Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về công tác tiếp công dân trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

Factors affecting state management of citizen reception activities in Ho Chi Minh City

ThS. Lê Đức Hiền
Phân hiệu Học viện Hành chính và Quản trị công tại TP. Hồ Chí Minh
Email: hienld@apag.edu.vn

(Quanlynhanuoc.vn) – TP. Hồ Chí Minh là đô thị có quy mô dân số lớn, tốc độ đô thị hóa nhanh và không gian quản lý được mở rộng, hiệu quả quản lý nhà nước đối với công tác tiếp công dân chịu tác động tổng hợp của các yếu tố thuộc chủ thể, thể chế và môi trường quản lý. Trên cơ sở phân tích dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2014 – 2025 và kết quả khảo sát 385 cán bộ, công chức, bài viết đánh giá thực trạng 7 nhóm yếu tố ảnh hưởng, chỉ ra những điểm nghẽn về chia sẻ dữ liệu liên thông, kỹ năng ứng xử công vụ và áp lực từ các xung đột kinh tế – xã hội. Từ đó, đề xuất một số giải pháp trọng tâm nhằm chuyển từ tư duy “xử lý vụ việc” sang “quản trị nguyên nhân”, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tiếp công dân trong bối cảnh vận hành chính quyền địa phương hai cấp và đẩy mạnh chuyển đổi số

Từ khóa: TP. Hồ Chí Minh; tiếp công dân; quản lý nhà nước; yếu tố ảnh hưởng.

Abstract: Ho Chi Minh City is a metropolis characterized by a large population, rapid urbanization, and an expanding administrative space, where the effectiveness of state management regarding citizen reception is influenced by a combination of factors relating to management actors, institutions, and the management environment. Based on the analysis of secondary data from 2014 to 2025 and survey results from 385 civil servants and public officials, this article evaluates the current status of seven groups of influencing factors, highlighting key bottlenecks in inter-agency data sharing, public service communication skills, and pressures arising from socioeconomic conflicts. On this basis, key solutions are proposed to shift the paradigm from “case-by-case processing” to “root-cause governance,” thereby enhancing the efficiency and effectiveness of state management of citizen reception amidst the operation of the two-tier local government model and accelerated digital transformation.

Keywords: Ho Chi Minh City; citizen reception; state management; influencing factors.

1. Đặt vấn đề

Luật Tiếp công dân năm 2013 đã tạo lập cơ sở pháp lý tương đối toàn diện về trách nhiệm, cơ cấu tổ chức, địa điểm, trình tự của hoạt động tiếp công dân. Quá trình tổ chức thực hiện Luật Tiếp công dân hơn 10 năm qua cho thấy, thể chế là điều kiện cần nhưng chưa đủ. Hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước còn phụ thuộc vào trách nhiệm người đứng đầu, năng lực của cán bộ, công chức, khả năng phối hợp liên cơ quan, mức độ bảo đảm nguồn lực, sự thống nhất của pháp luật có liên quan, điều kiện kinh tế – xã hội và hành vi của công dân. Cách tiếp cận này phù hợp với quan điểm quản lý hiện đại cho rằng, kết quả quản lý được tạo nên từ sự tương tác giữa chủ thể, cấu trúc tổ chức, nguồn lực và môi trường thực thi (Drucker, 1973; Koontz & O’Donnell, 1978; Simon, 1997).

Đối với TP. Hồ Chí Minh, yêu cầu nhận diện các yếu tố ảnh hưởng càng trở nên cấp thiết. Đây là đô thị đặc biệt, có quy mô dân số rất lớn, tốc độ đô thị hóa cao, hoạt động đầu tư và phát triển hạ tầng diễn ra mạnh; đồng thời, thường xuyên phát sinh những quan hệ lợi ích phức tạp trong đất đai, quy hoạch, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và quản lý đô thị. Trong giai đoạn 2014 – 2025, các cơ quan hành chính trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh đã tổ chức tiếp 510.719 người, trong đó có 441.581 lượt tiếp công dân; tiếp nhận 398.469 đơn và xử lý 398.105 đơn, đạt tỷ lệ 99,91% (Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh, 2025a; Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh, 2026a).

