Role transformation and digital competency requirements of chairmen of commune-level people’s committees in Ho Chi Minh City
ThS. Hồ Quốc Tịnh
Phân hiệu Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh
Email: hoquoctinh.vya2@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Việc vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và chuyển đổi số không chỉ làm tăng khối lượng nhiệm vụ mà còn tái cấu trúc vai trò của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã. Bài viết phân tích cơ chế: tái phân bổ thẩm quyền và trách nhiệm làm biến đổi đặc điểm vai trò công việc; từ đó phát sinh các yêu cầu năng lực số tương ứng. Trên cơ sở phân tích pháp luật, tổng quan tích hợp nghiên cứu trong và ngoài nước và dữ liệu thứ cấp của TP. Hồ Chí Minh, bài viết nhận diện năm chiều biến đổi vai trò và đề xuất sáu nhóm năng lực số của người đứng đầu chính quyền cấp xã. Kết quả cho thấy năng lực số cần được xác định từ thẩm quyền, quyết định và trách nhiệm của vị trí việc làm, thay vì đồng nhất với kỹ năng sử dụng công nghệ phổ thông.
Từ khóa: Biến đổi vai trò; năng lực số; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã; phân cấp, phân quyền; TP. Hồ Chí Minh.
Abstract: The operation of the two-tier local government model, together with the promotion of decentralization, delegation of authority, and digital transformation, not only increases the volume of tasks but also restructures the role of the Chairperson of the People’s Committee at the commune level. This article analyzes the underlying mechanism whereby the redistribution of authority and responsibility transforms the characteristics of the job role, thereby generating corresponding digital competency requirements. Based on an analysis of the legal framework, an integrative review of domestic and international studies, and secondary data from Ho Chi Minh City, the article identifies five dimensions of role transformation and proposes six groups of digital competencies required of heads of commune-level governments. The findings indicate that digital competencies should be defined based on the authority, decision-making responsibilities, and accountabilities associated with the position, rather than being equated with general technology-use skills.
Keywords: Role transformation; digital competencies; Chairperson of the People’s Committee at the commune level; decentralization and delegation of authority; Ho Chi Minh City.
1. Đặt vấn đề
Từ ngày 01/7/2025, mô hình chính quyền địa phương hai cấp chính thức vận hành, kéo theo sự điều chỉnh đáng kể về phân công thẩm quyền và trách nhiệm giữa cấp tỉnh và cấp xã. Trong cấu trúc mới, Chủ tịch UBND cấp xã không chỉ lãnh đạo, điều hành hoạt động của chính quyền cơ sở mà còn trực tiếp tổ chức thực hiện nhiều nhiệm vụ được phân cấp, ủy quyền trong điều kiện quản trị ngày càng dựa trên dữ liệu, nền tảng số và quy trình liên thông. Vì vậy, thay đổi thể chế không đơn thuần làm tăng khối lượng công việc mà còn làm biến đổi phạm vi vai trò, quyền quyết định, mức độ phức tạp của nhiệm vụ và trách nhiệm giải trình của người đứng đầu chính quyền cấp xã (Nguyễn Bá Chiến, 2026; Trần Thái Hà, 2026).
Sự chuyển đổi này thể hiện rõ tại TP. Hồ Chí Minh, nơi sau sắp xếp có 168 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 113 phường, 54 xã và 01 đặc khu (Ủy ban Thường vụ Quốc hội, 2025). Cùng với quá trình phân cấp, ủy quyền mạnh hơn cho cấp xã, phương thức quản lý và cung ứng dịch vụ công cũng chuyển nhanh sang môi trường số. Điều đó đặt ra yêu cầu đối với Chủ tịch UBND cấp xã không chỉ ở khả năng sử dụng công nghệ, mà quan trọng hơn là năng lực khai thác dữ liệu, ra quyết định, tổ chức thực thi, phối hợp, kiểm soát rủi ro và thực hiện trách nhiệm giải trình trên môi trường số (Hội đồng nhân dân TP. Hồ Chí Minh, 2026).
Các nghiên cứu về năng lực của Chủ tịch UBND cấp xã và năng lực số của cán bộ, công chức đã cung cấp những nền tảng quan trọng. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa sự biến đổi vai trò của Chủ tịch UBND cấp xã và những yêu cầu năng lực số tương ứng vẫn chưa được làm rõ đầy đủ. Bài viết tập trung phân tích mối quan hệ này theo logic: thay đổi thẩm quyền và trách nhiệm dẫn đến biến đổi vai trò công việc và hình thành những yêu cầu mới về năng lực số, qua đó đề xuất các yêu cầu năng lực phù hợp đối với Chủ tịch UBND cấp xã tại TP. Hồ Chí Minh (Hà Thị Thoa, 2020; Phan Thị Tuyết Minh, 2021; Nguyễn Thị Thu Vân, 2022; Phạm Thị Hằng & Nguyễn Thị Nghị, 2026; Hoàng Văn Hoan và cộng sự, 2026; Lê Huỳnh Lai, 2026).
2. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Năng lực được hiểu là tổng hợp những kiến thức, kỹ năng và khả năng giúp cá nhân thực hiện công việc có hiệu quả, không chỉ được phản ánh qua bằng cấp hay các phẩm chất chung (McClelland, 1973; Boyatzis, 1982). Trong quản trị nhân lực, năng lực cần được xác định gắn với vị trí việc làm, hành vi thực hiện và kết quả công việc có thể quan sát, đánh giá (Campion và cộng sự, 2011). Cách tiếp cận này phù hợp với yêu cầu quản lý công chức theo vị trí việc làm ở Việt Nam, trong đó năng lực là căn cứ cho bố trí, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng và đánh giá công chức (Trần Thị Thu & Vũ Hoàng Ngân, 2013; Phạm Đức Toàn & Đào Thị Thanh Thủy, 2021; Quách Thị Minh Phượng, 2023).
Các nghiên cứu về đặc điểm công việc cho thấy, khi phạm vi nhiệm vụ, quyền chủ động, mức độ phức tạp, yêu cầu xử lý thông tin và quan hệ phối hợp thay đổi thì yêu cầu về năng lực cũng thay đổi tương ứng (Morgeson & Humphrey, 2006; Parker, 2014). Vì vậy, năng lực số của Chủ tịch UBND cấp xã không nên hiểu đơn giản là khả năng sử dụng phần mềm hay công nghệ, mà phải được xác định từ chính sự thay đổi của chức trách, thẩm quyền và phương thức thực thi công vụ trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Các khung năng lực số hiện nay thường tập trung vào những nhóm năng lực cơ bản như khai thác thông tin và dữ liệu; giao tiếp, phối hợp trên môi trường số; tạo lập nội dung số; bảo đảm an toàn và giải quyết vấn đề bằng công nghệ. Ở Việt Nam, Quyết định số 757/QĐ-BKHCN năm 2025 và Bộ học liệu về kiến thức, kỹ năng số được phê chuẩn năm 2026 tiếp tục cụ thể hóa các yêu cầu về chuyển đổi số, công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu và an toàn số (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025; Ủy ban Thường vụ Quốc hội, 2026). Tuy nhiên, đối với Chủ tịch UBND cấp xã, yêu cầu cần được đặt ở mức cao hơn, đó là khả năng lãnh đạo, ra quyết định và tổ chức thực thi thẩm quyền trong môi trường số (Vuorikari, Kluzer & Punie, 2022; Đỗ Văn Hùng, 2022; Nguyễn Thị Thu Vân, 2022; OECD, 2021).
Bài viết xem sự biến đổi vai trò công việc là mắt xích nối giữa thay đổi thể chế và yêu cầu năng lực số, tập trung vào năm phương diện: phạm vi vai trò, quyền chủ động trong quyết định, mức độ phức tạp của nhiệm vụ, yêu cầu phối hợp và trách nhiệm giải trình. Bài viết sử dụng phương pháp phân tích văn bản pháp luật, chính sách; tổng hợp các nghiên cứu trong nước và quốc tế; đồng thời khai thác dữ liệu thứ cấp từ các nguồn chính thức của TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2025-2026 để làm rõ mối quan hệ giữa biến đổi vai trò và yêu cầu năng lực số của Chủ tịch UBND cấp xã.
3. Biến đổi vai trò của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tại TP. Hồ Chí Minh
Việc vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp và đẩy mạnh phân cấp, phân quyền không chỉ làm thay đổi số lượng nhiệm vụ của cấp xã mà sâu hơn là làm thay đổi cách thức Chủ tịch UBND cấp xã thực hiện vai trò lãnh đạo, điều hành. Tại TP. Hồ Chí Minh, sự biến đổi này có thể nhận diện trên năm phương diện chủ yếu:
Thứ nhất, phạm vi vai trò được mở rộng.
Khi cấp huyện kết thúc hoạt động, cấp xã trực tiếp tiếp nhận và tổ chức thực hiện nhiều nhiệm vụ trước đây được thực hiện ở tầng trung gian. Chủ tịch UBND cấp xã vì vậy phải bao quát phạm vi công việc rộng hơn, từ phát triển kinh tế – xã hội, đất đai, xây dựng, môi trường đến an sinh, dịch vụ công, chuyển đổi số và xử lý các vấn đề phát sinh trên địa bàn. Một số thẩm quyền chuyên ngành cũng được chuyển trực tiếp cho cấp xã, làm cho vai trò của người đứng đầu ngày càng mang tính đa lĩnh vực và gắn chặt hơn với kết quả quản trị tại cơ sở (Phan Hải Hồ, 2025).
