Translating central-level development orientations into implementation activities and business support in Hai Phong City
ThS. Trần Văn Hải
UBND phường An Phong, thành phố Hải Phòng
Email: tranvanhaiqd@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích quá trình chuyển hóa các định hướng phát triển của Trung ương thành các hoạt động tổ chức thực hiện và hỗ trợ doanh nghiệp tại thành phố Hải Phòng, tập trung vào các khu công nghiệp, khu kinh tế thuộc phạm vi quản lý của Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng. Trên cơ sở phân tích văn bản chính sách và đối chiếu ba báo cáo hành chính giai đoạn 2023 – 2025, nghiên cứu xem xét năm nhóm hoạt động: cụ thể hóa chủ trương; cải cách thủ tục hành chính; chuyển đổi số; phát triển hạ tầng, xúc tiến đầu tư; và giải quyết khó khăn của doanh nghiệp, bài viết đề xuất hệ thống theo dõi kết quả thực thi dựa trên chất lượng phục vụ, thời gian xử lý và hiệu quả phối hợp liên cơ quan.
Từ khóa: Thực thi chính sách; nghị quyết Trung ương; hỗ trợ doanh nghiệp; cải cách hành chính; đầu tư trực tiếp nước ngoài; Hải Phòng.
Abstract: This article analyzes the process of translating the Central Government’s development guidelines into organizational implementation activities and business support initiatives in Haiphong City, focusing on industrial parks and economic zones under the jurisdiction of the Haiphong Economic Zone Management Board. Based on an analysis of policy documents and a comparison of three administrative reports for the 2023–2025 period, the study examines five groups of activities: operationalizing policy directives; administrative procedure reform; digital transformation; infrastructure development and investment promotion; and addressing business challenges. The article proposes a system for monitoring implementation outcomes based on service quality, processing time, and the effectiveness of interagency coordination.
Keywords: Policy implementation; Central Government resolutions; business support; administrative reform; foreign direct investment; Hai Phong.
1. Đặt vấn đề
Những năm gần đây, Hải Phòng ghi nhận nhiều kết quả đáng chú ý trong công tác thu hút đầu tư, đặc biệt tại các khu công nghiệp và khu kinh tế. Theo Báo cáo số 5716/BC-BQL của Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng, năm 2024, tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thu hút vào các khu công nghiệp, khu kinh tế ước đạt 4,2 tỷ USD, tương đương 210% kế hoạch năm (Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng, 2024). Đến năm 2025, Báo cáo số 6643/BC-BQL tiếp tục ghi nhận tổng vốn FDI thu hút ước đạt 3,5 tỷ USD, chiếm khoảng 94% tổng vốn FDI thu hút của toàn thành phố (Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng, 2025). Những số liệu này cho thấy vai trò quan trọng của các khu công nghiệp, khu kinh tế trong hoạt động thu hút đầu tư và phát triển kinh tế của Hải Phòng. Đồng thời, kết quả này cũng đặt ra yêu cầu xem xét sâu hơn về cách thức các cơ quan quản lý địa phương tổ chức thực hiện các chủ trương phát triển, cải thiện môi trường đầu tư và hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình triển khai dự án.
Trên cơ sở nghiên cứu, bài viết tập trung phân tích quá trình chuyển hóa các định hướng, chủ trương của Trung ương thành hoạt động tổ chức thực hiện và hỗ trợ doanh nghiệp tại thành phố Hải Phòng, với trọng tâm là các khu công nghiệp, khu kinh tế thuộc phạm vi quản lý của Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng. Thông qua phân tích văn bản chính sách và đối chiếu với các báo cáo hành chính giai đoạn 2023 – 2025, nghiên cứu xem xét việc cụ thể hóa chủ trương phát triển, cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số, phát triển hạ tầng, xúc tiến đầu tư và tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Từ đó, đánh giá các kết quả đạt được, nhận diện những hạn chế trong quá trình tổ chức thực hiện và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi chính sách, tăng cường phối hợp liên cơ quan và cải thiện chất lượng hỗ trợ doanh nghiệp trong thời gian tới.
2. Khái quát tình hình phát triển công nghiệp và đầu tư tại Hải Phòng
Hải Phòng giữ vị trí quan trọng trong phát triển công nghiệp, kinh tế biển và dịch vụ logistics của vùng Đồng bằng sông Hồng và của cả nước. Với lợi thế về vị trí địa lý, hệ thống cảng biển, mạng lưới giao thông kết nối liên vùng và các khu công nghiệp, khu kinh tế, thành phố đã từng bước hình thành môi trường thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và thu hút đầu tư, đặc biệt là đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) (Thủ tướng Chính phủ, 2024). Trong những năm gần đây, phát triển công nghiệp và thu hút đầu tư tiếp tục là những nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của thành phố, gắn với định hướng mở rộng không gian công nghiệp, hiện đại hóa cơ sở hạ tầng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và cải thiện môi trường đầu tư. Các khu công nghiệp, khu kinh tế đóng vai trò quan trọng trong quá trình này, vừa là địa bàn tập trung các dự án sản xuất công nghiệp, vừa là không gian triển khai các chính sách về đầu tư, quy hoạch, xây dựng và hỗ trợ doanh nghiệp.