Bài viết nhằm trả lời hai câu hỏi: (1) Những nhóm yếu tố nào đang ảnh hưởng đáng kể đến quản lý nhà nước đối với công tác tiếp công dân tại TP. Hồ Chí Minh; và (2) Từ các kết quả khảo sát có thể rút ra những vấn đề quản trị nào cần ưu tiên trong giai đoạn tổ chức chính quyền địa phương hai cấp và thúc đẩy chuyển đổi số. Trên cơ sở đó, bài viết không xem công tác tiếp công dân như một nghiệp vụ mang tính độc lập mà xem đó như một hệ thống phản hồi của quản trị địa phương.

2. Phương pháp nghiên cứu

Bài viết sử dụng kết hợp phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp và điều tra xã hội học bằng bảng hỏi. Tài liệu thứ cấp gồm các công trình về quản lý nhà nước, tiếp công dân; các văn bản pháp luật; báo cáo của UBND Thành phố Hồ Chí Minh và tài liệu quản lý có liên quan. Dữ liệu sơ cấp được thu thập từ 400 phiếu khảo sát, trong đó 385 phiếu hợp lệ, xử lý bằng phần mềm SPSS. Thang đo Likert 5 mức được sử dụng, từ 1 – hoàn toàn không đồng ý đến 5 – hoàn toàn đồng ý. Mẫu khảo sát bao gồm: cán bộ, công chức ở các vị trí có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến quản lý nhà nước đối với công tác tiếp công dân. Trong 385 người trả lời, 64 người là lãnh đạo, quản lý (16,7%); 143 người trực tiếp làm công tác tiếp công dân (37,1%); 128 công chức tham mưu (33,2%); 50 người thuộc lực lượng thanh tra nhà nước các cấp trước và sau ngày 01/7/2025 (13,0%). Về cơ quan công tác, mẫu được phân bố ở các sở, ban, ngành và chính quyền địa phương. Sau sắp xếp đơn vị hành chính, phạm vi khảo sát được bổ sung một số phường, xã thuộc địa bàn Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu trước đây nhằm phản ánh không gian quản lý mới của Thành phố.

Phân tích trong bài chủ yếu là thống kê mô tả đối với giá trị trung bình và độ lệch chuẩn của các biến quan sát, kết hợp đối chiếu với dữ liệu hành chính và phân tích định tính. Các giá trị trung bình trong bài được hiểu là mức độ đánh giá của người trả lời đối với từng nhận định, không phải hệ số nhân quả.

Bảng 1. Tổng hợp bảy nhóm yếu tố được khảo sát

Nhóm yếu tốSố biếnKhoảng giá trị trung bìnhBiến nổi bậtNhận định khái quát
Nhận thức và trách nhiệm người đứng đầu53,81-4,05Mức độ quan tâm: 4,05Nhận thức tích cực; khâu xử lý vụ việc phức tạp cần tăng tính kịp thời.
Chất lượng cán bộ, công chức73,68-3,77Trình độ chuyên môn: 3,77Chuyên môn tương đối tốt; kỹ năng giao tiếp, đối thoại và đạo đức công vụ còn dư địa cải thiện.
Cơ chế phối hợp53,78-4,01Phân loại, chuyển đơn: 4,01Phối hợp thủ tục khá tốt; chia sẻ thông tin là điểm nghẽn.
Điều kiện bảo đảm53,52-3,59Kinh phí: 3,59Hạ tầng cơ bản đáp ứng; công nghệ thông tin và liên thông dữ liệu còn hạn chế.
Hệ thống pháp luật53,70-3,74Hướng dẫn ban hành kịp thời: 3,74Được đánh giá khá tích cực nhưng tính thống nhất, thích ứng thực tiễn vẫn cần hoàn thiện.
Điều kiện kinh tế – xã hội44,09-4,21Đất đai, quy hoạch, bồi thường: 4,21Tạo áp lực nổi bật lên hệ thống tiếp công dân.
Nhận thức pháp luật và hợp tác của công dân53,54-3,58Mức độ hợp tác: 3,58Có chuyển biến nhưng chưa đồng đều; vụ việc vượt cấp, kéo dài vẫn gây áp lực.
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả khảo sát tháng 5/2026.

