International experiences in regulating the impact of urbanization on rural labor and employment: policy implications for Vietnam
ThS. Nguyễn Thị Ngọc Mai
Học viện Chính trị khu vực 1
Email: Maizin1510@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Trung Quốc và Hàn Quốc là hai quốc gia trong vùng có những yếu tố, như hoàn cảnh địa lý, chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội gần gũi với Việt Nam; đồng thời, cũng là hai mô hình đặc trưng cho cách thức điều tiết tác động của đô thị hóa khác nhau theo tiêu chí phát triển bền vững. Tác giả bài viết lựa chọn giới thiệu kinh nghiệm của Trung Quốc, Hàn Quốc về điều tiết tác động của đô thị hóa tới lao động, việc làm ở nông thôn. Từ thực tiễn kinh nghiệm của hai quốc gia có thể là những gợi ý chính sách, khuyến nghị những cách tiếp cận riêng phù hợp cho Việt Nam.
Từ khóa: Đô thị hóa; lao động, việc làm ở nông thôn; tác động; kinh nghiệm quốc tế.
Abstract: China and South Korea are two regional countries with geographic, political, economic, and socio-cultural characteristics closely aligned with those of Vietnam. At the same time, they represent two distinct models for managing the impacts of urbanization based on sustainable development criteria. This paper explores the experiences of China and South Korea in managing the impacts of urbanization on rural labor and employment. The practical lessons from these two nations can offer policy insights and suggest tailored approaches suitable for Vietnam.
Keywords: Urbanization; rural labor and employment; impacts; international experiences.
1. Đặt vấn đề
Đô thị hóa là quá trình tất yếu đối với các quốc gia chậm phát triển khi bước vào công nghiệp hóa – hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Đô thị hóa có tác động tích cực to lớn, sâu sắc tới mọi mặt đời sống kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia, trong đó có khu vực nông nghiệp – nông thôn, như: thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tăng trưởng, tạo việc làm và thu nhập, cải thiện việc cung cấp và thụ hưởng các dịch vụ xã hội – đô thị, nâng cao đời sống cho người dân. Tuy nhiên, từ thực tiễn ở nhiều nước trên thế giới và ở Việt Nam những năm qua cho thấy, trong quá trình đô thị hóa bên cạnh mặt tích cực cũng đang nảy sinh những tác động tiêu cực, thiếu bền vững tới khu vực nông nghiệp, nông thôn.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa mạnh mẽ, các nước đang phát triển như Việt Nam, muốn nhanh chóng rút ngắn khoảng cách so với thế giới, đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa nhưng trình độ quản lý chưa theo kịp nên đã đang bộc lộ nhiều bất cập, dẫn đến những hậu quả và các “hệ lụy” không mong muốn như gây xáo trộn và bất ổn xã hội, gia tăng thất nghiệp và nghèo đói ở nông thôn; người nông dân mất đất canh tác không còn kế sinh nhai, bất đắc dĩ phải di cư ra thành phố nhập vào đội quân thất nghiệp tìm kiếm việc làm. Tình hình trên đang đặt ra yêu cầu cần có những nghiên cứu, đánh giá và dự báo khoa học để đưa ra giải pháp xử lý quyết liệt, căn cơ. Đồng thời, phải tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện mô hình công nghiệp hóa, đô thị hóa theo hướng kết hợp hài hòa giữa đô thị hóa và chiến lược “tam nông”, gắn kết công nghiệp – dịch vụ với phát triển nông nghiệp ven đô theo hướng sinh thái bền vững. Đây là vấn đề có ý nghĩa sâu sắc liên quan tới ổn định kinh tế, chính trị văn hóa – xã hội trong thời kỳ mới.
