Nâng cao hiệu quả thực hiện thẩm quyền trong quản lý đất đai ở Việt Nam

Enhancing the effective exercise of authority in land management in Vietnam

Lương Phi Hổ
NCS Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
Email: phiho73ncs@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích hiệu quả thực hiện thẩm quyền trong quản lý đất đai ở Việt Nam trên 4 phương diện: phân công trách nhiệm; năng lực thực hiện; quản trị dữ liệu; kiểm soát tiến độ và kết quả. Trên cơ sở phân tích pháp luật hiện hành, việc phân định thẩm quyền chỉ tạo ra căn cứ pháp lý ban đầu; kết quả quản lý còn phụ thuộc vào khả năng duy trì trách nhiệm xuyên suốt các điểm chuyển giao giữa cơ quan quản lý đất đai, chính quyền cấp xã, văn phòng đăng ký đất đai, cơ quan thuế và bộ phận một cửa. Quy trình cấp giấy chứng nhận tại thành phố Cần Thơ được sử dụng như một trường hợp minh họa, không phải là mẫu đại diện cho cả nước. Bài viết đề xuất phân công theo sản phẩm và kết quả, đánh giá năng lực theo nhiệm vụ, thiết lập trách nhiệm đối với dữ liệu nguồn, kiểm soát thời gian chờ theo nguyên nhân và thí điểm bộ chỉ số đánh giá có khả năng truy vết.

Từ khóa: Thực hiện thẩm quyền; quản lý đất đai; trách nhiệm giải trình; dữ liệu đất đai; phối hợp liên cơ quan.

Abstract: This article analyzes the effectiveness of exercising authority in land management in Vietnam from four perspectives: allocation of responsibilities; implementation capacity; data management; and monitoring of progress and results. Based on an analysis of current laws, the delineation of authority provides only an initial legal basis; management outcomes also depend on the ability to maintain accountability across handovers among land management agencies, commune-level authorities, land registration offices, tax agencies, and one-stop service centers. The land title certificate issuance process in Can Tho City is used as an illustrative case study and is not intended to serve as a model for the entire country. This article proposes assigning responsibilities based on outputs and outcomes, assessing capacity by task, establishing accountability for source data, monitoring wait times by cause, and piloting a traceable performance indicator system.

Keywords: Exercise of authority; land administration; accountability; land data; inter-agency coordination.

1. Đặt vấn đề

Đất đai là nguồn lực hữu hạn và là đối tượng của nhiều quan hệ lợi ích có giá trị kinh tế, xã hội và pháp lý. Vì vậy, hiệu quả quản lý nhà nước không thể chỉ được đánh giá qua việc cơ quan nào có quyền ban hành quyết định. Một quyết định hợp pháp chỉ tạo ra kết quả quản lý khi căn cứ của quyết định đáng tin cậy, chủ thể thực hiện có đủ năng lực, dữ liệu được cập nhật và trách nhiệm được duy trì cho đến khi công việc hoàn tất. Điều 20 của Luật Đất đai năm 2024 xác định các nội dung quản lý nhà nước từ quy hoạch, giao đất, đăng ký, tài chính đến thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm. Các nội dung này có quan hệ nối tiếp: kết quả của một khâu thường là đầu vào về mặt pháp lý hoặc dữ liệu cho khâu tiếp theo (Quốc hội, 2024).

Yêu cầu tổ chức thực hiện trở nên phức tạp hơn khi mô hình chính quyền địa phương hai cấp đi vào hoạt động. Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 tạo nền tảng tổ chức mới; Nghị định số 151/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 phân định thẩm quyền trong lĩnh vực đất đai; Nghị quyết số 254/2025/QH15 ngày 11/12/2025 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP ngày 31/01/2026 tiếp tục điều chỉnh thẩm quyền, thủ tục và cơ chế xử lý các vướng mắc. Sự thay đổi này mở rộng khả năng xử lý tại địa phương, nhưng đồng thời làm tăng số điểm phải bàn giao hồ sơ, dữ liệu và trách nhiệm. Nếu việc chuyển thẩm quyền không đi kèm với quy trình tiếp nhận trách nhiệm, năng lực và dữ liệu tương ứng, phân cấp có thể rút ngắn khoảng cách ra quyết định nhưng chưa chắc rút ngắn thời gian giải quyết trên thực tế.