3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

3.1. Nhận thức và trách nhiệm của người đứng đầu

Kết quả khảo sát cho thấy, tiêu chí “người đứng đầu quan tâm đúng mức đến hoạt động tiếp công dân” đạt 4,05 điểm; thực hiện đầy đủ chế độ tiếp công dân định kỳ đạt 3,83 điểm; kịp thời chỉ đạo xử lý vụ việc phức tạp đạt 3,81 điểm; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc đạt 3,86 điểm; trách nhiệm đối với kết quả tiếp công dân được xác định rõ đạt 3,84 điểm. Cấu trúc điểm số cho thấy, nhận thức và sự quan tâm được đánh giá cao hơn năng lực chỉ đạo xử lý tình huống phức tạp. Đây là một chênh lệch có ý nghĩa về quản trị: thách thức hiện nay không nằm chủ yếu ở việc người đứng đầu có coi trọng tiếp công dân hay không mà ở khả năng chuyển sự quan tâm đó thành quyết định phối hợp và giải pháp xử lý có hiệu quả.

Đối với những vụ việc liên quan nhiều cơ quan, kéo dài qua nhiều thời kỳ hoặc gắn với đất đai, quy hoạch, bồi thường, người đứng đầu khó đạt kết quả tốt nếu chỉ thực hiện đúng lịch tiếp dân. Vai trò lãnh đạo phải thể hiện ở việc xác định rõ cơ quan chủ trì, thời hạn giải quyết, trách nhiệm phối hợp, cơ chế kiểm tra việc thực hiện kết luận sau tiếp dân và trách nhiệm cá nhân khi để vụ việc chậm kéo dài. Việc nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu là điều kiện quan trọng để hoạt động tiếp công dân đi vào thực chất (Nguyễn Ngọc Ánh, 2021;  Đỗ Văn Dương, 2020). Từ dữ liệu nghiên cứu có thể bổ sung tiêu chí đánh giá người đứng đầu: nên dịch chuyển từ “đã tiếp bao nhiêu buổi” sang “vụ việc sau tiếp đã được tháo gỡ đến đâu”.

3.2. Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức tiếp công dân

Kết quả khảo sát cho thấy, trình độ chuyên môn phù hợp đạt 3,77 điểm; nắm vững pháp luật về tiếp công dân đạt 3,75 điểm; tinh thần trách nhiệm đạt 3,72 điểm. Trong khi đó, kỹ năng giao tiếp hành chính đạt 3,69 điểm; kỹ năng đối thoại và xử lý tình huống cùng đạt 3,70 điểm; thực hiện chuẩn mực đạo đức công vụ đạt 3,68 điểm. Nhìn tổng thể, đội ngũ cơ bản đáp ứng yêu cầu, tuy nhiên, nhóm kỹ năng tương tác và hành vi công vụ có điểm thấp hơn nhóm trình độ chuyên môn. Điều này tương đồng với nhận định rằng “kỹ năng giao tiếp là một thành tố đặc thù, có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả tiếp dân” (Trần Thị Thanh Hà, 2012).

Từ góc độ quản lý nguồn nhân lực công, cách đào tạo chủ yếu theo văn bản và quy trình là chưa đủ. Công chức tiếp công dân cần một khung năng lực riêng gồm ít nhất năm thành phần: năng lực pháp lý; năng lực phân tích và phân loại vụ việc; năng lực đối thoại, thuyết phục và quản trị xung đột; năng lực khai thác dữ liệu và công nghệ; năng lực đạo đức, kiểm soát cảm xúc và trách nhiệm phục vụ. Khung này cần gắn với tuyển chọn, bố trí, đào tạo, đánh giá và luân chuyển vị trí việc làm, thay vì coi tiếp công dân là nhiệm vụ có thể giao luân phiên mà không tính đến yêu cầu nghề nghiệp chuyên biệt.

3.3. Cơ chế phối hợp giữa các cơ quan

Kết quả khảo sát cho thấy, việc phân loại, chuyển đơn giữa các cơ quan được thực hiện đúng quy định đạt 4,01 điểm (đạt cao nhất trong nhóm); phối hợp kịp thời đạt 3,92 điểm; theo dõi, đôn đốc đạt 3,84 điểm; cơ chế phối hợp hiện nay đáp ứng yêu cầu đạt 3,89 điểm. Đáng chú ý, công tác chia sẻ thông tin giữa các cơ quan chỉ đạt 3,78 điểm. Sự khác biệt này cho thấy một đặc trưng: phối hợp về thủ tục đang được đánh giá tốt hơn phối hợp về dữ liệu. Cơ quan có thể chuyển đúng đơn, đúng nơi nhưng nếu lịch sử vụ việc, tài liệu liên quan, kết quả xử lý trước đó và tiến độ hiện tại không được chia sẻ đầy đủ thì quy trình vẫn có nguy cơ phân mảnh. Cách phối hợp truyền thống dựa nhiều vào công văn và trao đổi vụ việc riêng lẻ phù hợp với quy mô quản lý nhỏ nhưng gặp giới hạn khi số lượng hồ sơ lớn và một vụ việc đi qua nhiều cơ quan. Trong bối cảnh đó, phối hợp hiệu quả cần được hiểu là hình thành một dòng dữ liệu liên tục: vụ việc có mã định danh thống nhất; cơ quan liên quan truy cập được thông tin theo thẩm quyền; mỗi bước xử lý được cập nhật; thời hạn và trách nhiệm được hiển thị; kết luận sau tiếp dân có thể được theo dõi đến khi hoàn thành.