Thứ hai, quyền chủ động trong quyết định gắn với trách nhiệm cá nhân được tăng cường.
Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 mở rộng không gian thực thi của Chủ tịch UBND cấp xã thông qua cơ chế phân cấp, ủy quyền và quy định trách nhiệm của người đứng đầu (Quốc hội, 2025). Khi quyền quyết định được mở rộng, vai trò của Chủ tịch không còn chủ yếu là tổ chức thực hiện những chỉ đạo đã được xác định sẵn mà ngày càng phải lựa chọn phương án, cân nhắc lợi ích, rủi ro, nguồn lực và chịu trách nhiệm về kết quả. Điều này làm gia tăng yêu cầu về khả năng sử dụng thông tin và dữ liệu như một căn cứ cho quyết định, đồng thời đòi hỏi người đứng đầu nhận diện rõ giới hạn pháp lý của thẩm quyền được giao.
Thứ ba, mức độ phức tạp của nhiệm vụ và yêu cầu xử lý thông tin gia tăng.
Trong cùng một thời điểm, Chủ tịch UBND cấp xã phải theo dõi và xử lý nhiều vấn đề có tính chất khác nhau, trong khi mỗi vấn đề lại có thể liên quan đến nhiều cơ quan, nhiều nguồn dữ liệu và nhiều nhóm lợi ích. Phương thức điều hành chủ yếu dựa vào báo cáo định kỳ hoặc kinh nghiệm cá nhân vì vậy ngày càng bộc lộ giới hạn. Người đứng đầu phải biết xác định vấn đề từ dữ liệu, kiểm chứng thông tin, nhận diện xu hướng, đánh giá rủi ro và ra quyết định trong những tình huống thông tin chưa đầy đủ. Đây là biểu hiện rõ của sự chuyển dịch từ quản lý công việc theo quy trình sang quản trị vấn đề dựa nhiều hơn vào dữ liệu và bằng chứng.
Thứ tư, yêu cầu phối hợp ngày càng cao.
Việc giảm một tầng hành chính trung gian làm cho cấp xã phải làm việc trực tiếp với các sở, ngành, các đơn vị cấp xã khác, cơ quan chuyên môn và các chủ thể ngoài khu vực nhà nước. Trong môi trường số, phối hợp không chỉ là trao đổi văn bản mà còn bao gồm chia sẻ dữ liệu, luân chuyển hồ sơ điện tử, đồng bộ tiến độ và xử lý công việc trên các nền tảng dùng chung. Do đó, vai trò của Chủ tịch UBND cấp xã chuyển dần từ điều hành nội bộ sang điều phối một mạng lưới thực thi có sự tham gia của nhiều chủ thể, trong đó khả năng kết nối con người, quy trình và dữ liệu trở thành yêu cầu quan trọng.
Thứ năm, trách nhiệm giải trình trở nên trực tiếp và rõ nét hơn.
Việc mở rộng thẩm quyền luôn đi cùng yêu cầu kiểm soát trách nhiệm. Trong môi trường số, tiến độ xử lý, thời hạn, người thực hiện, quyết định và phản hồi đều có thể được ghi nhận và truy vết. Điều đó làm cho trách nhiệm của Chủ tịch UBND cấp xã không chỉ dừng ở việc bảo đảm quyết định đúng thẩm quyền và đúng quy định, mà còn phải giải thích được căn cứ của quyết định, bảo đảm việc sử dụng dữ liệu hợp pháp và chịu trách nhiệm đối với toàn bộ quá trình tổ chức thực hiện. Yêu cầu rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền mà TP. Hồ Chí Minh đang thúc đẩy càng làm rõ xu hướng này (Hội đồng nhân dân TP. Hồ Chí Minh, 2026).
Như vậy, sự thay đổi không chỉ thể hiện ở việc Chủ tịch UBND cấp xã có thêm nhiệm vụ, mà quan trọng hơn là cấu trúc vai trò đã thay đổi: phạm vi quản lý rộng hơn, quyền quyết định lớn hơn, nhiệm vụ phức tạp hơn, quan hệ phối hợp trực tiếp hơn và trách nhiệm giải trình cao hơn. Khi những biến đổi này diễn ra trong môi trường công vụ ngày càng số hóa, dữ liệu hóa và liên thông, năng lực số không còn là kỹ năng hỗ trợ bên ngoài mà trở thành một bộ phận trực tiếp của năng lực lãnh đạo và thực thi thẩm quyền. Từ đó đặt ra yêu cầu phải xác định lại những năng lực số phù hợp với vị trí Chủ tịch UBND cấp xã.