Giai đoạn 2023 – 2025 ghi nhận những kết quả đáng chú ý trong hoạt động thu hút FDI tại các khu công nghiệp, khu kinh tế thuộc phạm vi quản lý của Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng. Theo báo cáo năm 2023, trong 11 tháng, tổng vốn FDI thu hút đạt khoảng 3,102 tỷ USD; lũy kế có 511 dự án FDI với tổng vốn đăng ký khoảng 25,933 tỷ USD (Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng, 2023). Đến năm 2024, tổng vốn FDI thu hút ước đạt 4,2 tỷ USD, tương đương 210% kế hoạch năm. Số dự án FDI lũy kế đạt 592 dự án với tổng vốn đăng ký khoảng 28,95 tỷ USD (Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng, 2024). Những kết quả này phản ánh quy mô đáng kể của dòng vốn đầu tư nước ngoài vào các khu công nghiệp, khu kinh tế, đồng thời cho thấy vai trò của khu vực công nghiệp trong hoạt động thu hút đầu tư của thành phố.
Đến năm 2025, theo Báo cáo số 6643/BC-BQL, số dự án FDI lũy kế trong phạm vi quản lý được báo cáo ước đạt 1.022 dự án với tổng vốn đăng ký khoảng 43 tỷ USD. Mặc dù quy mô dự án và vốn đầu tư lũy kế được ghi nhận cao hơn so với năm 2024, sự thay đổi về phạm vi địa bàn và quản lý hành chính trong năm 2025 khiến các số liệu giữa hai giai đoạn không hoàn toàn tương đồng (Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng, 2025). Vì vậy, chênh lệch về số lượng dự án và tổng vốn đăng ký không thể được diễn giải trực tiếp như mức tăng trưởng thuần túy của hoạt động thu hút đầu tư. Việc đối chiếu số liệu cần được đặt trong bối cảnh điều chỉnh địa giới hành chính, tổ chức bộ máy và phạm vi quản lý của cơ quan báo cáo, qua đó phân biệt sự gia tăng thực tế của hoạt động đầu tư với những thay đổi về phạm vi thống kê.
Song song với hoạt động thu hút đầu tư, Hải Phòng tiếp tục chú trọng phát triển hệ thống khu công nghiệp, khu kinh tế nhằm đáp ứng nhu cầu mở rộng sản xuất và tạo quỹ đất phục vụ các dự án đầu tư mới. Theo báo cáo năm 2023, thành phố định hướng phát triển thêm 15 khu công nghiệp với tổng diện tích hơn 6.200 ha. Đây là nội dung định hướng quy hoạch, phản ánh kế hoạch mở rộng không gian phát triển công nghiệp trong dài hạn, không đồng nghĩa với việc toàn bộ các khu công nghiệp đã được thành lập, hoàn thành xây dựng hoặc đưa vào hoạt động. Đến năm 2025, báo cáo của Ban Quản lý ghi nhận 44 khu công nghiệp với tổng diện tích khoảng 12.082 ha trong phạm vi quản lý tại thời điểm báo cáo. Số liệu này cho thấy quy mô không gian công nghiệp thuộc phạm vi quản lý được báo cáo, nhưng không thể sử dụng riêng để xác định diện tích khu công nghiệp tăng thêm từ hoạt động đầu tư xây dựng trong giai đoạn 2023 – 2025 do sự thay đổi về địa bàn thống kê (Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng, 2025).
Việc mở rộng không gian công nghiệp cũng đặt ra những yêu cầu ngày càng lớn đối với công tác quy hoạch, giải phóng mặt bằng, đầu tư hạ tầng kỹ thuật và sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước. Trong 6 tháng đầu năm 2026, Ban Quản lý tiếp tục phối hợp với các sở, ngành và chính quyền địa phương để theo dõi tiến độ triển khai hạ tầng tại 16 khu công nghiệp. Tính đến ngày 16/6/2026, tiến độ giải phóng mặt bằng giữa các dự án còn có sự khác biệt đáng kể, từ những khu công nghiệp đã hoàn thành hoặc gần hoàn thành đến các dự án có tỷ lệ giải phóng mặt bằng còn thấp, như khu công nghiệp Tiên Lãng 1 đạt 1%, khu công nghiệp Hoàng Diệu đạt 17% và khu công nghiệp Sân bay Tiên Lãng (Khu B) đạt 25%. Những số liệu này cho thấy khoảng cách giữa việc hình thành chủ trương, phê duyệt dự án và việc hoàn thiện các điều kiện để triển khai đầu tư trên thực tế (Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng, 2026).
Bên cạnh điều kiện hạ tầng, hoạt động thu hút đầu tư tại Hải Phòng còn chịu tác động từ những biến động của môi trường kinh tế quốc tế. Với sự hiện diện của nhiều doanh nghiệp FDI hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất hàng xuất khẩu, điện tử, cơ khí chính xác và công nghiệp hỗ trợ, hoạt động sản xuất, kinh doanh tại các khu công nghiệp, khu kinh tế có mối liên hệ chặt chẽ với thị trường và chuỗi cung ứng toàn cầu. Báo cáo số 3465/BC-BQL năm 2026 ghi nhận những tác động từ thay đổi chính sách thuế quan của Hoa Kỳ, biến động giá năng lượng, chi phí vận tải và bất ổn địa chính trị đối với kế hoạch đầu tư và mở rộng sản xuất của doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp đã điều chỉnh tiến độ hoặc cân nhắc lại kế hoạch đầu tư để ứng phó với các rủi ro trên thị trường. Điều này cho thấy kết quả thu hút FDI không chỉ phụ thuộc vào điều kiện và chính sách của địa phương mà còn chịu ảnh hưởng từ các yếu tố kinh tế, chính trị nằm ngoài phạm vi điều hành trực tiếp của chính quyền thành phố.
Nhìn chung, các báo cáo hành chính giai đoạn 2023 – 2025 cho thấy vai trò quan trọng của các khu công nghiệp, khu kinh tế trong việc thu hút đầu tư và phát triển công nghiệp tại Hải Phòng. Tuy nhiên, những kết quả được ghi nhận về vốn FDI, số lượng dự án và quy mô khu công nghiệp cần được phân tích trong mối tương quan với điều kiện thị trường, những thay đổi về phạm vi quản lý và tiến độ triển khai thực tế. Các chỉ tiêu kinh tế cung cấp cơ sở để nhận diện quy mô và xu hướng phát triển, nhưng chưa đủ để xác định mức độ đóng góp trực tiếp của từng chính sách hoặc biện pháp quản lý. Do đó, việc đánh giá quá trình tổ chức thực hiện các chủ trương của Trung ương tại Hải Phòng cần chuyển trọng tâm từ kết quả thu hút đầu tư sang các hoạt động quản trị cụ thể, bao gồm cụ thể hóa chính sách, phân công trách nhiệm, cải cách thủ tục hành chính, phát triển hạ tầng và hỗ trợ doanh nghiệp. Đây là cơ sở để phân tích sâu hơn các kết quả, khó khăn và hạn chế trong quá trình thực thi chính sách tại các khu công nghiệp và khu kinh tế của thành phố.
3. Thực trạng tổ chức thực hiện nghị quyết và hỗ trợ doanh nghiệp
3.1. Cụ thể hóa chủ trương Trung ương thành chương trình, quy hoạch và nhiệm vụ
Quá trình tổ chức thực hiện các chủ trương của Trung ương tại thành phố Hải Phòng được thể hiện thông qua việc xây dựng chương trình hành động, hoàn thiện hệ thống quy hoạch và phân công nhiệm vụ cho các cơ quan quản lý nhà nước. Trong đó, Nghị quyết số 45-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đóng vai trò định hướng chiến lược, xác lập các mục tiêu phát triển công nghiệp, kinh tế biển, dịch vụ logistics và nâng cao năng lực cạnh tranh của thành phố (Bộ Chính trị, 2019). Trên cơ sở đó, Chương trình hành động số 76 được dẫn chiếu trong báo cáo năm 2023 là một trong những văn bản cụ thể hóa chủ trương của Trung ương thành các nhiệm vụ phát triển ở địa phương. (Ban Thường vụ Thành ủy Hải Phòng, 2019). Mối liên hệ giữa nghị quyết và chương trình hành động cho thấy bước chuyển từ định hướng phát triển ở cấp Trung ương sang việc xác định mục tiêu, nhiệm vụ và trách nhiệm tổ chức thực hiện ở cấp thành phố.
Việc cụ thể hóa các chủ trương phát triển tiếp tục được thể hiện thông qua hệ thống quy hoạch, tạo cơ sở pháp lý và định hướng không gian cho hoạt động đầu tư. Quyết định số 1516/QĐ-TTg và Quyết định số 323/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ xác lập các nội dung quy hoạch liên quan đến định hướng phát triển kinh tế – xã hội, tổ chức không gian đô thị và phát triển công nghiệp tại Hải Phòng (Thủ tướng Chính phủ, 2023a; 2023b).
Việc phát triển khu thương mại tự do đặt ra những yêu cầu mới đối với công tác quản lý, đặc biệt trong việc xây dựng cơ chế phối hợp, hoàn thiện các quy định áp dụng và chuẩn bị các điều kiện nhằm thu hút đầu tư. Khác với các hoạt động quản lý khu công nghiệp truyền thống, việc triển khai khu thương mại tự do đòi hỏi sự phối hợp giữa nhiều lĩnh vực, bao gồm đầu tư, thương mại, hải quan, logistics, đất đai và hạ tầng. Do đó, hiệu quả thực thi không chỉ phụ thuộc vào việc ban hành các quyết định liên quan mà còn gắn với khả năng xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm và quy trình phối hợp giữa các cơ quan trong quá trình triển khai (UBND thành phố Hải Phòng, 2026).
Từ những nội dung trên, có thể nhận diện quá trình cụ thể hóa chủ trương của Trung ương tại Hải Phòng thông qua 3 bước có quan hệ với nhau: xác lập định hướng phát triển; thể chế hóa thành các quyết định và quy hoạch; và tổ chức triển khai thông qua phân công nhiệm vụ, phối hợp liên cơ quan và chuẩn bị điều kiện đầu tư. Tuy nhiên, mức độ hoàn thiện của văn bản và số lượng nhiệm vụ được giao chưa đủ để đánh giá toàn diện hiệu quả thực thi. Điều cần tiếp tục xem xét là các nhiệm vụ này đã được triển khai đến đâu, những khó khăn nào phát sinh trong quá trình phối hợp, và việc cụ thể hóa chính sách đã tạo ra những thay đổi như thế nào đối với điều kiện đầu tư và hoạt động của doanh nghiệp.
3.2. Cải cách thủ tục hành chính và nâng cao chất lượng phục vụ
Cải cách thủ tục hành chính là một trong những nội dung trọng tâm trong quá trình tổ chức thực hiện các chủ trương phát triển kinh tế và cải thiện môi trường đầu tư tại thành phố Hải Phòng. Đối với các khu công nghiệp và khu kinh tế, hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt trong các lĩnh vực đăng ký đầu tư, quy hoạch, xây dựng, môi trường và lao động. Những thủ tục này không chỉ liên quan đến việc gia nhập thị trường mà còn ảnh hưởng đến tiến độ triển khai dự án, việc mở rộng sản xuất và việc thực hiện các nghĩa vụ pháp lý trong quá trình hoạt động. Vì vậy, cải cách hành chính cần được xem xét không chỉ thông qua việc cắt giảm thời gian xử lý hồ sơ mà còn thông qua việc chuẩn hóa quy trình, tăng tính minh bạch, xác định rõ trách nhiệm của cơ quan quản lý và nâng cao chất lượng phục vụ doanh nghiệp.
Trong năm 2023, Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng đã triển khai các biện pháp cải cách nhằm đơn giản hóa và chuẩn hóa quy trình giải quyết thủ tục hành chính. Theo báo cáo năm 2023, thời gian xử lý nội bộ được cắt giảm 23%, đồng thời 50 trong tổng số 59 thủ tục hành chính được triển khai trực tuyến ở mức độ 3 và 4. Đáng chú ý, Quyết định số 3598/QĐ-BQL ngày 20/7/2023 về chuẩn hóa quy trình nội bộ giải quyết thủ tục hành chính đã tạo cơ sở cho việc thống nhất các bước xử lý công việc trong phạm vi quản lý của Ban (Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng, 2023).
Đến năm 2024, công tác cải cách hành chính tiếp tục được triển khai với những kết quả cụ thể hơn được ghi nhận. Ban Quản lý đã hoàn thành 43/43 nhiệm vụ cải cách hành chính theo kế hoạch, đồng thời giảm bình quân 20% thời gian giải quyết thủ tục so với năm 2023 (Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng, 2024). Kết quả này phản ánh việc duy trì các hoạt động cải cách trong công tác quản lý thường xuyên, thay vì chỉ tập trung vào việc ban hành văn bản hoặc điều chỉnh quy trình tại một thời điểm nhất định.
Đến năm 2025, việc ứng dụng dịch vụ công trực tuyến tiếp tục được mở rộng trong hoạt động tiếp nhận và xử lý hồ sơ. Trong tháng 12/2025, Ban Quản lý ghi nhận 1.343 hồ sơ được tiếp nhận, trong đó 100% được thực hiện trực tuyến; đồng thời có 974 hồ sơ được giải quyết trước hạn và 6 hồ sơ quá hạn. Những số liệu này cho thấy mức độ ứng dụng phương thức tiếp nhận điện tử trong hoạt động hành chính, đồng thời cung cấp thông tin về tiến độ xử lý một bộ phận hồ sơ (Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng, 2025).
Nhìn từ góc độ tổ chức thực hiện chính sách, những kết quả trong giai đoạn 2023–2025 cho thấy sự chuyển dịch từ cải cách quy trình nội bộ sang mở rộng cung cấp dịch vụ công trực tuyến và theo dõi kết quả xử lý hồ sơ.
Bên cạnh việc cải cách quy trình, nâng cao chất lượng phục vụ còn đòi hỏi sự chủ động của cơ quan quản lý trong việc cung cấp thông tin, hướng dẫn doanh nghiệp và giải quyết các vướng mắc phát sinh. Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng tiếp tục rà soát, cập nhật và công khai các thủ tục hành chính trên cổng thông tin điện tử và phần mềm eHeza. Đồng thời, Ban Quản lý tổng hợp hằng tháng các khó khăn, kiến nghị của doanh nghiệp để phối hợp với các sở, ngành liên quan hướng dẫn và tháo gỡ. Báo cáo cũng ghi nhận việc cắt giảm 50% thời gian giải quyết các thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý. Những hoạt động này cho thấy cải cách hành chính gắn với công tác hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình hoạt động, đặc biệt thông qua việc công khai thông tin và thiết lập cơ chế tiếp nhận, xử lý kiến nghị (Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng, 2026). Tuy nhiên, mức cắt giảm thời gian được báo cáo năm 2026 cần được đối chiếu với danh mục thủ tục và mốc thời gian áp dụng trước khi so sánh trực tiếp với các chỉ tiêu của giai đoạn 2023 – 2025.
Từ những kết quả trên, có thể nhận diện hai phương diện của cải cách thủ tục hành chính tại các khu công nghiệp, khu kinh tế Hải Phòng. Thứ nhất, cải cách trong nội bộ cơ quan quản lý thể hiện qua việc chuẩn hóa quy trình, phân định trách nhiệm, rút ngắn thời gian xử lý và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin. Thứ hai, cải thiện mối quan hệ giữa cơ quan quản lý và doanh nghiệp thông qua việc mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ công, công khai thông tin và phối hợp giải quyết các khó khăn phát sinh. Hai phương diện này có quan hệ chặt chẽ nhưng không hoàn toàn đồng nhất. Một quy trình hành chính có thể được rút ngắn về thời gian xử lý nội bộ, trong khi doanh nghiệp vẫn phải thực hiện nhiều bước chuẩn bị hồ sơ, bổ sung thông tin hoặc chờ kết quả từ các cơ quan khác. Vì vậy, chất lượng phục vụ cần được đánh giá từ cả phía cơ quan thực hiện và phía doanh nghiệp sử dụng dịch vụ.
3.3. Ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số
Trong giai đoạn 2023 – 2025, Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng đã từng bước triển khai các hoạt động số hóa dữ liệu và phát triển nền tảng quản lý điện tử nhằm hỗ trợ công tác điều hành và cung cấp dịch vụ cho doanh nghiệp. Theo Báo cáo số 5716/BC-BQL năm 2024, công tác số hóa đã ghi nhận tổng cộng 383.642 trang tài liệu và gần 24.000 bộ hồ sơ lũy kế (Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng, 2024).
Một trong những nội dung nổi bật của quá trình chuyển đổi số là việc phát triển và ứng dụng hệ thống eHeza trong công tác quản lý và hỗ trợ doanh nghiệp. Theo báo cáo năm 2024, hệ thống đã ghi nhận hơn 500 doanh nghiệp sử dụng tài khoản. Sự tham gia của doanh nghiệp cho thấy nền tảng này đã được đưa vào sử dụng trong thực tế, tạo thêm kênh tương tác giữa cơ quan quản lý và các đơn vị hoạt động trong khu công nghiệp, khu kinh tế.
Bên cạnh nền tảng eHeza, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động quản lý còn được triển khai ở nhiều lĩnh vực chuyên môn, bao gồm quản lý đầu tư, lao động, tài nguyên và môi trường, xây dựng, quy hoạch và thông tin doanh nghiệp. Đây là những lĩnh vực có mối quan hệ chặt chẽ trong quá trình triển khai và vận hành các dự án tại khu công nghiệp và khu kinh tế.
Từ góc độ tổ chức thực hiện chính sách, chuyển đổi số còn đặt ra yêu cầu thay đổi phương thức phối hợp và trách nhiệm xử lý công việc trong nội bộ cơ quan quản lý. Khi hồ sơ và thông tin được chuyển sang môi trường điện tử, việc nâng cao hiệu quả quản lý không chỉ đòi hỏi hạ tầng công nghệ phù hợp mà còn cần quy định rõ trách nhiệm cập nhật dữ liệu, kiểm tra tính chính xác của thông tin và xử lý các yêu cầu phát sinh.
Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng đã ban hành các kế hoạch triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (Bộ Chính trị, 2024); tổ chức hoạt động tập huấn ứng dụng công nghệ thông tin cho doanh nghiệp; đồng thời thành lập Tổ Công nghệ số để triển khai các nhiệm vụ liên quan đến phát triển khu công nghiệp thông minh và khu công nghiệp sinh thái. Báo cáo cũng ghi nhận đề xuất xây dựng nền tảng “Khu Thương mại tự do số thông minh”, phản ánh định hướng mở rộng việc ứng dụng công nghệ từ quản lý hồ sơ và cung cấp dịch vụ công sang quản trị các không gian kinh tế mới. Tuy nhiên, đây chủ yếu là những hoạt động và nhiệm vụ được ghi nhận trong giai đoạn đầu triển khai, chưa phải là bằng chứng về mức độ hoàn thiện hoặc hiệu quả vận hành của các hệ thống được đề xuất.
Nhìn chung, các kết quả được ghi nhận trong báo cáo năm 2024 cho thấy Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng đã có những bước triển khai cụ thể trong việc số hóa hồ sơ, phát triển nền tảng eHeza và ứng dụng công nghệ thông tin vào nhiều lĩnh vực quản lý chuyên môn. Những hoạt động này tạo cơ sở cho việc hiện đại hóa phương thức quản lý và mở rộng khả năng tương tác giữa cơ quan nhà nước và doanh nghiệp. Tuy nhiên, các chỉ tiêu hiện có chủ yếu phản ánh quy mô và tiến độ triển khai, chưa đủ để đánh giá toàn diện tác động của chuyển đổi số đến hiệu quả quản lý và chất lượng hỗ trợ doanh nghiệp.
3.4. Phát triển hạ tầng khu công nghiệp, khu kinh tế và xúc tiến đầu tư
Trong giai đoạn 2023 – 2025, việc mở rộng không gian phát triển công nghiệp tại Hải Phòng được triển khai thông qua công tác quy hoạch và việc thành lập các khu công nghiệp, khu kinh tế mới. Một trong những dấu mốc quan trọng là Quyết định số 1511/QĐ-TTg ngày 04/12/2024 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Khu kinh tế ven biển phía Nam Hải Phòng (Thủ tướng Chính phủ, 2024). Quyết định này tạo cơ sở pháp lý cho việc phát triển một không gian kinh tế mới, gắn với định hướng mở rộng công nghiệp, dịch vụ cảng biển và logistics của thành phố. Tuy nhiên, việc thành lập khu kinh tế về mặt pháp lý mới là bước khởi đầu của quá trình tổ chức thực hiện. Để đưa khu kinh tế vào hoạt động, các cơ quan có thẩm quyền còn phải triển khai nhiều nhiệm vụ liên quan đến việc lập và phê duyệt quy hoạch, giải phóng mặt bằng, huy động nguồn lực, xây dựng hạ tầng kỹ thuật và thu hút các dự án đầu tư.
Việc phát triển hạ tầng khu công nghiệp, khu kinh tế không chỉ phụ thuộc vào quy hoạch và đầu tư xây dựng mà còn gắn liền với công tác giải phóng mặt bằng và sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý. Đây là những nhiệm vụ mang tính liên ngành, liên quan đến quản lý đất đai, xây dựng, môi trường, đầu tư và chính quyền địa phương. Năm 2026 tiếp tục ghi nhận tình trạng chậm giải phóng mặt bằng tại một số khu công nghiệp, trong đó khu công nghiệp Tiên Lãng 1 đạt tỷ lệ giải phóng mặt bằng 1%, khu công nghiệp Hoàng Diệu đạt 17% và khu công nghiệp Sân bay Tiên Lãng (Khu B) đạt 25% (Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng, 2026). Những khó khăn này cho thấy khoảng cách giữa việc phê duyệt chủ trương đầu tư, chuẩn bị quy hoạch và khả năng bàn giao mặt bằng phục vụ triển khai dự án. Đồng thời, chúng phản ánh yêu cầu tăng cường phối hợp giữa Ban Quản lý Khu kinh tế, các sở, ngành và chính quyền địa phương trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ vượt ra ngoài thẩm quyền xử lý độc lập của một cơ quan.
Song song với việc phát triển hạ tầng, Hải Phòng tiếp tục triển khai các hoạt động xúc tiến đầu tư nhằm quảng bá môi trường kinh doanh, giới thiệu cơ hội đầu tư và kết nối với các doanh nghiệp, nhà đầu tư trong và ngoài nước. Hải Phòng đã thực hiện 24 chương trình xúc tiến đầu tư, trong đó có 4 chương trình được tổ chức ở nước ngoài. Những hoạt động này phản ánh sự chủ động của cơ quan quản lý trong việc tiếp cận các nhà đầu tư tiềm năng và mở rộng quan hệ hợp tác đầu tư (Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng, 2025). Trong bối cảnh cạnh tranh thu hút FDI giữa các địa phương ngày càng gia tăng, xúc tiến đầu tư không chỉ có chức năng cung cấp thông tin về chính sách ưu đãi mà còn góp phần giới thiệu các điều kiện hạ tầng, nguồn nhân lực, khả năng kết nối logistics và định hướng phát triển công nghiệp của thành phố.
3.5. Hỗ trợ doanh nghiệp trong hoạt động và giải quyết vướng mắc
Bên cạnh cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số và phát triển hạ tầng, công tác hỗ trợ doanh nghiệp tại các khu công nghiệp, khu kinh tế Hải Phòng còn được thực hiện thông qua các cơ chế tiếp nhận, phản hồi kiến nghị và phối hợp giải quyết những khó khăn phát sinh trong quá trình đầu tư, sản xuất và kinh doanh. Theo báo cáo năm 2023, Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng đã triển khai hệ thống tiếp nhận, trả lời phản ánh, kiến nghị và công khai đường dây nóng nhằm tạo điều kiện để doanh nghiệp liên hệ với cơ quan quản lý. Đến năm 2024, các hoạt động hỗ trợ tiếp tục được thực hiện thông qua các kênh tiếp xúc, đối thoại và tương tác trực tuyến với doanh nghiệp (Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng, 2024). Những hoạt động này cho thấy việc hỗ trợ doanh nghiệp không chỉ giới hạn ở việc giải quyết thủ tục hành chính mà còn bao gồm việc duy trì trao đổi thông tin, tiếp nhận phản hồi và nhận diện các vấn đề phát sinh trong quá trình thực thi chính sách.
Hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp cũng gắn với việc cải thiện các điều kiện phục vụ sản xuất và điều kiện lao động. Báo cáo năm 2025 ghi nhận việc triển khai các dự án nhà ở xã hội và dự án nhà ở công nhân Pegatron, phản ánh sự quan tâm đến nhu cầu nhà ở và điều kiện sinh hoạt của người lao động tại các khu công nghiệp, khu kinh tế (Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng, 2025). Tuy nhiên, việc triển khai các dự án này cần được phân biệt với kết quả hoàn thành và khả năng đáp ứng nhu cầu nhà ở thực tế. Bên cạnh đó, các báo cáo năm 2023 và 2024 tiếp tục ghi nhận những vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng, cho thấy nhiều khó khăn của doanh nghiệp không thể được giải quyết bởi một cơ quan quản lý riêng lẻ mà đòi hỏi sự phối hợp giữa Ban Quản lý Khu kinh tế, các sở, ngành và chính quyền địa phương.
4. Một số giải pháp
Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế theo dõi và đánh giá tiến độ thực hiện chính sách.
Thông qua việc xây dựng hệ thống giám sát liên thông từ nghị quyết, chương trình hành động đến các nhiệm vụ cụ thể. Mỗi nhiệm vụ cần được xác định rõ cơ quan chủ trì, đơn vị phối hợp, thời hạn thực hiện và kết quả dự kiến. Việc theo dõi không chỉ dừng lại ở tình trạng hoàn thành nhiệm vụ mà còn cần ghi nhận những khó khăn phát sinh, nguyên nhân chậm tiến độ và trách nhiệm xử lý. Cách tiếp cận này giúp tăng tính minh bạch trong việc phân công nhiệm vụ, đồng thời tạo cơ sở để đánh giá năng lực tổ chức thực hiện của các cơ quan quản lý.
Thứ hai, nâng cao tính minh bạch và khả năng đánh giá hiệu quả của cải cách thủ tục hành chính.
Thông qua việc công khai các chỉ tiêu về thời gian xử lý thực tế theo từng loại thủ tục, tỷ lệ hồ sơ phải bổ sung, số lần yêu cầu chỉnh sửa và các nguyên nhân gây chậm trễ. Bên cạnh việc thống kê số lượng hồ sơ tiếp nhận và giải quyết, cần phân biệt thời gian xử lý thuộc trách nhiệm của Ban Quản lý với thời gian chờ do phối hợp với các cơ quan khác. Điều này cho phép xác định rõ những khâu còn gây chậm trễ, từ đó đề xuất điều chỉnh quy trình phù hợp và hạn chế việc đánh giá hiệu quả cải cách chỉ dựa trên mức cắt giảm thời gian theo quy định.
Thứ ba, tiếp tục hoàn thiện nền tảng eHeza theo hướng tăng cường khả năng theo dõi và giải quyết các kiến nghị của doanh nghiệp.
Ngoài chức năng cung cấp thông tin và hỗ trợ tương tác trực tuyến, hệ thống cần cho phép ghi nhận toàn bộ quá trình xử lý kiến nghị, từ thời điểm tiếp nhận, phân công đơn vị phụ trách đến phản hồi và kết quả giải quyết. Việc tích hợp các chỉ tiêu về thời gian phản hồi, tình trạng xử lý và mức độ hoàn thành sẽ tạo điều kiện để doanh nghiệp theo dõi tiến độ, đồng thời giúp cơ quan quản lý nhận diện các vấn đề thường xuyên phát sinh. Tuy nhiên, hiệu quả của nền tảng cần được đánh giá thông qua mức độ sử dụng thực tế và khả năng giải quyết công việc, thay vì chỉ dựa vào số lượng tài khoản hoặc lượng dữ liệu được số hóa.
Thứ tư, tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành trong giải phóng mặt bằng và phát triển hạ tầng khu công nghiệp, khu kinh tế.
Đối với những dự án có sự tham gia của nhiều cơ quan, cần xác định rõ đầu mối điều phối, trách nhiệm của từng đơn vị và thời hạn xử lý các vướng mắc. Đồng thời, việc xây dựng hệ thống theo dõi tiến độ theo từng dự án, bao gồm tình trạng giải phóng mặt bằng, hoàn thiện hạ tầng và các thủ tục liên quan, sẽ giúp cơ quan quản lý chủ động nhận diện nguy cơ chậm tiến độ. Thông tin phù hợp cần được công khai để nhà đầu tư có cơ sở xây dựng kế hoạch triển khai, đồng thời tăng cường trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền.
Thứ năm, thiết lập cơ chế đối thoại và khảo sát doanh nghiệp định kỳ.
Bên cạnh các hội nghị đối thoại, cần tổ chức khảo sát có hệ thống về những khó khăn trong việc thực hiện thủ tục hành chính, tiếp cận đất đai, sử dụng hạ tầng và phối hợp với các cơ quan quản lý. Kết quả khảo sát cần được tổng hợp theo nhóm vấn đề và lĩnh vực quản lý để xác định những khó khăn phổ biến, đồng thời theo dõi mức độ cải thiện qua từng kỳ đánh giá. Việc kết hợp dữ liệu hành chính với phản hồi từ doanh nghiệp sẽ góp phần hạn chế sự phụ thuộc vào báo cáo nội bộ và tạo cơ sở để điều chỉnh chính sách phù hợp hơn với thực tiễn.
Thứ sáu, đổi mới hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng hỗ trợ doanh nghiệp theo hướng chú trọng kết quả thực tế, thay vì chỉ thống kê các hoạt động đã triển khai. Các chỉ tiêu cần bao gồm chi phí tuân thủ thủ tục hành chính, thời gian giải quyết công việc, mức độ hài lòng của doanh nghiệp và khả năng dự đoán về quy trình, thời hạn xử lý. Đặc biệt, cần đánh giá mức độ nhất quán giữa thông tin được công bố và yêu cầu thực tế trong quá trình giải quyết hồ sơ, cũng như khả năng xử lý các vấn đề liên quan đến nhiều cơ quan quản lý. Những tiêu chí này sẽ giúp phản ánh đầy đủ hơn chất lượng phục vụ và xác định các lĩnh vực cần ưu tiên cải thiện.
5. Kết luận
Phân tích các báo cáo giai đoạn 2023 – 2025 cho thấy việc cụ thể hóa chủ trương phát triển tại Hải Phòng được thể hiện không chỉ trong chương trình và quy hoạch, mà còn qua việc chuẩn hóa quy trình, số hóa hồ sơ, phát triển kênh tương tác, xúc tiến đầu tư và xử lý các khó khăn phát sinh. Các chỉ tiêu về vốn đầu tư phản ánh quy mô hoạt động trong phạm vi khu công nghiệp, khu kinh tế, song chưa đủ để chứng minh tác động riêng của một chính sách. Để nâng cao chất lượng đánh giá thực thi, cần bổ sung dữ liệu về trải nghiệm của doanh nghiệp, thời gian giải quyết vướng mắc và hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan. Cách tiếp cận này tạo cơ sở để chuyển từ quản lý theo số lượng công việc sang quản trị theo kết quả phục vụ.
Tài liệu tham khảo:
Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng (2023). Báo cáo số 5557/BC-BQL ngày 16/11/2023 về tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế – xã hội tháng 11 và 11 tháng năm 2023.
Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng (2024). Kế hoạch số 330/KH-BQL ngày 24/01/2024 về công tác cải cách hành chính năm 2024.
Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng (2024). Báo cáo số 5716/BC-BQL ngày 19/12/2024 về tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế – xã hội tháng 12 và năm 2024.
Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng (2025). Báo cáo số 6643/BC-BQL ngày 19/11/2025 về tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế – xã hội tháng 12 và 12 tháng năm 2025.
Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng (2026). Báo cáo số 3465/BC-BQL ngày 12/6/2026 về tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội 6 tháng đầu năm; phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp 6 tháng cuối năm 2026.
Ban Thường vụ Thành ủy Hải Phòng (2019). Chương trình hành động số 76-CTr/TU ngày 08/7/2019 về việc thực hiện Nghị quyết số 45-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Bộ Chính trị (2019). Nghị quyết số 45-NQ/TW ngày 24/01/2019 về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Thủ tướng Chính phủ (2023a). Quyết định số 323/QĐ-TTg ngày 30/3/2023 phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch chung thành phố Hải Phòng đến năm 2040, tầm nhìn đến năm 2050.
Thủ tướng Chính phủ (2023b). Quyết định số 1516/QĐ-TTg ngày 02/12/2023 phê duyệt Quy hoạch thành phố Hải Phòng thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Thủ tướng Chính phủ (2024). Quyết định số 1511/QĐ-TTg ngày 04/12/2024 về việc thành lập Khu kinh tế ven biển phía Nam Hải Phòng.
Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng (2025). Quyết định số 4068/QĐ-UBND ngày 13/10/2025 về việc thành lập Khu thương mại tự do thành phố Hải Phòng.
Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng (2026). Quyết định số 24/2026/QĐ-UBND ngày 13/4/2026 ban hành Quy chế phối hợp thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước tại các khu kinh tế, khu công nghiệp trên địa bàn thành phố và Khu thương mại tự do thành phố Hải Phòng.