3.4. Điều kiện bảo đảm cho hoạt động quản lý

Điều kiện bảo đảm gồm: cơ sở vật chất, trang thiết bị, kinh phí, công nghệ thông tin và cơ sở dữ liệu, có vai trò trực tiếp đối với khả năng tổ chức và vận hành hoạt động tiếp công dân. Kết quả khảo sát cho thấy, các tiêu chí của nhóm này đạt từ 3,52 – 3,59 điểm. Cụ thể, địa điểm, trụ sở tiếp công dân đạt 3,55 điểm; trang thiết bị 3,57 điểm; kinh phí 3,59 điểm; ứng dụng công nghệ thông tin 3,52 điểm; cơ sở dữ liệu 3,55 điểm. Điểm trung bình chung của nhóm khoảng 3,56/5 điểm.

Kết quả cho thấy, các điều kiện vật chất và kinh phí cơ bản đáp ứng yêu cầu, nhưng ứng dụng công nghệ thông tin có mức đánh giá thấp nhất. Điều này phản ánh sự hạn chế trong số hóa, liên thông và khai thác dữ liệu phục vụ quản lý. Vì vậy, TP. Hồ Chí Minh cần ưu tiên hoàn thiện hạ tầng số, cơ sở dữ liệu dùng chung và khả năng kết nối giữa các cơ quan, qua đó, nâng cao hiệu quả theo dõi, xử lý và kiểm soát tiến độ giải quyết vụ việc.

3.5. Hệ thống pháp luật về tiếp công dân

Các biến của nhóm pháp luật dao động từ 3,70 điểm – 3,74 điểm. Cụ thể, quy định pháp luật tương đối đầy đủ đạt 3,71 điểm; quy định rõ ràng, dễ áp dụng đạt 3,72 điểm; văn bản chỉ đạo, hướng dẫn được ban hành kịp thời đạt 3,74 điểm; mức độ thống nhất với pháp luật có liên quan đạt 3,70 điểm; sự phù hợp với thực tiễn TP. Hồ Chí Minh đạt 3,71 điểm. Mức điểm này cho thấy, kết quả đánh giá nhìn chung tích cực nhưng chưa ở ngưỡng rất cao. Hai nội dung cần chú ý là sự thống nhất liên ngành và khả năng thích ứng với đặc thù địa phương.

Phạm Thị Huệ (2023) và Nguyễn Văn Kim (2020) đều chỉ ra nhu cầu tiếp tục hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực hiện tiếp công dân trong điều kiện bộ máy, thẩm quyền thay đổi. Với TP. Hồ Chí Minh hiện nay, yêu cầu này gắn trực tiếp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Khi cấu trúc hành chính thay đổi, phải rà soát các quy trình chuyển đơn, phối hợp, báo cáo, theo dõi và xác định thẩm quyền để tránh việc quy định cũ còn mang dấu vết của mô hình có cấp huyện. Một hệ thống pháp luật tốt phải giúp người thực thi xác định nhanh ai chịu trách nhiệm và công dân biết rõ nơi nào có thẩm quyền.