4. Yêu cầu năng lực số của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã
Khung kiến thức, kỹ năng số cơ bản năm 2025 và Bộ học liệu được phê chuẩn năm 2026 đã tạo nền tảng quan trọng về chuyển đổi số, công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu, hợp tác và an toàn số (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025; Ủy ban Thường vụ Quốc hội, 2026). Tuy nhiên, đối với Chủ tịch UBND cấp xã, những nội dung này cần được phát triển lên cấp độ năng lực lãnh đạo gắn với thẩm quyền và trách nhiệm của người đứng đầu.
Một là, năng lực phán đoán pháp lý trong môi trường số và kiểm soát rủi ro thẩm quyền.
Chủ tịch UBND cấp xã phải xác định đúng đâu là thẩm quyền cá nhân, đâu là thẩm quyền của tập thể UBND, nhiệm vụ nào được phân cấp, ủy quyền và trường hợp nào cần báo cáo hoặc xin ý kiến. Trong môi trường số, yêu cầu này còn liên quan đến quyền truy cập dữ liệu, ký số, chia sẻ thông tin, sử dụng công cụ trí tuệ nhân tạo và trách nhiệm đối với kết quả do công nghệ hỗ trợ. Vì vậy, năng lực quan trọng không chỉ là biết quy định mà là biết vận dụng quy định vào tình huống cụ thể, nhận diện rủi ro và lựa chọn phương án vừa hợp pháp, vừa hợp lý, vừa có thể giải trình.
Hai là, năng lực quản trị dữ liệu và ra quyết định dựa trên bằng chứng.
Chủ tịch UBND cấp xã không cần trở thành chuyên gia phân tích dữ liệu, nhưng phải biết mình cần loại dữ liệu nào, dữ liệu đó đến từ đâu, mức độ tin cậy ra sao và có thể sử dụng đến đâu trong quá trình ra quyết định. Người đứng đầu cần biết đọc các chỉ số quản trị, đối chiếu nhiều nguồn thông tin, nhận diện dữ liệu bất thường và sử dụng các công cụ phân tích hoặc trí tuệ nhân tạo như phương tiện hỗ trợ. Cốt lõi của năng lực này là giữ được quyền phán đoán của người có thẩm quyền: dữ liệu hỗ trợ quyết định nhưng không tự thay thế quyết định; công nghệ hỗ trợ con người nhưng không thay thế trách nhiệm hành chính.
Ba là, năng lực lãnh đạo, điều hành và phối hợp trên môi trường số.
Người đứng đầu cần tổ chức công việc thông qua hệ thống quản lý văn bản, hồ sơ điện tử, nền tảng giao việc và các hệ thống chuyên ngành; đồng thời theo dõi tiến độ, phát hiện điểm nghẽn và điều phối công việc giữa nhiều đơn vị. Năng lực lãnh đạo số vì vậy không nằm ở việc tự thao tác mọi phần mềm, mà ở khả năng sử dụng hệ thống số để tổ chức công việc, kiểm soát quá trình thực hiện và làm rõ trách nhiệm của từng chủ thể trong toàn bộ chuỗi xử lý.
Bốn là, năng lực lãnh đạo cung ứng dịch vụ công số và tương tác số với người dân, doanh nghiệp.
Chất lượng chuyển đổi số không thể chỉ được đo bằng số lượng hồ sơ trực tuyến. Chủ tịch UBND cấp xã cần biết khai thác dữ liệu về thời gian giải quyết, hồ sơ bổ sung, phản ánh – kiến nghị, mức độ hài lòng và đặc điểm người sử dụng để cải tiến quy trình và bố trí nguồn lực. Đồng thời, cần tổ chức hỗ trợ những nhóm còn hạn chế khả năng tiếp cận công nghệ, bảo đảm quá trình số hóa không làm phát sinh một khoảng cách hành chính mới giữa chính quyền và người dân.
Năm là, năng lực bảo đảm an toàn, bảo vệ dữ liệu và sử dụng trí tuệ nhân tạo có trách nhiệm.
Số hóa càng sâu thì rủi ro về lộ lọt thông tin, truy cập trái phép, dữ liệu sai lệch, phụ thuộc công nghệ và quyết định thiếu minh bạch càng lớn. Chủ tịch UBND cấp xã cần biết tổ chức phân quyền truy cập, bảo vệ dữ liệu cá nhân, bí mật nhà nước, chỉ đạo xử lý sự cố và kiểm soát việc sử dụng công nghệ mới. Đối với trí tuệ nhân tạo, yêu cầu đặt ra không phải là sử dụng càng nhiều càng tốt, mà là biết giới hạn sử dụng, kiểm chứng đầu ra, đánh giá nguy cơ sai lệch và xác định rõ trách nhiệm của con người trong quyết định cuối cùng.
Sáu là, năng lực dẫn dắt chuyển đổi số, đổi mới và phát triển đội ngũ.
Chuyển đổi số không thể phụ thuộc vào một số cá nhân thành thạo kỹ thuật. Chủ tịch UBND cấp xã phải xác lập được ưu tiên chuyển đổi số, phân bổ nguồn lực, tạo điều kiện cho phối hợp, khuyến khích học tập, thử nghiệm có kiểm soát và phát triển năng lực số cho đội ngũ. Đây là điểm phân biệt giữa người biết sử dụng công nghệ và người lãnh đạo chuyển đổi số: công nghệ phải được chuyển hóa thành thay đổi về cách tổ chức công việc, chất lượng quyết định và hiệu quả phục vụ (Hồ Quốc Tịnh, 2026).
Sáu nhóm năng lực trên có quan hệ chặt chẽ và hỗ trợ lẫn nhau. Một quyết định dựa trên dữ liệu đồng thời đòi hỏi phán đoán pháp lý, khả năng kiểm chứng thông tin, bảo vệ dữ liệu và trách nhiệm giải trình; tương tự, điều hành trên môi trường số luôn gắn với phối hợp, quản trị quy trình và dẫn dắt đội ngũ. Vì vậy, vấn đề không dừng ở việc xác định cần những năng lực nào, mà cần làm rõ các năng lực này được hình thành từ những biến đổi nào của vai trò công việc và được cấu trúc ra sao thành một khung thống nhất.
5. Khung liên kết giữa biến đổi vai trò và yêu cầu năng lực số
Từ các phân tích trên có thể thấy, giữa biến đổi vai trò và yêu cầu năng lực số không tồn tại quan hệ một – một, mà là quan hệ nhiều chiều. Một thay đổi trong vai trò có thể đồng thời làm phát sinh nhiều yêu cầu năng lực; ngược lại, một nhóm năng lực có thể đáp ứng nhiều yêu cầu khác nhau của công việc. Vì vậy, khung năng lực số của Chủ tịch UBND cấp xã cần được xây dựng theo mạch: đặc điểm vai trò – yêu cầu năng lực – biểu hiện hành vi – mức độ thành thạo.
Trên cơ sở đó, năng lực số đối với Chủ tịch UBND cấp xã cần là: phán đoán pháp lý trong môi trường số và kiểm soát rủi ro thẩm quyền; quản trị dữ liệu và ra quyết định dựa trên bằng chứng; lãnh đạo, điều hành và phối hợp trên môi trường số; lãnh đạo cung ứng dịch vụ công số và tương tác số; bảo đảm an toàn, bảo vệ dữ liệu và sử dụng trí tuệ nhân tạo có trách nhiệm; dẫn dắt chuyển đổi số, đổi mới và phát triển đội ngũ. Các năng lực này có thể được phân theo bốn mức độ: nhận biết và tuân thủ; vận dụng độc lập; tích hợp và điều phối; dẫn dắt và đổi mới. Với vị trí Chủ tịch UBND cấp xã, những năng lực gắn với quyết định, điều phối và lãnh đạo cần chủ yếu hướng tới các mức độ cao hơn.
Đối với TP. Hồ Chí Minh, khung năng lực nên được tổ chức theo hai tầng. Tầng thứ nhất là năng lực cốt lõi áp dụng chung cho chức danh Chủ tịch UBND cấp xã. Tầng thứ hai là những biểu hiện đặc thù theo loại địa bàn và nhiệm vụ: phường gắn nhiều hơn với quản trị đô thị và khối lượng giao dịch lớn; xã gắn nhiều hơn với đất đai, tài nguyên và không gian phát triển; đặc khu có những yêu cầu riêng về hạ tầng, tính liên tục của dịch vụ và khả năng ứng phó với điều kiện đặc thù. Đồng thời, cần phân biệt rõ mức độ năng lực mà vị trí việc làm yêu cầu với mức độ năng lực mà cá nhân hiện có. Sự phân biệt này là cơ sở để xác định khoảng cách năng lực, lựa chọn nội dung bồi dưỡng và đánh giá đúng mức độ đáp ứng của người giữ chức danh.
Như vậy, năng lực số của Chủ tịch UBND cấp xã không phải là một nhóm kỹ năng tách rời khỏi năng lực quản lý mà được hình thành từ chính yêu cầu thực thi vai trò trong điều kiện mới. Cách cấu trúc theo lõi chung và biểu hiện đặc thù, đồng thời gắn năng lực với yêu cầu của vị trí việc làm, tạo cơ sở để tiếp tục thẩm định và vận dụng khung năng lực trong quản trị nhân lực công.
6. Thảo luận
Kết quả phân tích cho thấy, yêu cầu năng lực số của Chủ tịch UBND cấp xã không phát sinh đơn thuần từ quá trình số hóa công vụ mà chủ yếu từ sự biến đổi của chính vai trò công việc, phạm vi trách nhiệm rộng hơn, quyền quyết định lớn hơn, nhiệm vụ phức tạp hơn, quan hệ phối hợp trực tiếp hơn và trách nhiệm giải trình cao hơn. Chuyển đổi số làm những biến đổi này diễn ra nhanh hơn, minh bạch hơn và gắn chặt hơn với dữ liệu. Cách tiếp cận này bổ sung cho các nghiên cứu chủ yếu nhận diện danh mục năng lực bằng việc làm rõ cơ chế hình thành yêu cầu năng lực từ sự thay đổi của vị trí việc làm (Phạm Thị Hằng & Nguyễn Thị Nghị, 2026; Lê Huỳnh Lai, 2026).
So với các khung năng lực chung của cán bộ, công chức cấp xã, bài viết tập trung vào một chức danh có thẩm quyền và trách nhiệm quyết định cụ thể. Vì vậy, năng lực số của Chủ tịch UBND cấp xã cần được xác định ở cấp độ lãnh đạo, bao gồm phán đoán pháp lý, sử dụng dữ liệu trong ra quyết định, điều phối liên ngành, kiểm soát rủi ro và dẫn dắt chuyển đổi số, chứ không chỉ là khả năng sử dụng công nghệ (Hoàng Văn Hoan và cộng sự, 2026; Lê Thị Phương Thảo & Nguyễn Thị Thu Hà, 2026).
Tuy nhiên, năng lực cá nhân chỉ phát huy đầy đủ khi có điều kiện thực thi phù hợp. Chất lượng dữ liệu, khả năng liên thông, quyền truy cập, hạ tầng số, nguồn nhân lực và cơ chế phân cấp đều ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả công vụ. Do đó, khi đánh giá năng lực của Chủ tịch UBND cấp xã cần phân biệt rõ năng lực của cá nhân với điều kiện tổ chức thực thi. Khung đề xuất trong bài vì vậy cần tiếp tục được thẩm định bằng chuyên gia và dữ liệu thực tiễn trước khi sử dụng như một công cụ đánh giá chính thức (OECD, 2021; Nguyễn Bá Chiến, 2026).
7. Hàm ý đối với phát triển năng lực và quản trị nhân lực công
Từ khung phân tích trên, phát triển năng lực số của Chủ tịch UBND cấp xã cần được đặt trong tổng thể quản trị nhân lực theo vị trí việc làm.
Thứ nhất, chuẩn năng lực số cần được xây dựng từ chức trách, thẩm quyền và yêu cầu thực tế của vị trí. Mỗi nhiệm vụ được phân cấp, phân quyền hoặc ủy quyền cần được chuyển hóa thành các yêu cầu cụ thể về dữ liệu, quyết định, phối hợp, công nghệ và trách nhiệm giải trình; từ đó hình thành các chỉ báo hành vi có thể quan sát và đánh giá.
Thứ hai, đào tạo, bồi dưỡng cần chuyển từ phổ cập công cụ sang phát triển năng lực xử lý tình huống. Đối với người đứng đầu, trọng tâm nên là sử dụng dữ liệu trong quyết định, xử lý tình huống liên ngành, kiểm soát rủi ro số, sử dụng trí tuệ nhân tạo có trách nhiệm và giải trình quyết định trên môi trường số (Nguyễn Hồng Chinh, 2025; Phạm Giang, 2025).
Thứ ba, năng lực số cần được tích hợp vào các khâu bố trí, sử dụng, quy hoạch, bổ nhiệm, đánh giá và phát triển công chức. Cần phân biệt rõ mức độ năng lực mà vị trí yêu cầu với mức độ cá nhân đang đáp ứng để xác định đúng khoảng cách năng lực và nhu cầu phát triển (Trần Thị Thu & Vũ Hoàng Ngân, 2013; Phạm Đức Toàn & Đào Thị Thanh Thủy, 2021).
Thứ tư, phát triển năng lực phải đi cùng hoàn thiện điều kiện thực thi. Thành phố cần đồng thời cải thiện chất lượng và khả năng liên thông dữ liệu, phân quyền truy cập, nền tảng dùng chung, an toàn thông tin và nguồn nhân lực hỗ trợ. Chỉ khi năng lực cá nhân và điều kiện tổ chức được phát triển đồng bộ, việc phân cấp, phân quyền mới có thể chuyển hóa thành năng lực quản trị thực chất ở cấp cơ sở.
8. Kết luận
Mô hình chính quyền địa phương hai cấp cùng quá trình đẩy mạnh phân cấp, phân quyền đang làm thay đổi rõ nét vai trò của Chủ tịch UBND cấp xã theo hướng mở rộng phạm vi quản lý, tăng quyền quyết định, gia tăng độ phức tạp của nhiệm vụ, yêu cầu phối hợp và trách nhiệm giải trình. Trong môi trường công vụ ngày càng đẩy mạnh số hóa, năng lực số vì vậy không còn chỉ là kỹ năng sử dụng công nghệ mà trở thành một bộ phận của năng lực lãnh đạo và thực thi thẩm quyền của người đứng đầu chính quyền cấp xã.
Từ sự biến đổi vai trò đó, bài viết xác định sáu nhóm năng lực số chủ yếu, tập trung vào phán đoán pháp lý, quản trị dữ liệu và ra quyết định, lãnh đạo và phối hợp trên môi trường số, cung ứng dịch vụ công số, bảo vệ dữ liệu và sử dụng trí tuệ nhân tạo có trách nhiệm, cùng năng lực dẫn dắt chuyển đổi số. Giá trị cốt lõi của khung đề xuất nằm ở nguyên tắc xác định năng lực từ yêu cầu của vị trí việc làm, đồng thời phân biệt giữa chuẩn năng lực và mức độ đáp ứng thực tế. Đây là cơ sở để phát triển năng lực số của Chủ tịch UBND cấp xã gắn với quản trị nhân lực công, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả thực thi phân cấp, phân quyền và chất lượng phục vụ người dân tại TP. Hồ Chí Minh.
Tài liệu tham khảo:
Boyatzis, R. E. (1982). The Competent Manager: A Model for Effective Performance. New York: Wiley.
Bộ Khoa học và Công nghệ (2025). Quyết định số 757/QĐ-BKHCN ngày 29/4/2025 về khung kiến thức, kỹ năng số cơ bản.
Campion, M. A., Fink, A. A., Ruggeberg, B. J., Carr, L., Phillips, G. M., & Odman, R. B. (2011). Doing competencies well: Best practices in competency modeling. Personnel Psychology, 64(1), 225-262. https://doi.org/10.1111/j.1744-6570.2010.01207.x
Nguyễn Hồng Chinh. (2025). Bồi dưỡng, nâng cao năng lực công tác cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, phường, đặc khu đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ triển khai vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Tạp chí Cộng sản. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/thuc-tien-kinh-nghiem1/-/2018/1124602/boi-duong%2C-nang-cao-nang-luc-cong-tac-cho-doi-ngu-can-bo%2C-cong-chuc-cap-xa%2C-phuong%2C-dac-khu-dap-ung-yeu-cau%2C-nhiem-vu-trien-khai-van-hanh-mo-hinh-chinh-quyen-dia-phuong-hai-cap-hien-nay.aspx
Nguyễn Bá Chiến. (2026). Những yếu tố quy định chất lượng, hiệu quả mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Tạp chí Lý luận chính trị, 581, 20-28. https://doi.org/10.70786/LLCT.581.2026.145
Đỗ Văn Hùng (2022). Năng lực số. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
Hội đồng nhân dân TP. Hồ Chí Minh (2026). Đổi mới tổ chức bộ máy và phương thức quản trị – Nhìn từ TP. Hồ Chí Minh: Chuyển mạnh sang nền hành chính phục vụ. Cổng Thông tin điện tử Hội đồng nhân dân TP. Hồ Chí Minh. https://hdnd.hochiminhcity.gov.vn/tin-tuc/nang-dong-tam-nhin-sieu-do-thi/doi-moi-to-chuc-bo-may-va-phuong-thuc-quan-tri-nhin-tu-thanh-pho-ho-chi-minh-bai-1-chuyen-manh-sang-nen-hanh-chinh-phuc-vu
Phan Hải Hồ (2025). Quản trị địa phương theo mô hình chính quyền hai cấp tại TP. Hồ Chí Minh. Tạp chí Lý luận chính trị. https://doi.org/10.70786/PTOJ.7332
Trần Thái H. (2026). Đổi mới quản trị địa phương phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Tạp chí Lý luận chính trị, 578, 96-103. https://doi.org/10.70786/LLCT.578.2026.29
Phạm Thị Hằng, & Nguyễn Thị Nghị. (2026). Yêu cầu năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trong bối cảnh vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/03/24/yeu-cau-nang-luc-cua-doi-ngu-can-bo-cong-chuc-cap-xa-trong-boi-canh-van-hanh-mo-hinh-chinh-quyen-dia-phuong-hai-cap/
Hoàng Văn Hoan, Hoàng Mỹ Nguyên Trang, & Nguyễn Danh Nam. (2026). Năng lực số của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã các tỉnh vùng trung du và miền núi phía Bắc: tiếp cận từ sự biến đổi của lao động quản trị. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/03/16/nang-luc-so-cua-doi-ngu-can-bo-lanh-dao-quan-ly-cap-xa-cac-tinh-vung-trung-du-va-mien-nui-phia-bac-tiep-can-tu-su-bien-doi-cua-lao-dong-quan-tri/
Lê Huỳnh Lai (2026). Yêu cầu mới về năng lực đội ngũ công chức cấp xã trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp tại Việt Nam. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/06/30/yeu-cau-moi-ve-nang-luc-doi-ngu-cong-chuc-cap-xa-trong-mo-hinh-chinh-quyen-dia-phuong-hai-cap-tai-viet-nam/
McClelland, D. C. (1973). Testing for competence rather than for intelligence. American Psychologist, 28(1), 1-14. https://doi.org/10.1037/h0034092
Morgeson, F. P., & Humphrey, S. E. (2006). The Work Design Questionnaire: Developing and validating a comprehensive measure for assessing job design and the nature of work. Journal of Applied Psychology, 91(6), 1321-1339. https://doi.org/10.1037/0021-9010.91.6.1321
Phan Thị Tuyết Minh. (2021). Xây dựng khung năng lực Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã – từ cách tiếp cận chức năng quản lý nhà nước. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2021/12/16/xay-dung-khung-nang-luc-chu-tich-uy-ban-nhan-dan-xa-tu-cach-tiep-can-chuc-nang-quan-ly-nha-nuoc/
Organisation for Economic Co-operation and Development. (2021). The OECD Framework for Digital Talent and Skills in the Public Sector. OECD Working Papers on Public Governance, No. 45. Paris: OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/4e7c3f58-en
Parker, S. K. (2014). Beyond motivation: Job and work design for development, health, ambidexterity, and more. Annual Review of Psychology, 65, 661-691. https://doi.org/10.1146/annurev-psych-010213-115208
Quách Thị Minh Phượng (2023). Nâng cao năng lực thực thi công vụ của chính quyền cơ sở. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Trần Thị Thu, & Vũ Hoàng Ngân. (2013). Giáo trình Quản lý nguồn nhân lực trong tổ chức công. Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân.
Hà Thị Thoa (2020). Xây dựng khung năng lực lãnh đạo, quản lý đối với Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2020/01/23/xay-dung-khung-nang-luc-lanh-dao-quan-ly-doi-voi-chu-tich-uy-ban-nhan-dan-xa/
Phạm Đức Toàn, & Đào Thị Thanh Thủy (2021). Khung năng lực và quản lý công chức theo năng lực đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
Lê Thị Phương Thảo, & Nguyễn Thị Thu Hà. (2026). Khung năng lực số của công chức Trung tâm Phục vụ hành chính công phường tại TP. Hồ Chí Minh. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/08/28/khung-nang-luc-so-cua-cong-chuc-trung-tam-phuc-vu-hanh-chinh-cong-phuong-tai-tp-ho-chi-minh/
Hồ Quốc Tịnh. (2026). Năng lực đổi mới sáng tạo của công chức tài năng ở cấp xã tại TP. Hồ Chí Minh. Tạp chí Lý luận chính trị, 05/5/2026. https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.5272
Quốc hội (2025). Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025.
Nguyễn Thị Thu Vân. (2022). Xây dựng khung năng lực số của cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu phát triển Chính phủ số. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2022/02/10/xay-dung-khung-nang-luc-so-cua-can-bo-cong-chuc-dap-ung-yeu-cau-phat-trien-chinh-phu-so/
Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2025). Nghị quyết số 1685/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của TP. Hồ Chí Minh năm 2025.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2026). Nghị quyết số 398/NQ-UBTVQH16 ngày 08/8/2026 về việc phê chuẩn Bộ học liệu đa phương tiện (Tập 1) – Bài giảng và câu hỏi trắc nghiệm kiến thức, kỹ năng số cơ bản dùng cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong khối cơ quan nhà nước.
Vuorikari, R., Kluzer, S., & Punie, Y. (2022). DigComp 2.2: The Digital Competence Framework for Citizens. Luxembourg: Publications Office of the European Union. https://doi.org/10.2760/115376