Nghiên cứu về phân quyền nhấn mạnh sự cần thiết phải làm rõ trách nhiệm giữa các cấp chính quyền (OECD, 2019). Khung năng lực chính sách của Wu, Ramesh và Howlett (2015) cho thấy năng lực cần được xem xét đồng thời ở cấp độ cá nhân, tổ chức và hệ thống. Bovens (2007) tiếp cận trách nhiệm giải trình như một quan hệ trong đó chủ thể có nghĩa vụ giải thích, biện minh và chịu hệ quả từ việc thực thi quyền lực. Trong bối cảnh Việt Nam, Tô Trọng Mạnh (2026) lưu ý rằng phân cấp phải đi kèm với việc kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình. Các nghiên cứu về cấp giấy chứng nhận tại Krông Buk và cơ chế một cửa tại Kazakhstan cũng cho thấy thiết kế tổ chức chỉ phát huy hiệu quả khi được hỗ trợ bởi năng lực thực thi và quy trình phối hợp phù hợp (Huỳnh Văn Chương và cộng sự, 2021; Janenova & Kim, 2016).

Từ khoảng trống trên, bài viết trả lời hai câu hỏi: những điều kiện nào giúp chuyển thẩm quyền pháp lý thành kết quả quản lý có căn cứ, có thể kiểm chứng và không bị gián đoạn; trách nhiệm, năng lực, dữ liệu và kiểm soát tiến độ cần được tổ chức như thế nào để hạn chế sự phân mảnh khi công việc đi qua nhiều chủ thể.

2. Khung phân tích và phương pháp nghiên cứu

2.1. Khung phân tích

Bài viết xem việc thực hiện thẩm quyền trong quản lý đất đai là một chuỗi trách nhiệm gồm: hình thành căn cứ, ban hành quyết định, tổ chức thi hành, cập nhật dữ liệu và kiểm tra kết quả. Trong chuỗi này cần phân biệt quyền quyết định với nhiệm vụ tham mưu, phối hợp, xác minh và hỗ trợ kỹ thuật.

Hiệu quả được đánh giá trên 4 phương diện. Thứ nhất, phân công trách nhiệm phải xác định được sản phẩm đầu ra, bên giao, bên nhận và các nghĩa vụ còn lại. Thứ hai, năng lực thực hiện phải tương thích với nội dung thẩm quyền, thay vì chỉ được đo lường bằng biên chế hoặc số lớp bồi dưỡng. Thứ ba, dữ liệu phải có nguồn gốc, có giá trị pháp lý và có chủ thể chịu trách nhiệm cập nhật. Thứ tư, kiểm soát tiến độ phải chỉ ra thời gian chờ, nguyên nhân và trách nhiệm, đồng thời đánh giá chất lượng kết quả. Bốn phương diện này có quan hệ phụ thuộc: dữ liệu không đáng tin cậy làm giảm năng lực ra quyết định; phân công không rõ ràng làm gián đoạn việc cập nhật; còn chỉ tiêu tiến độ thiếu phân loại có thể khuyến khích việc hoàn thành mang tính hình thức.

2.2. Phương pháp nghiên cứu

Bài viết sử dụng phương pháp phân tích pháp luật kết hợp với phân tích tài liệu định tính. Hệ thống văn bản được đối chiếu theo hiệu lực và nội dung điều chỉnh, ưu tiên văn bản gốc hoặc dữ liệu từ Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật và cổng thông tin của cơ quan ban hành. Nguồn thực tiễn gồm báo cáo, thông tin công khai của cơ quan nhà nước và các nghiên cứu đã được công bố. Mỗi nguồn được sử dụng đúng phạm vi: quy định pháp luật làm căn cứ xác định quyền và nghĩa vụ; thông tin báo chí chính thức dùng để nhận diện vấn đề; số liệu địa phương dùng làm minh chứng, không được suy rộng thành kết quả trên toàn quốc.

Quy trình cấp giấy chứng nhận tại thành phố Cần Thơ được chọn để minh họa các điểm chuyển giao giữa việc tiếp nhận hồ sơ, xác minh, nghĩa vụ tài chính, cấp giấy và cập nhật địa chính. Trường hợp này giúp kiểm tra tính vận hành của khung phân tích, nhưng không phải là nghiên cứu định lượng về hiệu quả của thành phố. Bài viết không sử dụng dữ liệu hồ sơ cấp vi mô nên không thể kết luận về mối quan hệ nhân quả giữa một biện pháp tổ chức và thời gian giải quyết.

3. Các điều kiện bảo đảm hiệu quả thực hiện thẩm quyền

3.1. Phân công trách nhiệm và tính liên tục của quá trình thực hiện

Phân định thẩm quyền tạo căn cứ hợp pháp cho hành động nhưng không tự bảo đảm công việc được hoàn tất. Trong một thủ tục đất đai, thông tin về thửa đất, nguồn gốc sử dụng, nghĩa vụ tài chính, quyết định cấp giấy chứng nhận và kết quả cập nhật có thể lần lượt do nhiều chủ thể tạo lập. Mỗi sản phẩm vừa là kết quả của một khâu vừa là điều kiện để khâu sau thực hiện. Do đó, điểm yếu của quản lý không nhất thiết nằm ở việc thiếu chủ thể có thẩm quyền; nó có thể nằm ở khoảng trống giữa hai chủ thể, mỗi bên đều đã hoàn thành phần việc theo cách hiểu của riêng mình.

Khoản 2 Điều 14 của Nghị định số 49/2026/NĐ-CP ngày 31/01/2026 phân định thẩm quyền cấp giấy chứng nhận và xác nhận thay đổi theo nhóm trường hợp cho cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã và Văn phòng đăng ký đất đai (Chính phủ, 2026a). Quy định này làm rõ chủ thể quyết định, nhưng hiệu quả còn phụ thuộc vào việc hồ sơ đã được kiểm tra đến đâu, căn cứ nào đã được xác lập và nghĩa vụ nào cần tiếp tục thực hiện. Đối với hồ sơ đang giải quyết khi thay đổi thẩm quyền, quy định chuyển tiếp cho phép địa phương lựa chọn tiếp tục giao cho chủ thể đang xử lý hoặc áp dụng thẩm quyền mới. Sự lựa chọn này cần được thể hiện bằng quyết định tổ chức rõ ràng để tránh việc hồ sơ bị kiểm tra lại chỉ vì thay đổi nơi tiếp nhận.

Trách nhiệm kế thừa hồ sơ, tài liệu và kết quả giải quyết được quy định tại Nghị định số 151/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025, hiện được hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 41/VBHN-BNNMT ngày 02/4/2026 (Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 2026a). Về phương diện quản trị, việc bàn giao chỉ hoàn tất khi bên nhận có thể tiếp tục công việc dựa trên kết quả đã hình thành. Biên nhận chuyển hồ sơ như vậy chưa đủ; hệ thống cần ghi rõ trạng thái xử lý, căn cứ đã kiểm tra, các vấn đề còn tồn tại, thời hạn và người chịu trách nhiệm ở bước tiếp theo.

Kinh nghiệm về cơ chế một cửa cho thấy, việc tập trung điểm tiếp nhận có thể cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ nhưng không tự động thay đổi sự phối hợp phía sau quầy giao dịch (Janenova & Kim, 2016). Đối với quản lý đất đai, đơn vị một cửa phải có khả năng theo dõi tiến trình hồ sơ và yêu cầu phản hồi, trong khi trách nhiệm chuyên môn vẫn thuộc về cơ quan được giao nhiệm vụ. Nếu chỉ tập trung vào khâu tiếp nhận mà không chuẩn hóa quan hệ giữa các đơn vị xử lý, mô hình một cửa có thể làm đơn giản hóa trải nghiệm nộp hồ sơ nhưng không khắc phục được sự phân mảnh trong nội bộ hành chính.

3.2. Năng lực thực hiện và mức độ tương thích với thẩm quyền

Năng lực phải được đánh giá theo từng nhiệm vụ. Số lượng công chức và trình độ đào tạo phản ánh nguồn lực đầu vào, nhưng chưa cho biết chủ thể có thể giải quyết độc lập loại hồ sơ nào, tỷ lệ phải xin ý kiến là bao nhiêu và những lỗi nào thường tái diễn. Khung của Wu & cộng sự (2015) gợi ý tách năng lực phân tích, vận hành và chính trị thành 3 cấp: cá nhân, tổ chức và hệ thống. Áp dụng vào quản lý đất đai, công chức có kiến thức pháp luật vẫn có thể không hoàn thành nhiệm vụ nếu dữ liệu không thể truy cập được hoặc quy trình phối hợp không xác định thời hạn phản hồi.

Mỗi nhóm công việc cần một cấu trúc năng lực khác nhau. Định giá đất đòi hỏi khả năng thu thập thông tin thị trường, lựa chọn phương pháp phù hợp và tách bạch vai trò tư vấn, thẩm định và ra quyết định. Đăng ký đất đai đòi hỏi phải đánh giá nguồn gốc, tính liên tục và giá trị pháp lý của các tài liệu. Giải quyết thủ tục trên môi trường điện tử còn đòi hỏi khả năng xác thực dữ liệu, chữ ký điện tử và tái sử dụng các thành phần hồ sơ theo Nghị định số 310/2026/NĐ-CP ngày 05/8/2026 (Chính phủ, 2026d). Vì vậy, một chương trình bồi dưỡng chung khó có thể thay thế việc xác định khoảng thiếu năng lực cho từng sản phẩm công việc.

Dữ liệu thực tiễn cần được đọc một cách thận trọng. Thông tin công khai về khó khăn trong vận hành phần mềm, hồ sơ địa chính chưa đồng bộ hoặc nhu cầu tăng cường cán bộ chỉ cho thấy nhóm nguyên nhân cần kiểm tra, chứ không chứng minh rằng mọi hồ sơ chậm đều do thiếu nhân lực. Phân tích năng lực phải tách thành ít nhất bốn nguyên nhân: thiếu người; thiếu kỹ năng; thiếu hoặc sai dữ liệu; thiếu công cụ và quyền truy cập. Cách phân loại này giúp lựa chọn biện pháp tương ứng, tránh việc điều động nhân sự để xử lý lỗi hệ thống hoặc dùng số hóa để thay thế cho việc xác định trách nhiệm pháp lý.

Năng lực thực chất có thể được quan sát qua chất lượng sản phẩm, mức độ xử lý độc lập và xu hướng giảm lỗi lặp lại. Hỗ trợ chuyên môn đạt mục tiêu khi cơ quan nhận nhiệm vụ có thể giải quyết các trường hợp tương tự trong tương lai. Việc tham vấn đối với vấn đề mới hoặc phức tạp là cần thiết; ngược lại, tình trạng thường xuyên xin ý kiến đối với công việc thông thường cho thấy thẩm quyền đã chuyển nhưng năng lực chưa chuyển tương ứng.

3.3. Dữ liệu và trách nhiệm tại các điểm chuyển giao

Dữ liệu đất đai vừa là căn cứ để ra quyết định, vừa là đối tượng phải được cập nhật sau khi có quyết định. Chất lượng dữ liệu vì thế không chỉ nằm ở độ đầy đủ mà còn ở khả năng truy xuất nguồn, xác định thời điểm, đánh giá giá trị pháp lý và nhận diện chủ thể chịu trách nhiệm sửa sai. Nếu một sai lệch chỉ được xử lý trong hồ sơ đang giải quyết mà không phản hồi về nguồn, lỗi đó có thể xuất hiện trong các thủ tục tiếp theo.

Khung pháp lý năm 2026 chuyển rõ hơn từ yêu cầu người dân cung cấp giấy tờ sang trách nhiệm khai thác dữ liệu của cơ quan nhà nước. Khoản 2a Điều 4 của Nghị định số 118/2025/NĐ-CP ngày 09/6/2025, được bổ sung bởi Nghị định số 309/2026/NĐ-CP ngày 05/8/2026, yêu cầu cơ quan tiếp nhận, giải quyết thủ tục sử dụng thông tin đã được công bố, kết nối và chia sẻ để thay thế thành phần hồ sơ; chỉ khi không thể khai thác vì sự cố, thảm họa hoặc thông tin chưa chính xác mới hướng dẫn bổ sung theo quy định (Chính phủ, 2026c). Quyết định số 441/QĐ-BNNMT ngày 02/02/2026 cụ thể hóa việc kết nối và khai thác thông tin trên giấy chứng nhận để thay thế một phần hồ sơ (Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 2026b). Những quy định này biến khả năng liên thông dữ liệu thành một nghĩa vụ của tổ chức, chứ không chỉ là một lựa chọn về mặt kỹ thuật.

Minh chứng thực tiễn cho thấy, quy mô dữ liệu đã lớn, nhưng chất lượng và khả năng sử dụng mới là những tiêu chí quyết định. Chiến dịch làm giàu, làm sạch cơ sở dữ liệu đất đai đã rà soát gần 50 triệu thửa đất tại hơn 2.300 đơn vị hành chính cấp xã và kết nối với dữ liệu dân cư (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2026c). Chẳng hạn như, tại Vĩnh Long, đến ngày 22/10/2026, cơ sở dữ liệu được xây dựng tại 124/124 xã, phường với 2.746.049 thửa và được kết nối với văn phòng đăng ký đất đai, trung tâm phục vụ hành chính công và cơ quan thuế (Cục Quản lý đất đai, 2026b). Các con số phản ánh mức độ bao phủ và kết nối nhưng chưa tự chứng minh dữ liệu hoàn toàn chính xác hoặc rằng mọi thủ tục đã được rút ngắn, cần theo dõi thêm tỷ lệ trường dữ liệu được xác thực, số hồ sơ phải đối chiếu thủ công và thời gian sửa sai tại nguồn.