3.6. Điều kiện kinh tế – xã hội của TP. Hồ Chí Minh

Trong bảy nhóm nghiên cứu, điều kiện kinh tế – xã hội có các biến được đánh giá cao nhất: quy mô dân số đông làm tăng áp lực đối với công tác tiếp công dân đạt 4,12 điểm; đô thị hóa nhanh làm phát sinh nhiều vụ việc khiếu nại, tố cáo đạt 4,16 điểm; sự phát triển kinh tế – xã hội đặt ra yêu cầu cao hơn đối với quản lý đạt 4,09 điểm; đặc biệt, các vấn đề về đất đai, quy hoạch, bồi thường tác động mạnh đến hoạt động tiếp công dân đạt 4,21 điểm. Các độ lệch chuẩn đạt từ 0,58 – 0,62 cho thấy, mức độ phân tán ý kiến tương đối thấp, thể hiện sự đồng thuận khá rõ trong mẫu khảo sát. Từ đó có thể rút ra một nhận định quan trọng: áp lực đối với công tác tiếp công dân không chỉ bắt nguồn từ bản thân hoạt động tiếp công dân mà là kết quả tích tụ của chất lượng quản lý đất đai, quy hoạch, đầu tư, xây dựng và bồi thường. Nếu chỉ tăng biên chế hoặc tăng lịch tiếp dân mà không xử lý nguyên nhân chính sách thì hệ thống chỉ được tăng năng lực hấp thụ xung đột chứ chưa làm giảm nguồn phát sinh xung đột. Đây là lý do cần chuyển từ tư duy “quản lý tiếp công dân” theo nghĩa hẹp sang sử dụng dữ liệu tiếp công dân như một thiết chế cảnh báo rủi ro quản trị.

3.7. Nhận thức pháp luật và sự hợp tác của công dân

Nhận thức pháp luật và sự hợp tác của công dân ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tiếp nhận, hướng dẫn và xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh. Giai đoạn 2014 – 2025, TP. Hồ Chí Minh đã tổ chức 3.207 lớp tuyên truyền pháp luật với 211.447 lượt người tham gia, góp phần nâng cao hiểu biết pháp luật của cán bộ và Nhân dân.

Theo kết quả khảo sát, các tiêu chí của nhóm này đạt từ 3,54 – 3,58 điểm. Người dân quan tâm đến quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh đạt 3,57 điểm; hiểu đúng quy định pháp luật 3,56 điểm; hợp tác với cơ quan nhà nước 3,58 điểm; cung cấp đầy đủ thông tin, tài liệu 3,54 điểm; tình trạng khiếu nại vượt cấp, kéo dài, đông người tiếp tục ảnh hưởng đến hiệu quả tiếp công dân ở mức 3,54 điểm. Kết quả này cho thấy, nhận thức và sự hợp tác của người dân đã có chuyển biến nhưng chưa thật sự đồng đều. Vì vậy, cần tiếp tục nâng cao chất lượng phổ biến pháp luật, hướng dẫn, đối thoại và cung cấp thông tin; đồng thời, tăng trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước nhằm hạn chế khiếu kiện vượt cấp, kéo dài.

4. Một số kiến nghị

Thứ nhất, chuyển từ xử lý vụ việc sang quản trị nguyên nhân. Kết quả nghiên cứu cho thấy, yếu tố kinh tế – xã hội, nhất là đất đai, quy hoạch và bồi thường có ảnh hưởng lớn đến quản lý nhà nước đối với công tác tiếp công dân. Điều này đòi hỏi công tác quản lý phải vượt khỏi tư duy xử lý từng hồ sơ đơn lẻ. Mỗi vụ việc cần được giải quyết theo thẩm quyền và phải được mã hóa thành dữ liệu về nguyên nhân, lĩnh vực và địa bàn. Khi số lượng phản ánh cùng loại vượt ngưỡng nhất định, cơ quan quản lý cần kích hoạt cơ chế rà soát chính sách hoặc kiểm tra chuyên đề.

Thứ hai, đổi mới cơ chế trách nhiệm của người đứng đầu. Trách nhiệm người đứng đầu cần gắn với đầu ra sau phiên tiếp công dân. Có thể nghiên cứu xây dựng bộ chỉ số đánh giá hiệu quả quản lý nhà nước đối với công tác tiếp công dân, trong đó có nội dung đánh giá về trách nhiệm của người đừng đầu gồm: tỷ lệ kết luận sau tiếp công dân được thực hiện đúng hạn; tỷ lệ vụ việc phức tạp có cơ quan chủ trì rõ; số vụ việc tái khiếu nại do chậm thực hiện; thời gian trung bình từ phiên tiếp đến quyết định xử lý; tỷ lệ kiến nghị liên ngành được phản hồi đúng hạn. Những chỉ số này tạo động lực để lãnh đạo chú trọng xử lý thực chất thay vì chủ yếu bảo đảm lịch tiếp công dân.

