phụ thuộc nhiều vào đất, nước, cây trồng, vật nuôi và các nguồn lợi tự nhiên. Vì vậy, việc giáo dục đạo đức sinh thái gắn liền với hoạt động sản xuất, thể hiện trong cách gia đình sử dụng tài nguyên, lựa chọn phương thức canh tác, chăm sóc cây trồng, vật nuôi và xử lý các vấn đề môi trường phát sinh trong quá trình sản xuất.
Hai là, giáo dục đạo đức sinh thái mang tính thực hành và trải nghiệm rõ nét. Quá trình giáo dục không chỉ diễn ra thông qua lời khuyên hay truyền đạt kiến thức mà chủ yếu được hình thành từ những sinh hoạt hằng ngày và hoạt động sản xuất của người nông dân. Thông qua việc quan sát, cùng tham gia lao động sản xuất và thực hiện các công việc của gia đình, thế hệ trẻ từng bước hình thành ý thức, thái độ và cách ứng xử với tự nhiên. Vì vậy, sự nêu gương và hành vi thực tế của ông bà, cha mẹ có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả giáo dục. Payne (2005), khi nghiên cứu về vai trò của gia đình và không gian sinh sống trong giáo dục môi trường cũng nhấn mạnh yếu tố “trải nghiệm chung” giữa các thành viên gia đình như một phương thức giáo dục môi trường đặc biệt hiệu quả.
Ba là, giáo dục đạo đức sinh thái trong gia đình nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long mang tính kế thừa. Những kinh nghiệm về sử dụng đất, nước, lựa chọn mùa vụ, chăm sóc cây trồng, vật nuôi và thích ứng với điều kiện tự nhiên thường được tích lũy và truyền lại giữa các thế hệ trong gia đình, từ ông bà, cha mẹ đến con cháu. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của khoa học, công nghệ và những yêu cầu mới của sản xuất bền vững, quá trình kế thừa này phải được bổ sung bằng những kiến thức và phương pháp mới. Qua đó, kinh nghiệm của thế hệ trước và tri thức mới của thế hệ trẻ có thể hỗ trợ, bổ sung cho nhau.
Bốn là, giáo dục đạo đức sinh thái chịu sự chi phối rõ nét của điều kiện sinh thái đặc thù vùng đồng bằng sông Cửu Long. Đặc trưng sông nước, hệ thống kênh rạch chằng chịt, đất đai rộng lớn, màu mỡ và nguồn lợi sinh vật tạo nên sự gắn bó mật thiết giữa đời sống người nông dân với tự nhiên. Đồng thời, những tác động ngày càng rõ của biến đổi khí hậu, hạn hán, xâm nhập mặn và sự thay đổi của phương thức sản xuất nông nghiệp đang đặt ra những yêu cầu mới đối với cách ứng xử với môi trường. Vì vậy, giáo dục đạo đức sinh thái trong gia đình cần vừa kế thừa những giá trị phù hợp trong kinh nghiệm sống của cư dân vùng sông nước, vừa hình thành ý thức, thái độ và hành vi thích ứng với những biến đổi của điều kiện tự nhiên và sản xuất hiện nay.
3. Tác động của hội nhập quốc tế và chuyển đổi số đến giáo dục đạo đức sinh thái trong gia đình nông dân đồng bằng sông Cửu Long
Thứ nhất, tác động của hội nhập quốc tế.
Là vùng sản xuất nông nghiệp lớn, nông sản đồng bằng sông Cửu Long ngày càng tham gia sâu vào thị trường khu vực và quốc tế. Việc sản xuất của người dân không chỉ chú trọng đến năng suất, chất lượng và lợi nhuận mà còn phải chú trọng sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm phát thải và bảo vệ môi trường. Cùng với xu hướng phát triển nông nghiệp xanh, sinh thái, tuần hoàn và thích ứng với biến đổi khí hậu, được cụ thể hóa trong Đề án phát triển bền vững một triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030 (Thủ tướng Chính phủ, 2023), việc tiết kiệm tài nguyên, sản xuất có trách nhiệm và bảo vệ môi trường ngày càng trở thành những nội dung cần thiết của giáo dục đạo đức sinh thái trong gia đình. Hội nhập quốc tế góp phần mở rộng nội dung và nâng cao yêu cầu đối với giáo dục đạo đức sinh thái trong gia đình nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long, giúp người dân có cái nhìn rộng và xa hơn về sản xuất nông nghiệp.
Bên cạnh việc kế thừa kinh nghiệm sinh thái truyền thống, hội nhập quốc tế tạo cho người nông dân cơ hội tiếp cận với kinh nghiệm sản xuất mới và các phương thức sản xuất hiện đại của các quốc gia phát triển. Điều này đòi hỏi gia đình vừa kế thừa những kinh nghiệm phù hợp trong sử dụng đất, nước và thích ứng với tự nhiên, vừa tiếp nhận kiến thức mới về sản xuất bền vững, các tiêu chuẩn quốc tế về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và trách nhiệm xã hội.
Thứ hai, tác động của chuyển đổi số.
Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 theo Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ đã mở rộng nguồn tri thức và phương thức tiếp nhận thông tin của gia đình nông dân (Thủ tướng Chính phủ, 2020). Thông qua internet, điện thoại thông minh, mạng xã hội và các nền tảng số, người nông dân có thêm điều kiện tiếp cận nhanh và kịp thời những thông tin về môi trường, thời tiết, kỹ thuật sản xuất, sử dụng tài nguyên và thích ứng với biến đổi khí hậu. Đồng thời, quan hệ giáo dục giữa các thế hệ cũng có sự thay đổi: bên cạnh việc ông bà, cha mẹ truyền lại kinh nghiệm thực tiễn, thế hệ trẻ có thể tiếp nhận tri thức khoa học, công nghệ mới và chia sẻ trở lại với các thành viên trong gia đình. Qua đó, giáo dục đạo đức sinh thái diễn ra theo hướng chia sẻ, bổ sung và học hỏi lẫn nhau giữa các thế hệ.
Tuy nhiên, các thông tin trên mạng xã hội hiện nay rất đa dạng và không phải lúc nào cũng có nguồn kiểm chứng rõ ràng, đòi hỏi người dùng phải biết lựa chọn, kiểm chứng và sử dụng thông tin phù hợp. Sự khác biệt về kỹ năng số giữa các thế hệ và những thông tin thiếu chính xác có thể ảnh hưởng đến quá trình tiếp nhận tri thức sinh thái. Vì vậy, chuyển đổi số có tác động hai mặt đến việc giáo dục đạo đức sinh thái trong gia đình nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long, vừa là cơ hội mở rộng tri thức và phương thức giáo dục, vừa là thách thức đối với năng lực phân biệt, chọn lọc và chuyển hóa thông tin thành các giá trị đạo đức thực chất.
4. Những vấn đề đặt ra và định hướng nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức sinh thái trong gia đình nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long
Một là, hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế trước mắt và trách nhiệm sinh thái lâu dài
Một trong những vấn đề cơ bản của giáo dục đạo đức sinh thái trong gia đình nông dân đồng bằng sông Cửu Long là giải quyết mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế trước mắt và trách nhiệm sinh thái lâu dài. Trong điều kiện cạnh tranh thị trường ngày càng gay gắt, sức ép về năng suất, chi phí và thu nhập có thể dẫn đến khai thác tài nguyên quá mức, sử dụng các yếu tố phục vụ sản xuất chưa hợp lý hoặc lựa chọn phương thức sản xuất gây bất lợi cho môi trường. Tuy nhiên, lợi ích kinh tế và trách nhiệm sinh thái không hoàn toàn đối lập, bởi sự suy giảm chất lượng đất, nước và hệ sinh thái về lâu dài sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến điều kiện sản xuất và sinh kế của người nông dân.
Do đó, giáo dục đạo đức sinh thái trong gia đình cần giúp các thành viên nhận thức lợi ích trong mối quan hệ lâu dài giữa gia đình, cộng đồng và môi trường, từ đó coi trách nhiệm sinh thái là một tiêu chí trong lựa chọn hành vi sản xuất. Việc sử dụng tiết kiệm tài nguyên, hạn chế ô nhiễm, giảm lãng phí vật tư và lựa chọn phương thức sản xuất phù hợp không chỉ góp phần bảo vệ môi trường mà còn bảo vệ điều kiện sản xuất và sinh kế bền vững của chính gia đình.
Hai là, kết hợp hài hòa kinh nghiệm sinh thái truyền thống với tri thức khoa học và công nghệ hiện đại
Gia đình nông dân đồng bằng sông Cửu Long là không gian quan trọng lưu giữ và truyền lại nhiều kinh nghiệm liên quan đến đất, nước, mùa vụ, cây trồng, vật nuôi và thích ứng với điều kiện tự nhiên. Những kinh nghiệm này được hình thành qua quá trình lao động lâu dài và có giá trị nhất định đối với việc giáo dục thái độ gắn bó, tôn trọng và thích nghi với tự nhiên.
Tuy nhiên, điều kiện tự nhiên và sản xuất hiện nay đang thay đổi nhanh chóng dưới tác động của biến đổi khí hậu, thị trường, khoa học – công nghệ và hội nhập quốc tế. Một số kinh nghiệm phù hợp trong điều kiện trước đây có thể không còn hoàn toàn thích hợp. Ngược lại, việc tuyệt đối hóa tri thức khoa học và công nghệ mới, xem nhẹ kinh nghiệm của các thế hệ đi trước cũng có thể làm đứt gãy những giá trị sinh thái đã được tích lũy trong đời sống cộng đồng.
Vì vậy, định hướng cần thiết là thực hiện kế thừa có chọn lọc và đổi mới trên cơ sở khoa học. Gia đình cần gìn giữ những kinh nghiệm phù hợp về tiết kiệm tài nguyên, thích nghi với điều kiện sông nước, sử dụng hợp lý các nguồn lợi tự nhiên; đồng thời chủ động tiếp nhận tri thức mới về biến đổi khí hậu, sản xuất xanh, kinh tế tuần hoàn, giảm phát thải và ứng dụng công nghệ trong quản lý sản xuất. Trong quá trình đó, truyền thống và hiện đại không nên được xem là hai hệ giá trị loại trừ nhau mà cần được đặt trong quan hệ bổ sung, kiểm chứng và phát triển lẫn nhau. Đây cũng là cơ sở để giáo dục đạo đức sinh thái vừa có tính kế thừa, vừa thích ứng với những yêu cầu mới của phát triển bền vững.
Ba là, đổi mới giáo dục một chiều sang giáo dục tương tác và tự giáo dục giữa các thế hệ
Sự phát triển của công nghệ số đang làm thay đổi quan hệ giáo dục trong gia đình nông dân. Nếu trước đây ông bà, cha mẹ chủ yếu truyền lại kinh nghiệm sống và sản xuất cho thế hệ trẻ, thì hiện nay con cái có điều kiện tiếp cận nhanh hơn với tri thức khoa học, công nghệ và thông tin mới. Vì vậy, vị trí chủ thể và đối tượng giáo dục trở nên linh hoạt hơn. Việc chỉ duy trì phương thức người lớn truyền dạy cho người trẻ sẽ chưa khai thác được nguồn tri thức mới, trong khi tuyệt đối hóa tri thức số lại có thể làm giảm vai trò của kinh nghiệm thực tiễn và sự kế thừa giữa các thế hệ.
Do đó, cần chuyển dần sang giáo dục đạo đức sinh thái mang tính tương tác và tự giáo dục giữa các thế hệ, kết hợp kinh nghiệm của ông bà, cha mẹ với tri thức khoa học, công nghệ và thông tin số của thế hệ trẻ. Thông qua trao đổi, bổ sung và kiểm chứng lẫn nhau, mỗi thành viên vừa là người tiếp nhận, vừa có thể tham gia vào quá trình giáo dục và tự giáo dục. Trong điều kiện đó, gia đình không chỉ truyền đạt tri thức mà còn có vai trò lựa chọn, kiểm chứng và chuyển hóa tri thức thành giá trị, chuẩn mực và cách ứng xử phù hợp với môi trường.
Bốn là, chuyển hoá nhận thức, thái độ và hành vi đạo đức sinh thái
Một trong những vấn đề quan trọng của giáo dục đạo đức sinh thái trong gia đình nông dân đồng bằng sông Cửu Long là bảo đảm sự thống nhất giữa ý thức, thái độ và hành vi. Tuy nhiên, sự chuyển hóa giữa các yếu tố này không diễn ra tự động. Người nông dân có thể nhận thức được sự cần thiết phải bảo vệ môi trường và có thái độ tích cực, nhưng hành vi thực tế vẫn có thể chưa phù hợp do tác động của lợi ích kinh tế, tập quán sản xuất và điều kiện thực tế. Tương tự, việc tiếp cận nhiều thông tin trong môi trường số cũng không đồng nghĩa với việc hình thành thái độ và hành vi có trách nhiệm.
Vì vậy, giáo dục đạo đức sinh thái trong gia đình cần tác động đồng bộ đến cả ba yếu tố: nâng cao ý thức, hình thành thái độ tích cực và thúc đẩy hành vi có trách nhiệm với môi trường. Nội dung giáo dục cần gắn với thực tiễn sinh hoạt và sản xuất, như: sử dụng hợp lý tài nguyên, vật tư đầu vào, xử lý chất thải và bảo vệ nguồn nước; đồng thời phát huy vai trò nêu gương của ông bà, cha mẹ. Qua thực tiễn, hành vi đúng đắn tiếp tục củng cố ý thức và thái độ, từng bước chuyển các chuẩn mực sinh thái thành nhu cầu tự giác và cách ứng xử thường xuyên của các thành viên trong gia đình.
5. Kết luận
Giáo dục đạo đức sinh thái trong gia đình nông dân đồng bằng sông Cửu Long có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành cách ứng xử có trách nhiệm của con người đối với tự nhiên, nhất là trong bối cảnh hội nhập quốc tế và chuyển đổi số đang tác động ngày càng sâu rộng đến đời sống và phương thức sản xuất nông nghiệp.
Với đặc thù hoạt động sản xuất gắn trực tiếp với đất, nước và các nguồn lợi tự nhiên, gia đình không chỉ là môi trường truyền thụ kinh nghiệm mà còn là không gian hình thành và phát triển ý thức, thái độ và hành vi đạo đức sinh thái của các thành viên. Việc giáo dục đạo đức sinh thái trong gia đình nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long gắn liền với hoạt động sản xuất và mang tính thực tiễn sâu sắc. Trong tiến trình hội nhập quốc tế và chuyển đổi số, quá trình này vừa được mở rộng cơ hội tiếp cận những giá trị, chuẩn mực và tri thức mới về sản xuất xanh, sử dụng hợp lý tài nguyên và phát triển bền vững; đồng thời, đòi hỏi phải giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế trước mắt và trách nhiệm sinh thái lâu dài; kết hợp kinh nghiệm sinh thái truyền thống với tri thức khoa học, công nghệ hiện đại; tăng cường tương tác và tự giáo dục giữa các thế hệ; bảo đảm sự thống nhất giữa ý thức, thái độ và hành vi đạo đức sinh thái.
Trong điều kiện mới, vai trò giáo dục của gia đình không giảm đi mà cần được đổi mới theo hướng cởi mở, tương tác và gắn chặt hơn với thực tiễn sản xuất, đời sống. Khi các giá trị và chuẩn mực sinh thái được chuyển hóa thành ý thức đúng đắn, thái độ tích cực và hành vi tự giác của mỗi thành viên, giáo dục đạo đức sinh thái trong gia đình sẽ góp phần hình thành lối sống và phương thức sản xuất có trách nhiệm với tự nhiên, cộng đồng và các thế hệ tương lai; qua đó, đóng góp vào sự phát triển bền vững của vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Tài liệu tham khảo:
Ban Bí thư (2021). Chỉ thị số 06-CT/TW ngày 24/6/2021 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác xây dựng gia đình trong tình hình mới.
Ban Chấp hành Trung ương (2022). Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 về hội nhập quốc tế trong tình hình mới.
Chính phủ (2017). Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 về phát triển bền vững đồng bằng sông cửu long thích ứng với biến đổi khí hậu.
Hoàng Bá Thịnh (2021). Biến đổi gia đình Việt Nam trong quá trình phát triển. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hoàng Thị Hiền (06/8/2025). Hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Tạp chí Chính trị và Phát triển. https://chinhtrivaphattrien.vn/he-gia-tri-quoc-gia-he-gia-tri-van-hoa-he-gia-tri-gia-dinh-con-nguoi-viet-nam-trong-ky-nguyen-moi-a9695.html
Mỹ Nhân (26/8/2025). Triển vọng từ mô hình “Người nông dân chuyên nghiệp” Báo Đồng Tháp. https://baodongthap.vn/trien-vong-tu-mo-hinh-nguoi-nong-dan-chuyen-nghiep-a124994.html
Phan Văn Phúc (2022). Tiếp cận Chuyển đổi sinh thái – xã hội lý thuyết liên ngành cho phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ. DOI:10.22144/ctu.jvn.2022.199
Payne, P. G (2005). Families, homes and environmental education. Australian Journal of Environmental Education, 21, 81 – 93. https://doi.org/10.1017/S0814062600000975
Payne, P. G (2010). Moral spaces, the struggle for an intergenerational environmental ethics and the social ecology of families: An “other” form of environmental education. Environmental Education Research, 16(2), 209 – 231. https://doi.org/10.1080/13504620903580545
Phạm Thị Ngọc Trầm (2005). Đạo đức sinh thái trong hoạt động khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường vì sự phát triển bền vững. Tạp chí Triết học, (12), 29 – 34.
Phạm Thị Ngọc Trầm (2009). Xây dựng đạo đức sinh thái – Một trách nhiệm xã hội của con người đối với tự nhiên. Tạp chí Triết học, (6), 10 – 17.
Quốc hội (2020). Luật Bảo vệ môi trường năm 2020
Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 2238/QĐ-TTg ngày 30/12/2021 phê duyệt Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2030.
Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 287/QĐ-TTg ngày 28/02/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch vùng đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Thủ tướng Chính phủ (2023). Quyết định số 1490/QĐ-TTg ngày 27/11/2023 phê duyệt Đề án Phát triển bền vững một triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030.
Trần Ngọc Thêm (2022). Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ. Nxb Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh.