Trong khung phân tích của bài viết, một lần chuyển giao dữ liệu chỉ được coi là hoàn tất về mặt tổ chức khi bốn điều kiện được đáp ứng: nguồn thông tin có thể kiểm chứng; bên nhận xác nhận đã tiếp nhận; dữ liệu có thể được sử dụng cho nhiệm vụ hợp pháp được giao; trách nhiệm cập nhật và phản hồi về sai lệch được ghi nhận. Điều kiện cuối cùng đặc biệt quan trọng vì việc bên nhận sử dụng dữ liệu không làm chấm dứt trách nhiệm của bên tạo lập đối với các sai sót thuộc phạm vi quản lý của mình.

3.4. Kiểm soát tiến độ và kết quả qua trường hợp Cần Thơ

Quyết định số 69/2026/QĐ-UBND ngày 01/7/2026 của Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ quy định về trình tự, thủ tục hành chính về đất đai theo yêu cầu tại Điều 15 Nghị định số 49/2026/NĐ-CP ngày 31/01/2026. Quy trình đăng ký đất đai lần đầu có yêu cầu cấp giấy chứng nhận đối với cá nhân, cộng đồng dân cư và hộ gia đình đang sử dụng đất cho thấy chuỗi công việc gồm tiếp nhận, xác minh, xác định điều kiện, thực hiện nghĩa vụ tài chính, cấp và trao giấy, sau đó lập, cập nhật, chỉnh lý hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu đất đai (Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ, 2026a).

Việc trao giấy cho người sử dụng đất và việc hoàn tất cập nhật địa chính là hai mốc trách nhiệm khác nhau, dù có thể diễn ra trong cùng một ngày. Bởi vậy, trạng thái “đã trả kết quả” chưa đủ để khẳng định rằng mọi nghĩa vụ quản lý gắn với hồ sơ đã kết thúc. Cần có chỉ báo riêng cho hồ sơ đã trả giấy nhưng chưa được cập nhật, đồng thời ghi rõ nguyên nhân và chủ thể chịu trách nhiệm. Quyết định số 4009/QĐ-UBND ngày 10/8/2026 chỉ đính chính lỗi chính tả và lỗi kỹ thuật trong trình bày của quyết định nêu trên; văn bản này không phải là bằng chứng về sai lệch dữ liệu địa chính hoặc về chất lượng giải quyết hồ sơ (Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ, 2026b).

Kiểm soát tiến độ cần trả lời thời gian chờ phát sinh ở đâu và vì sao. Tỷ lệ hồ sơ đúng hạn là chỉ báo cần thiết nhưng không phân biệt được thời gian xác minh, thời gian phối hợp, thời gian người dân thực hiện nghĩa vụ tài chính và thời gian cập nhật dữ liệu. Văn bản hợp nhất số 6050/2026/VBHN-NĐ-BTP ngày 06/8/2026 hợp nhất các quy định về theo dõi, đôn đốc và trách nhiệm phối hợp trong cơ chế một cửa (Bộ Tư pháp, 2026). Nhật ký điện tử về thời điểm giao, nhận và người phụ trách tạo khả năng truy vết, nhưng chỉ có giá trị giải trình khi một chủ thể có thẩm quyền xem xét nguyên nhân, yêu cầu khắc phục và kiểm tra kết quả.

Ngày 07/9/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường yêu cầu chấm dứt tình trạng trả hồ sơ nhiều lần; trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ phải hướng dẫn một lần đối với các nội dung cần bổ sung (Báo Điện tử Chính phủ, 2026). Đây là bằng chứng về một rủi ro quản trị đã được cơ quan có thẩm quyền nhận diện, chứ không phải là số liệu xác định tỷ lệ vi phạm trên toàn quốc. Để chuyển yêu cầu này thành chỉ số quản lý, hệ thống cần ghi lại số lần yêu cầu bổ sung, nội dung bổ sung, căn cứ pháp lý và đơn vị phát sinh yêu cầu. Khi đó mới có thể phân biệt giữa hồ sơ phức tạp về mặt khách quan với việc hướng dẫn không đầy đủ hoặc phối hợp nội bộ chậm.

Đánh giá kết quả phải kết hợp cả thời gian, chất lượng và chi phí. Một hồ sơ giải quyết nhanh nhưng phải bổ sung nhiều lần, bị chuyển sai hoặc chưa cập nhật địa chính vẫn tạo ra chi phí chưa được phản ánh trong chỉ tiêu về thời hạn. Ngược lại, hồ sơ có tình tiết pháp lý phức tạp có thể cần nhiều thời gian hơn; tính phức tạp phải được ghi nhận theo tiêu chí, không thể dùng như một lý do chung để loại trừ trách nhiệm đối với hồ sơ quá hạn. Vì vậy, đơn vị quản lý cần phân nhóm thủ tục và nguyên nhân trước khi so sánh hiệu quả.

4. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện thẩm quyền

4.1. Phân công theo sản phẩm, điểm chuyển giao và kết quả

Cơ quan có thẩm quyền cần rà soát từng nhóm nhiệm vụ theo 3 lớp: chủ thể quyết định; chủ thể tạo lập căn cứ; chủ thể tổ chức thực hiện và cập nhật kết quả. Quy chế phối hợp phải xác định sản phẩm đầu ra, tiêu chuẩn sử dụng, thời hạn phản hồi và trách nhiệm khi sản phẩm không đáp ứng yêu cầu. Với hồ sơ chuyển tiếp, biên bản hoặc dữ liệu bàn giao cần thể hiện phần việc đã hoàn thành, các căn cứ đã kiểm tra, các vấn đề chưa thống nhất và người chịu trách nhiệm ở bước tiếp theo. Cách phân công này không làm thay đổi thẩm quyền pháp lý mà chỉ cụ thể hóa trách nhiệm trong quá trình vận hành.

Đối với thủ tục liên cơ quan, nên chỉ định đầu mối theo dõi toàn bộ vòng đời hồ sơ trong cơ chế một cửa. Đầu mối có trách nhiệm cảnh báo, yêu cầu phản hồi và báo cáo chậm phối hợp; không thay thế trách nhiệm chuyên môn hoặc quyền quyết định của cơ quan xử lý. Cảnh báo chỉ được đóng khi đã có phản hồi hợp lệ và đã xác định được người tiếp tục thực hiện. Việc gửi thư nhắc tiến độ không nên được coi là hoàn thành trách nhiệm điều phối.

4.2. Đánh giá và hỗ trợ năng lực theo nhiệm vụ

Nhu cầu hỗ trợ cần được xác định dựa trên các sản phẩm chưa đáp ứng được yêu cầu. Cơ quan chuyên môn, cơ quan nội vụ và cơ quan địa phương có thể lập ma trận nhiệm vụ – năng lực cho các nhóm công việc như xác minh nguồn gốc, đo đạc, định giá, thẩm định, nghĩa vụ tài chính, cập nhật dữ liệu và vận hành hệ thống. Mỗi khoảng thiếu phải gắn với biện pháp cụ thể: đào tạo theo hồ sơ mẫu; hướng dẫn nghiệp vụ; hỗ trợ chuyên gia có thời hạn; cấp quyền truy cập; hoặc điều chỉnh phần mềm. Kết quả hỗ trợ được đánh giá bằng chất lượng sản phẩm và mức giảm lỗi tái diễn, chứ không chỉ bằng số lượng người tham dự.

Cần duy trì kênh tham vấn cho các vụ việc phức tạp nhưng kiểm soát việc xin ý kiến thường xuyên. Hệ thống nên phân biệt giữa tham vấn bắt buộc theo pháp luật, tham vấn đối với vấn đề mới và yêu cầu hỗ trợ do thiếu năng lực. Thông tin này giúp cơ quan quản lý nhận diện nội dung cần hướng dẫn chung, đồng thời tránh biến việc hỗ trợ thành một cấp phê duyệt không được pháp luật quy định.

4.3. Quản trị dữ liệu theo nguồn và mục đích sử dụng

Mỗi nhóm dữ liệu cần có cơ quan quản lý nguồn, quy tắc cập nhật, quyền khai thác và cơ chế phản hồi về các sai lệch. Khi một đơn vị phát hiện dữ liệu không thống nhất, việc sửa tạm trong hồ sơ phải đi kèm với yêu cầu xác minh và cập nhật tại nguồn theo đúng thẩm quyền. Nhật ký phải ghi phiên bản dữ liệu, thời điểm, người thực hiện và căn cứ thay đổi. Dữ liệu được liên thông chỉ nên cung cấp các trường cần thiết cho nhiệm vụ, có kiểm soát quyền truy cập và thời hạn lưu giữ.

Việc triển khai Nghị định số 309/2026/NĐ-CP ngày 05/8/2026, Nghị định số 310/2026/NĐ-CP ngày 05/8/2026 và Quyết định số 441/QĐ-BNNMT ngày 02/02/2026 cần được chuyển thành quy trình triển khai tại địa phương. Khi hệ thống không khai thác được dữ liệu, cơ quan giải quyết phải ghi nhận nguyên nhân thuộc về sự cố, dữ liệu chưa chính xác hoặc chưa được công bố kết nối. Chỉ sau bước này mới xác định được việc yêu cầu người dân bổ sung có phù hợp hay không. Cách làm đó vừa bảo vệ quyền của người thực hiện thủ tục, vừa tạo dữ liệu để ưu tiên khắc phục các điểm nghẽn về kỹ thuật.

4.4. Thiết lập bộ chỉ số kiểm soát tiến độ và trách nhiệm giải trình

Bộ chỉ số nên được tách thành kết quả thị trường, kết quả thủ tục và kết quả quản trị. Đối với thủ tục cấp giấy chứng nhận, nhóm chỉ số cơ bản gồm: trung vị thời gian từ tiếp nhận đến trả kết quả; thời gian đã trôi qua của hồ sơ chưa hoàn thành; tỷ lệ quá hạn; thời gian chờ theo nguyên nhân; số lần bổ sung; tỷ lệ chuyển sai; lỗi chuyên môn được xác nhận; và tỷ lệ hồ sơ đã trả kết quả nhưng chưa cập nhật địa chính. Mỗi chỉ số phải có định nghĩa, điểm bắt đầu, điểm kết thúc, mẫu số, nguồn dữ liệu và đơn vị chịu trách nhiệm.

Có thể thí điểm bộ chỉ số trong 3 tháng tại một số đơn vị có khối lượng hồ sơ đủ lớn. Ba tháng chỉ phù hợp để kiểm tra khả năng ghi nhận và vận hành, chưa đủ để kết luận về hiệu quả dài hạn. Đánh giá trước và sau thí điểm phải kiểm soát mức độ phức tạp của hồ sơ, thay đổi nhân lực, quy định pháp luật và các sự cố hệ thống. Chênh lệch quan sát được cần được coi là tín hiệu để kiểm tra, không tự động được quy toàn bộ cho biện pháp thí điểm.

Công khai kết quả cần đi kèm với cơ chế giải trình. Báo cáo nên nêu rõ nguyên nhân chủ yếu, biện pháp khắc phục, cơ quan phụ trách và thời hạn hoàn thành. Quyết định phải điều chỉnh do lỗi đã xác nhận cần được tách khỏi các điều chỉnh do quy định hoặc điều kiện khách quan thay đổi. Việc phân loại này giúp sử dụng dữ liệu kiểm tra để cải tiến quy trình và phân công trách nhiệm, thay vì chỉ tăng số lượng báo cáo.

5. Kết luận

Hiệu quả thực hiện thẩm quyền trong quản lý đất đai không chỉ dừng lại ở việc giao đúng quyền cho đúng chủ thể. Kết quả quản lý còn phụ thuộc vào tính liên tục của trách nhiệm, năng lực phù hợp với nhiệm vụ, dữ liệu có thể kiểm chứng và cơ chế kiểm soát tiến độ cho đến khi quyết định được thi hành và thông tin được cập nhật. Khung pháp lý giai đoạn 2025-2026 đã làm rõ hơn thẩm quyền trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp, đồng thời yêu cầu đơn giản hóa thủ tục và trách nhiệm khai thác dữ liệu. Trọng tâm tiếp theo là chuyển các quy định này thành quy trình có thể truy vết và đo lường được.

Bốn nhóm giải pháp có quan hệ hỗ trợ lẫn nhau: phân công theo sản phẩm và điểm chuyển giao; đánh giá năng lực theo nhiệm vụ; quản trị dữ liệu theo nguồn và mục đích sử dụng; kiểm soát tiến độ bằng bộ chỉ số được định nghĩa thống nhất. Bài viết sử dụng tài liệu thứ cấp và một quy trình địa phương để minh họa, nên chưa đo lường được tác động của từng công cụ. Nghiên cứu tiếp theo cần khai thác dữ liệu hồ sơ theo địa phương, nhóm thủ tục và loại chủ thể để đánh giá chi phí tuân thủ, thời gian chờ, lỗi lặp lại và mức độ khắc phục quyền lợi của người sử dụng đất.

Tài liệu tham khảo:
Báo Điện tử Chính phủ (07/9/2026). Kiểm soát chặt chẽ quy trình tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính về đất đai. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/kiem-soat-chat-che-quy-trinh-tiep-nhan-giai-quyet-thu-tuc-hanh-chinh-ve-dat-dai-119260907163551962.htm
Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2026a). Văn bản hợp nhất số 41/VBHN-BNNMT ngày 02/4/2026 quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp, phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực đất đai.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2026b). Quyết định số 441/QĐ-BNNMT ngày 02/02/2026 về việc công bố và hướng dẫn kết nối để khai thác, sử dụng dữ liệu thông tin về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất thay thế thành phần hồ sơ trong giải quyết thủ tục hành chính.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2026c). Chiến dịch dữ liệu đất đai mở đường cho chuyển đổi số. https://dinre.mae.gov.vn/Pages/chi-tiet-tin-tuc.aspx?ItemID=2858
Bộ Tư pháp (2026). Văn bản hợp nhất số 6050/2026/VBHN-NĐ-BTP ngày 06/8/2026 về việc thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia. https://vanban.chinhphu.vn/?docid=219227&pageid=27160
Bovens, M. (2007). Analyzing and assessing accountability: A conceptual framework. European Law Journal, 13(4), 447–468. https://doi.org/10.1111/j.1468-0386.2007.00378.x
Chính phủ (2025a). Nghị định số 118/2025/NĐ-CP ngày 09/6/2025 về việc thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia.
Chính phủ (2025b). Nghị định số 151/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp, phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực đất đai.
Chính phủ (2025c). Nghị định số 367/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 118/2025/NĐ-CP.
Chính phủ (2026a). Nghị định số 49/2026/NĐ-CP ngày 31/01/2026 quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Nghị quyết số 254/2025/QH15.
Chính phủ (2026b). Nghị định số 50/2026/NĐ-CP ngày 31/01/2026 quy định chi tiết một số điều của Nghị quyết số 254/2025/QH15 về tiền sử dụng đất và tiền thuê đất.
Chính phủ (2026c). Nghị định số 309/2026/NĐ-CP ngày 05/8/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 118/2025/NĐ-CP.
Chính phủ (2026d). Nghị định số 310/2026/NĐ-CP ngày 05/8/2026 sửa đổi, bổ sung quy định về việc thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử.
Cục Quản lý đất đai (20/10/2026a). Tiếp tục rà soát, cắt giảm và đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai. https://qldd.mae.gov.vn/tiep-tuc-ra-soat-cat-giam-don-gian-hoa-thu-tuc-hanh-chinh-trong-linh-vuc-dat-dai-3698.htm
Cục Quản lý đất đai (22/10/2026b). Tỉnh Vĩnh Long đẩy mạnh chuẩn hóa, đồng bộ hóa cơ sở dữ liệu đất đai. https://qldd.mae.gov.vn/tin-hoat-dong-dia-phuong/tinh-vinh-long-day-manh-chuan-hoa-dong-bo-co-so-du-lieu-dat-dai-3711.htm
Huỳnh Văn Chương, Trần Thị Minh Châu, Hồ Việt Hoàng, Trần Thị Ánh Tuyết, & Lê Ly Đa (2021). Đánh giá tình hình thực hiện công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân tại huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk. Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 130(3A), 127–137. https://doi.org/10.26459/hueunijard.v130i3A.5960
Janenova, S., & Kim, P. S. (2016). Innovating public service delivery in transitional countries: The case of one-stop shops in Kazakhstan. International Journal of Public Administration, 39(4), 323–333. https://doi.org/10.1080/01900692.2015.1064445
OECD (2019). Making decentralization work: A handbook for policy-makers. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/g2g9faa7-en
Quốc hội (2024). Luật Đất đai năm 2024.
Quốc hội (2025a). Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025.
Quốc hội (2025b). Nghị quyết số 254/2025/QH15 ngày 11/12/2025 quy định một số cơ chế, chính sách nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong việc tổ chức thi hành Luật Đất đai.
Tô Trọng Mạnh (11/5/2026). Phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình trong xây dựng chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/05/11/phan-cap-phan-quyen-gan-voi-trach-nhiem-giai-trinh-trong-xay-dung-chinh-quyen-dia-phuong-hai-cap-o-viet-nam/
Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ (2026a). Quyết định số 69/2026/QĐ-UBND ngày 01/7/2026 quy định về trình tự, thủ tục hành chính về đất đai trên địa bàn thành phố Cần Thơ.
Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ (2026b). Quyết định số 4009/QĐ-UBND ngày 10/8/2026 về việc đính chính Quyết định số 69/2026/QĐ-UBND.
Wu, X., Ramesh, M., & Howlett, M. (2015). Policy capacity: A conceptual framework for understanding policy competences and capabilities. Policy and Society, 34(3–4), 165–171. https://doi.org/10.1016/j.polsoc.2015.09.001