Thứ ba, phát triển khung năng lực vị trí việc làm tiếp công dân. Khung năng lực nên được thiết kế trên cơ sở công việc thực tế và mức độ phức tạp của vụ việc. Ngoài kiến thức pháp luật, cần đánh giá kỹ năng giao tiếp hành chính, đối thoại, phân tích bằng chứng, xử lý xung đột, sử dụng dữ liệu, bảo vệ thông tin cá nhân và đạo đức công vụ. Bồi dưỡng nên theo tình huống mô phỏng, sử dụng hồ sơ thực tế đã ẩn danh để công chức luyện tập cách đặt câu hỏi, xác định vấn đề cốt lõi và giải thích quyết định.

Thứ tư, xây dựng cơ sở dữ liệu liên thông và quản trị theo vòng đời vụ việc. Điểm thấp của biến chia sẻ thông tin và ứng dụng công nghệ cho thấy, đây là một nút thắt thực tế. TP. Hồ Chí Minh cần xây dựng mô hình quản lý theo vòng đời vụ việc, trong đó mỗi vụ việc có mã định danh duy nhất, lưu vết các lần tiếp công dân, đơn đã gửi, cơ quan đã xử lý, kết luận đã ban hành và kết quả thực hiện. Cơ quan liên quan truy cập dữ liệu theo thẩm quyền, hạn chế yêu cầu người dân cung cấp lại tài liệu đã có trong hệ thống.

Thứ năm, hoàn thiện pháp luật và quy trình phù hợp mô hình chính quyền hai cấp. Việc tổ chức chính quyền địa phương hai cấp tạo cơ hội rút ngắn quy trình hành chính nhưng cũng đặt ra nguy cơ khoảng trống hoặc chồng lấn thẩm quyền trong giai đoạn chuyển tiếp. Cần rà soát toàn bộ quy trình tiếp công dân, chuyển đơn, phối hợp và báo cáo để loại bỏ những khâu gắn với cấp hành chính không còn tồn tại; đồng thời, phân định rõ nhóm việc giải quyết tại cấp xã, nhóm việc chuyển cơ quan chuyên môn cấp Thành phố và cơ chế hỗ trợ nghiệp vụ cho cơ sở.

Thứ sáu, nâng cao chất lượng tương tác và sự tham gia của công dân. Tăng cường sự hợp tác của công dân phải bắt đầu từ chất lượng thông tin và cách thức phản hồi của cơ quan nhà nước. Cần chuẩn hóa thông báo về thẩm quyền, thời hạn, tình trạng hồ sơ và kết quả thực hiện; sử dụng ngôn ngữ hành chính rõ ràng, giảm thuật ngữ khó hiểu. Với vụ việc không thuộc thẩm quyền hoặc đã được giải quyết hết thẩm quyền, việc giải thích cần nêu rõ căn cứ và lựa chọn pháp lý còn lại để hạn chế tâm lý bị từ chối mà không hiểu lý do.

5. Kết luận

Quản lý nhà nước về tiếp công dân tại TP. Hồ Chí Minh chịu tác động của một hệ thống yếu tố có quan hệ chặt chẽ. Hướng giải pháp phù hợp là chuyển từ xử lý từng vụ việc sang quản trị nguyên nhân; đánh giá người đứng đầu bằng kết quả sau tiếp công dân; phát triển khung năng lực chuyên biệt; xây dựng dữ liệu liên thông theo vòng đời vụ việc; rà soát pháp luật, quy trình theo mô hình chính quyền hai cấp; cải thiện chất lượng thông tin dành cho công dân. Khi đó, tiếp công dân sẽ được nhìn nhận đúng như một thiết chế phản hồi của quản trị nhà nước, góp phần phát hiện bất cập, tăng trách nhiệm giải trình và nâng cao chất lượng phục vụ Nhân dân.

Tài liệu tham khảo:
Drucker, P. F. (1973). Management: Tasks, responsibilities, practices. Harper & Row.|
Frederickson, G. H. (1997). The spirit of public administration. Jossey-Bass.
Koontz, H., & O’Donnell, C. (1978). Essentials of management. McGraw-Hill.
Simon, H. A. (1997). Administrative behavior: A study of decision-making processes in administrative organizations (4th ed.). Free Press.
Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (2025). Báo cáo số 41/BC-UBND ngày 30/01/2025 tổng kết 10 năm thực hiện Luật Tiếp công dân.
Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (2026). Báo cáo số 03/BC-UBND ngày 10/01/2026 về kết quả công tác thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo năm 2025 trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh