Protecting young consumers from the impacts of fake reviews and fear of missing out in e-commerce
ThS. Nguyễn Thịnh Phát
Trường Đại học Ngoại ngữ – Tin học TP. Hồ Chí Minh
Email: phatnt1@huflit.edu.vn
(Quanlynhanuoc.vn) – Thương mại điện tử phát triển mạnh mẽ mang lại nhiều tiện ích nhưng cũng tạo ra rủi ro cho người tiêu dùng trẻ, đặc biệt là sự thao túng từ đánh giá giả mạo (fake reviews) kết hợp với hội chứng sợ bỏ lỡ (FOMO). Nghiên cứu tiếp cận dưới góc độ quản lý nhà nước về kinh tế – xã hội, phân tích cơ sở lý luận từ bất đối xứng thông tin, tín hiệu thị trường, kinh tế học hành vi và lựa chọn công cộng. Bài viết mổ xẻ thực trạng bẫy thông tin số, làm rõ các chiêu trò thao túng thuật toán cùng hệ lụy tài chính, tâm lý đối với giới trẻ, đồng thời chỉ ra khoảng trống pháp lý và công nghệ giám sát. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất bốn nhóm giải pháp: hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao trách nhiệm nền tảng số, ứng dụng RegTech/SupTech trong quản lý và giáo dục năng lực số cho người trẻ nhằm phát triển thương mại điện tử minh bạch, bền vững.
Từ khóa: Đánh giá giả mạo; hội chứng sợ bỏ lỡ; người tiêu dùng trẻ; thương mại điện tử; bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Abstract: The robust growth of e-commerce offers substantial conveniences but also exposes young consumers to significant risks, notably manipulation stemming from fake reviews combined with Fear of Missing Out (FOMO). Approached from the perspective of state management in socio-economic affairs, this study analyzes theoretical foundations including information asymmetry, market signaling, behavioral economics, and public choice theory. The article dissects the realities of digital information traps, clarifies algorithmic manipulation tactics alongside their financial and psychological impacts on youth, and identifies gaps in legal frameworks and supervisory technologies. On this basis, the author proposes four groups of solutions: perfecting the legal corridor, enhancing digital platform responsibilities, applying RegTech/SupTech in management, and educating digital competencies for young people to promote transparent and sustainable e-commerce development.
Keywords: Fake reviews; Fear of Missing Out; young consumers; e-commerce; consumer protection.
1. Đặt vấn đề
Thương mại điện tử Việt Nam đang chứng kiến tốc độ bứt phá vượt bậc, dần trở thành kênh giao thương huyết mạch của nền kinh tế số. Trong không gian mua sắm trực tuyến sôi động, nhóm người tiêu dùng trẻ (Gen Z và Millennial) giữ vị trí trung tâm với thói quen tương tác mạng liên tục, thích ứng nhanh với công nghệ mới và luôn tiên phong đón nhận các xu hướng mua sắm kết hợp giải trí số. Tuy nhiên, sự tách biệt về không gian vật lý khiến giao dịch điện tử phụ thuộc hoàn toàn vào dữ liệu số hóa, tạo mảnh đất màu mỡ cho các hành vi gian lận thông tin sinh sôi. Mặt trái đáng lo ngại hiện nay là sự bùng phát của ma trận đánh giá giả mạo (fake reviews) kết hợp tinh vi với hội chứng sợ bỏ lỡ (FOMO). Việc lạm dụng các chỉ báo tín nhiệm ảo cùng chiêu trò kích động tâm lý đám đông đã đẩy nhiều người trẻ vào các quyết định mua sắm bốc đồng, gánh chịu thiệt hại kinh tế và tổn thương tinh thần. Dưới góc độ quản lý nhà nước, đây là biểu hiện điển hình của sự thất bại thị trường, làm bóp méo môi trường cạnh tranh và suy giảm niềm tin vào kinh tế số. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải phân tích thấu đáo cơ sở lý luận, mổ xẻ thực trạng và định hình hệ thống giải pháp quản lý công hiện đại, đồng bộ nhằm bảo vệ hữu hiệu thế hệ công dân số.
2. Cơ sở lý luận về quản lý thông tin và kiểm soát hành vi người tiêu dùng trên thị trường số
2.1. Bất đối xứng thông tin, tín hiệu thị trường và sự tha hóa của các chỉ báo tín nhiệm số
Cơ sở lý luận nền tảng để luận giải về sự tồn tại và sức phá hoại của đánh giá giả mạo bắt nguồn trực tiếp từ lý thuyết bất đối xứng thông tin (George Akerlof, 1970). Trong cấu trúc thị trường không hoàn hảo, khi người bán nắm giữ bức tranh toàn diện về chất lượng thực tế của sản phẩm còn người mua chỉ tiếp cận được các mô tả bề ngoài, rủi ro đạo đức và hiện tượng lựa chọn đối nghịch tất yếu sẽ nảy sinh. Người tiêu dùng do không đủ năng lực thẩm định chính xác sẽ chỉ chấp nhận trả mức giá bình quân, vô hình trung tạo ra hiệu ứng đào thải ngược: những đơn vị cung cấp hàng hóa chuẩn mực bị chèn ép khỏi thị trường, nhường chỗ cho sản phẩm kém phẩm chất tràn lan. Trên môi trường số, khoảng cách bất đối xứng này càng bị kéo giãn tối đa do sự cách biệt không gian, biến thông tin trở thành thứ tài sản độc quyền bị thao túng.
Để giảm bớt khoảng trống nghi ngại, các chủ thể giao dịch phải dựa vào lý thuyết phát tín hiệu thị trường (Michael Spence, 1973). Doanh nghiệp cần phát đi những chỉ báo đáng tin cậy về phẩm cấp sản phẩm nhằm củng cố lòng tin nơi khách hàng. Trong thương mại điện tử, các chỉ báo tín nhiệm số – bao gồm xếp hạng sao, tỷ lệ đơn giao thành công và phản hồi trải nghiệm của người mua đi trước (online consumer reviews) trở thành công cụ định vị chất lượng cốt lõi. Về mặt lý thuyết, đánh giá trực tuyến đại diện cho cơ chế kiểm chứng phi tập trung, giúp giảm thiểu chi phí tìm kiếm thông tin và hạ thấp tính bất định trước khi người mua giao kết hợp đồng.
Bên cạnh đó, điểm yếu chí tử của tín hiệu số nằm ở chi phí ngụy tạo cực thấp trên không gian mạng. Khảo sát thực chứng đã chỉ rõ rằng đứng trước áp lực cạnh tranh gay gắt hoặc khi uy tín bị đe dọa bởi nhận xét tiêu cực, người bán có động lực kinh tế cực lớn để thực hiện gian lận đánh giá nhằm kiến tạo danh tiếng ảo (Michael Luca, Georgios Zervas, 2016). Thay vì thu hẹp bất đối xứng, fake reviews làm tha hóa bản chất của hệ thống tín hiệu, biến công cụ bảo vệ người tiêu dùng thành chiếc bẫy thông tin nhân tạo. Nhìn từ thực tiễn pháp lý Việt Nam, bất đối xứng thông tin số diễn ra nghiêm trọng hơn thương trường truyền thống bởi người dùng hoàn toàn phụ thuộc vào luồng dữ liệu do sàn và người bán cung cấp (Nguyễn Thị Vân Anh, 2021). Nhóm khách hàng trẻ, thường xem xếp hạng trực tuyến là thước đo chuẩn mực, trở thành đối tượng gánh chịu rủi ro nặng nề nhất khi đưa ra các quyết định chi tiêu sai lệch từ những tín hiệu ngụy tạo.
2.2. Kinh tế học hành vi, hiệu ứng bầy đàn và cơ chế thao túng tâm lý sợ bỏ lỡ
Khác với góc nhìn của kinh tế học tân cổ điển vốn mặc định con người luôn hành động duy lý và tối ưu hóa lợi ích, trường phái kinh tế học hành vi đã chứng minh rằng quyết định thực tế thường chịu sự chi phối mạnh mẽ của “Hệ thống 1”, tiến trình nhận thức trực giác, chớp nhoáng, cảm tính và luôn tiềm ẩn các định kiến nhận thức sâu sắc (Daniel Kahneman, 2011). Đứng trước biển dữ liệu số dày đặc, người tiêu dùng có xu hướng tiết kiệm nỗ lực tư duy bằng cách dựa vào các lối tắt phán đoán (heuristics). Trong đó, lối tắt phụ thuộc vào bằng chứng xã hội (social proof) khiến cá nhân dễ dàng bị cuốn theo hiệu ứng bầy đàn và dòng thác thông tin tập thể (Sushil Bikhchandani và cộng sự, 1992), nơi người ta tự động sao chép hành vi của số đông vì ngộ nhận rằng cộng đồng luôn nắm giữ dữ liệu chuẩn xác hơn bản thân.
Dưới lăng kính tâm lý học, hội chứng sợ bỏ lỡ (FOMO) được xác định là trạng thái lo âu xã hội thường trực khi cá nhân luôn ám ảnh rằng người khác đang tận hưởng những trải nghiệm ưu việt mà mình bị gạt ra ngoài lề (Andrew Przybylski và cộng sự, 2013). Trong thương mại điện tử đương đại, FOMO không còn dừng lại ở cảm xúc bột phát mà đã bị các chiến dịch truyền thông chuyển hóa thành công cụ thao túng hành vi mua sắm bốc đồng. Nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam cũng khẳng định FOMO giữ vai trò biến số trung gian kích hoạt mạnh mẽ hành vi mua hàng ngẫu hứng của giới trẻ trên các nền tảng số (Lê Thị Ngọc Tiền, 2026). Khi một sản phẩm được phù phép bởi hàng loạt đánh giá năm sao kèm những thông điệp khan hiếm nhân tạo (như đếm ngược ưu đãi, báo hết hàng ảo), tâm lý khách hàng trẻ lập tức bị đẩy vào trạng thái bức bách, căng thẳng.
Nỗi sợ bị cô lập khỏi dòng chảy xu hướng của nhóm đồng trang lứa và áp lực thể hiện phong cách cá nhân đã làm tê liệt “Hệ thống 2” – cơ chế nhận thức thận trọng, duy lý và có chiều sâu phản biện (Daniel Kahneman, 2011). Giao dịch được thực hiện trong sự hoảng loạn tâm lý thay vì dựa trên nhu cầu sử dụng hay năng lực chi trả thực tế. Dưới lăng kính quản lý công, việc doanh nghiệp chủ ý sử dụng các giao diện thao túng (dark patterns) để trục lợi từ điểm yếu nhận thức này chính là hành vi xâm phạm quyền tự do ý chí và quyền tiếp cận thông tin chân thực của công dân.
2.3. Lý thuyết lựa chọn công cộng và vai trò điều tiết của Nhà nước trong thiết lập trật tự số
Tiếp cận từ lý thuyết lựa chọn công cộng và lý thuyết về các quy định điều tiết, cơ chế thị trường tự do hoàn toàn bất lực trong việc tự cân bằng trước các khiếm khuyết mang tính cơ cấu như bất đối xứng thông tin và lừa dối thương mại có tổ chức (James Buchanan, Gordon Tullock, 1962). Môi trường thương mại điện tử có xu hướng tập trung hóa quyền lực dữ liệu vào tay một số ít nền tảng trung gian và các đơn vị kinh doanh công nghệ lớn. Trong mối tương quan này, người tiêu dùng cá nhân, nhất là thế hệ trẻ non kinh nghiệm, luôn đứng ở thế yếu toàn diện về năng lực pháp lý, tài chính lẫn kỹ thuật bảo vệ thông tin.
Nhà nước, với tư cách là chủ thể duy nhất đại diện cho trật tự công và lợi ích xã hội, phải thực hiện vai trò trọng tài điều tiết tối cao để tái lập thế cân bằng. Sự can thiệp của pháp luật không nhằm bóp nghẹt tính năng động của thị trường mà hướng tới việc kiến tạo một “kiến trúc lựa chọn” minh bạch, ngăn ngừa sự trục lợi bất chính và bảo tồn niềm tin của xã hội vào kinh tế số (Cass Sunstein, 2014). Quản lý nhà nước điện tử đòi hỏi sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa việc siết chặt thể chế pháp lý nghiêm minh và phát triển các công cụ giám sát công nghệ thông minh, đảm bảo không gian mạng vận hành trên nền tảng liêm chính, tôn trọng quyền tự quyết của người tiêu dùng.
3. Thực trạng tác động của đánh giá giả mạo và hội chứng FOMO đối với người tiêu dùng trẻ tại Việt Nam hiện nay
Trong thời gian qua, sự phát triển vượt bậc của thị trường thương mại điện tử tại Việt Nam thời gian qua đã mang lại những giá trị tích cực rõ nét cho nền kinh tế số và xã hội. Hệ sinh thái số mở rộng nhanh chóng đã giúp người tiêu dùng trẻ dễ dàng tiếp cận nguồn hàng hóa, dịch vụ đa dạng, tối ưu hóa thời gian giao dịch và phổ cập phương thức thanh toán không tiền mặt hiện đại. Về phương diện quản lý, Nhà nước đã ghi nhận nỗ lực hoàn thiện thể chế thông qua Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 với các quy định tiến bộ hơn về giao dịch trực tuyến và trách nhiệm bước đầu của nền tảng số. Các sàn thương mại điện tử lớn cũng đã chủ động thiết lập hệ thống xếp hạng, tạo lập kênh phản hồi để người dùng chia sẻ trải nghiệm, qua đó nâng cao tính minh bạch ban đầu cho giao dịch số. Bên cạnh đó, nhận thức của một bộ phận người tiêu dùng trẻ về an toàn số cũng dần được cải thiện nhờ các chiến dịch truyền thông công cộng, giúp họ bước đầu hình thành thói quen kiểm tra phản hồi cộng đồng trước khi giải ngân tài chính.
Song hành cùng những kết quả đạt được, thực tiễn thương mại trực tuyến lại bộc lộ những hạn chế, bất cập nan giải khi trật tự thông tin số bị thao túng có tổ chức. Hệ thống phản hồi trải nghiệm đã biến tướng thành một ma trận đánh giá giả mạo (fake reviews) chuyên nghiệp thông qua kỹ thuật đặt đơn ảo (brushing) và dịch vụ “seeding” ngầm. Các chủ thể kinh doanh tạo dựng hàng vạn tài khoản ảo, đổi địa chỉ mạng liên tục để phát sinh đơn hàng khống với bưu phẩm rỗng, từ đó đẩy lượng bán hiển thị lên mức hàng vạn sản phẩm và lấp đầy giao diện bằng các nhận xét năm sao dàn dựng công phu nhằm đánh lừa thuật toán đề xuất của sàn. Tinh vi hơn, chiêu thức “đánh giá có thưởng” thông qua quà tặng hoặc mã giảm giá đã mua chuộc trực tiếp người mua thật, biến họ thành công cụ phát tán dữ liệu rác. Ngược lại, các đánh giá tiêu cực phản ánh đúng chất lượng kém thường bị đe dọa, nài nỉ gỡ bỏ hoặc bị dịch vụ báo cáo tài khoản làm ẩn nội dung nhằm dìm thông tin thật xuống đáy giao diện.
Sự suy thoái của các chỉ báo tín nhiệm số càng nguy hại hơn khi kết hợp với chiến thuật kích hoạt hội chứng FOMO nhắm vào tâm lý giới trẻ. Trong các phiên livestream bán hàng của người có tầm ảnh hưởng (KOLs, KOCs), người xem liên tục bị bủa vây bởi các hiệu ứng kích động như thông báo “cháy hàng”, đồng hồ đếm ngược ưu đãi ảo cùng bình luận ảo nhảy múa dồn dập. Bầu không khí khẩn trương nhân tạo đó khiến nhiều bạn trẻ hoảng sợ bản thân sẽ đứng ngoài xu hướng thời thượng, làm tê liệt tư duy phản biện và dẫn tới các quyết định mua sắm bốc đồng vượt quá khả năng tài chính. Để chi trả, không ít người trẻ tìm đến các công cụ tín dụng số như “Mua trước – Trả sau” (BNPL) hoặc vay tiêu dùng trực tuyến với lãi suất ngầm cao, dẫn đến nợ nần khi tuổi đời còn rất trẻ và tích trữ nhiều món đồ không có giá trị sử dụng thực tế. Cùng với thiệt hại kinh tế, cảm giác tự dằn vặt, căng thẳng khi nhận ra mình sập bẫy tiếp thị gian lận đã gây ra những tổn thương tâm lý tiêu cực, làm xói mòn niềm tin của thế hệ trẻ vào tính chính trực của thị trường số.
Những hạn chế, tiêu cực nêu trên xuất phát từ sự đan xen của cả nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan trên nhiều phương diện. Về mặt thể chế, các văn bản quy phạm pháp luật dưới luật vẫn thiếu tiêu chí định lượng cụ thể để nhận diện, xử phạt hành vi thiết kế giao diện gian lận và sản xuất đánh giá ảo có tổ chức; khung chế tài vi phạm hành chính hiện hành nhìn chung còn quá nhẹ, chưa đủ sức răn đe trước nguồn siêu lợi nhuận bất chính.
Về công cụ quản trị, năng lực công nghệ và hạ tầng kỹ thuật thanh tra số của cơ quan quản lý thị trường và an ninh mạng còn hạn chế, chủ yếu xử lý thụ động theo đơn thư sau khi thiệt hại đã xảy ra; cơ chế liên thông dữ liệu thời gian thực giữa các cơ quan quản lý với các sàn thương mại điện tử vẫn chưa vận hành thông suốt.
Về trách nhiệm trung gian, các sàn thương mại điện tử có biểu hiện buông lỏng kiểm duyệt và thiếu động lực làm sạch hệ sinh thái vì lượng giao dịch, tương tác ảo trực tiếp làm đẹp các chỉ số tăng trưởng doanh số của sàn. Cuối cùng, về phía người tiêu dùng, bản thân một bộ phận lớn giới trẻ dù am hiểu công nghệ nhưng lại thiếu hụt nền tảng năng lực số, kỹ năng quản lý tài chính và tư duy phản biện trước các bẫy tâm lý tinh vi. Sự cộng hưởng của các nguyên nhân này chính là rào cản lớn, đòi hỏi Nhà nước phải nhanh chóng triển khai hệ thống giải pháp can thiệp đồng bộ, quyết liệt và có chiều sâu chiến lược.
4. Một số giải pháp
Thứ nhất, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, xác định rõ các hành vi thao túng thông tin và nâng cao mức độ chế tài.
Nhiệm vụ trọng tâm trước hết là khẩn trương cụ thể hóa các điều khoản thi hành Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, bổ sung định danh pháp lý chính thức đối với các hành vi gian lận thông tin số thế hệ mới. Cần đưa vào danh mục hành vi bị nghiêm cấm việc cung cấp dịch vụ đặt đơn ảo, viết nhận xét khống và mua chuộc hoặc đe dọa khách hàng nhằm thao túng dữ liệu đánh giá. Đồng thời, pháp luật cần thiết lập tiêu chuẩn nhận diện và cấm các giao diện thao túng (dark patterns) trục lợi tâm lý FOMO như đồng hồ đếm ngược ưu đãi giả tạo, cảnh báo tồn kho ảo và thông báo đơn mua hàng giả lập. Đi đôi với việc chuẩn hóa hành vi, cơ quan chức năng cần nâng mức phạt tiền hành chính căn cứ theo tỷ lệ phần trăm doanh thu bất chính, áp dụng chế tài bổ sung như đình chỉ kinh doanh, công khai danh sách vi phạm lên Cổng thông tin điện tử quốc gia; kiên quyết chuyển hồ sơ xử lý hình sự đối với các đường dây gian lận quy mô lớn và ràng buộc trách nhiệm liên đới của những người có tầm ảnh hưởng (KOLs, KOCs) khi quảng cáo sai sự thật.
Thứ hai, chuẩn hóa trách nhiệm giải trình và ràng buộc nghĩa vụ kiểm duyệt đối với các nền tảng thương mại điện tử.
Quản lý nhà nước cần đặt các sàn giao dịch điện tử và mạng xã hội mua sắm vào vị trí trung tâm của chuỗi trách nhiệm bảo vệ người tiêu dùng. Cần ban hành quy chuẩn kỹ thuật buộc các nền tảng thiết lập quy trình kiểm duyệt đánh giá nghiêm ngặt: chỉ cho phép đăng nhận xét khi đơn hàng đã giao thành công và trải qua thời gian trải nghiệm thực tế hợp lý; hiển thị nhãn phân biệt minh bạch giữa đánh giá của người mua thực tế đã qua xác thực và phản hồi chưa kiểm chứng. Bên cạnh đó, nền tảng số phải có nghĩa vụ công khai thuật toán hiển thị đánh giá và danh mục gợi ý, tuyệt đối cấm can thiệp ẩn xóa nhận xét tiêu cực hợp lệ để trục lợi. Định kỳ, các sàn lớn phải nộp báo cáo minh bạch về số lượng tài khoản gian dối đã xử lý và biện pháp bảo vệ tâm lý người dùng trẻ cho cơ quan quản lý; trường hợp buông lỏng kiểm duyệt, nền tảng phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại và chịu chế tài hành chính nghiêm khắc.
Thứ ba, ứng dụng công nghệ điều tiết (RegTech) và công nghệ giám sát (SupTech) trong quản lý thị trường số.
Trước sự biến tướng khôn lường của các thủ đoạn gian lận công nghệ cao, bộ máy quản lý nhà nước cần chủ động ứng dụng công nghệ điều tiết hiện đại (RegTech) và công nghệ giám sát số (SupTech). Cơ quan chức năng cần xây dựng hệ thống trí tuệ nhân tạo (AI) và thuật toán xử lý ngôn ngữ tự nhiên (NLP) phục vụ thanh tra số, tự động rà quét để cảnh báo sớm các dấu hiệu seeding bất thường như mật độ nhận xét trùng lặp đột biến hoặc các đơn hàng ảo tập trung từ các dải địa chỉ mạng cố định. Song song đó, cần hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia về thương mại điện tử kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (VNeID) nhằm thực thi định danh điện tử bắt buộc đối với người bán trực tuyến, xóa bỏ hoàn toàn tình trạng ẩn danh trốn tránh pháp luật. Đồng thời, phát triển các cổng dịch vụ công và ứng dụng di động cho phép người tiêu dùng tra cứu điểm tín nhiệm gian hàng và gửi phản ánh vi phạm kèm chứng cứ số theo thời gian thực.
Thứ tư, tăng cường giáo dục năng lực số và kỹ năng tự bảo vệ cho thế hệ người tiêu dùng trẻ.
Mọi giải pháp can thiệp thể chế và công nghệ sẽ chỉ phát huy hiệu quả tối đa khi bản thân người tiêu dùng trẻ hình thành được năng lực tự vệ nội sinh trước các cạm bẫy tâm lý và thông tin ảo. Vì vậy, giải pháp căn cơ là lồng ghép giáo dục năng lực số (digital literacy), kiến thức tài chính cá nhân và kỹ năng tiêu dùng thông minh vào chương trình học chính quy, ngoại khóa tại các bậc phổ thông và đại học. Nội dung đào tạo cần giúp người học nhận biết cấu trúc của một đánh giá ngụy tạo, hiểu rõ cơ chế vận hành của các thuật toán kích hoạt FOMO để chủ động thực hiện khoảng dừng suy ngẫm (cooling-off period) trước khi ra quyết định chi tiêu. Bên cạnh đó, tổ chức Đoàn Thanh niên và Hội Sinh viên cần phát huy vai trò nòng cốt qua các chiến dịch truyền thông số đa phương tiện, lan tỏa văn hóa tiêu dùng trách nhiệm, cảnh báo các bẫy tín dụng “mua trước, trả sau” và hướng dẫn thanh thiếu niên kỹ năng sử dụng công cụ pháp lý để tự bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình.
5. Kết luận
Thương mại điện tử là xu thế phát triển tất yếu, mang lại xung lực mạnh mẽ cho nền kinh tế số quốc gia, trong đó thế hệ trẻ giữ vị trí trung tâm vừa là động lực sáng tạo, vừa là lực lượng tiêu dùng chủ lực. Tuy nhiên, sự xuất hiện ngày càng tinh vi của các hành vi trục lợi thông tin số, điển hình là sự cấu kết giữa ma trận đánh giá giả mạo và các chiến thuật kích hoạt hội chứng FOMO, đang tạo ra những rủi ro đáng báo động, đe dọa trực tiếp đến quyền lợi kinh tế, an toàn tâm lý của công dân số và làm xói mòn trật tự lành mạnh của thị trường. Để bảo vệ hữu hiệu thế hệ công dân tương lai, quản lý nhà nước cần thể hiện vai trò kiến tạo, điều tiết thông qua tư duy quản trị công đổi mới, đa chiều và hành động quyết liệt. Sự kết hợp đồng bộ giữa khung khổ pháp lý nghiêm minh, việc siết chặt trách nhiệm của các nền tảng công nghệ, sự hiện đại hóa công cụ giám sát bằng RegTech/SupTech, cùng với việc nâng cao năng lực phản biện số của chính người tiêu dùng trẻ chính là những trụ cột mang tính quyết định. Chỉ khi các giải pháp đồng bộ này được thực thi triệt để, chúng ta mới có thể xây dựng một môi trường thương mại điện tử minh bạch, an toàn và nhân văn, thúc đẩy nền kinh tế số phát triển nhanh và bền vững.
Tài liệu tham khảo:
Andrew Przybylski, Kou Murayama, Cody DeHaan, Valerie Gladwell (2013). Motivational, emotional, and behavioral correlates of fear of missing out. Computers in Human Behavior, 29(4), 1841–1848. https://doi.org/10.1016/j.chb.2013.02.014
Cass Sunstein (2014). Why Nudge? The Politics of Libertarian Paternalism. Yale University Press.
Daniel Kahneman (2011). Thinking, Fast and Slow. Farrar, Straus and Giroux.
George Akerlof (1970). The Market for “Lemons”: Quality Uncertainty and the Market Mechanism. The Quarterly Journal of Economics, 84(3), 488–500. https://doi.org/10.2307/1879431
James Buchanan, Gordon Tullock (1962). The Calculus of Consent: Logical Foundations of Constitutional Democracy. University of Michigan Press.
Lê Thị Ngọc Tiền (2026). Mô hình nghiên cứu về hành vi mua hàng ngẫu hứng qua livestream TikTok: vai trò trung gian của FOMO. Tạp chí Công Thương – Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, (16), 112–119.
Michael Luca, Georgios Zervas (2016). Fake It Till You Make It: Reputation, Competition, and Yelp Review Fraud. Management Science, 62(12), 3412–3427. https://doi.org/10.1287/mnsc.2015.2304
Michael Spence (1973). Job Market Signaling. The Quarterly Journal of Economics, 87(3), 355–374. https://doi.org/10.2307/1882010
Nguyễn Thị Vân Anh (2021). Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử ở Việt Nam. Luận án Tiến sĩ Luật học, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam.
Quốc hội (2023). Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023.
Sushil Bikhchandani, David Hirshleifer, Ivo Welch (1992). A Theory of Fads, Fashion, Custom, and Cultural Change as Informational Cascades. Journal of Political Economy, 100(5), 992–1026. https://doi.org/10.1086/261849