2. Kinh nghiệm quốc tế điều tiết tác động của đô thị hóa tới lao động, việc làm ở nông thôn
2.1. Kinh nghiệm của Trung Quốc
Trong chủ trương cải cách nông thôn, giải quyết việc làm cho người lao động và nâng cao mức sống của nông dân, Trung Quốc từng bước nâng cao trình độ đô thị hóa, thúc đẩy kinh tế khu vực tiếp tục phát triển. Cơ cấu ngành nghề của các khu đô thị được nâng cao chất lượng. Hàng loạt các tập đoàn, xí nghiệp xuyên quốc gia đã lập cơ sở tại các khu đô thị. Các cửa hàng liên kết thương nghiệp, siêu thị… được thành lập, đã thúc đẩy mạnh mẽ thị trường ở thành thị và nông thôn phát triển. Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng đã triển khai tích cực Chiến lược “tam nông”. Một trong những mục tiêu chiến lược phát triển là “xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa”. Mục tiêu này được triển khai thành những nhiệm vụ rõ ràng như: sản xuất phát triển, đời sống sung túc, nông thôn văn minh, thôn làng sạch sẽ, quản lý dân chủ.
Bước sang thế kỷ XXI, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã đề ra nhiệm vụ “Phát triển toàn diện kinh tế nông thôn, đẩy nhanh tiến trình đô thị hóa”. Nghị quyết Đại hội XVI Đảng Cộng sản Trung Quốc (năm 2002) chỉ rõ: “Thống nhất quy hoạch phát triển kinh tế, xã hội, thành thị và nông thôn. Xây dựng nông nghiệp hiện đại, phát triển kinh tế nông thôn, tăng thu nhập của nông dân, là nhiệm vụ trọng đại của công cuộc xây dựng toàn diện xã hội khá giả”. Để hiện thực hóa mục tiêu này, Trung Quốc đưa ra một loạt những giải pháp lớn là: Tăng cường vai trò cơ sở của nông nghiệp, thúc đẩy chuyển dịch kết cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn. Kiện toàn hệ thống an toàn chất lượng sản phẩm nông nghiệp. Tăng cường sức cạnh tranh của nông nghiệp trên thị trường, nâng cao trình độ tổ chức của nông dân đi vào thị trường và hiệu quả tổng hợp của nông nghiệp.
Cải cách tổng thể ở nông thôn Trung Quốc thực chất là quá trình kết hợp phát triển toàn diện gồm kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội và xây dựng Đảng ở cơ sở. Trung Quốc kiên trì nguyên tắc cơ bản ở nông thôn là “cho nhiều, lấy ít”. Những năm qua, nông thôn Trung Quốc cải thiện rõ rệt trên nhiều mặt, tình trạng nghèo đói, thu nhập chênh lệch, việc làm được quan tâm và giải quyết hiệu quả. Năm 2020, Trung Quốc đã hoàn thành mục tiêu xoá đói, giảm nghèo trên toàn quốc, thu nhập bình quân đầu người của cư dân nông thôn tăng từ 12.588 nhân dân tệ năm 2020 lên 16.396 nhân dân tệ vào năm 2023. Từ năm 2012 tốc độ tăng thu nhập của cư dân nông thôn đã vượt qua cư dân đô thị. Thu nhập khả dụng bình quân đầu người của cư dân nông thôn đạt 21.691 nhân dân tệ vào năm 2023, cao hơn 1,8 điểm phần trăm so với tốc độ tăng của cư dân đô thị (Trung Hưng, 20/9/2024).
Bên cạnh đó cũng có nhiều địa phương, như: Đặc khu Thâm Quyến, Trùng Khánh. đã thành lập hệ thống bảo hiểm xã hội cho người dân, cải cách chế độ tài chính nông thôn, chế độ quản lý và sử dụng ruộng đất, có địa phương áp dụng biện pháp nâng cao tiền công cho nông dân… Trợ giúp người nông dân không có việc làm nông nghiệp chuyển sang có việc làm phi nông nghiệp, từ đó làm cho nguồn lao động lưu động giữa thành thị và nông thôn dần dần đi vào xu thế ổn định. Lao động nông dân làm nhân viên trong các ngành nghề công nghiệp, dịch vụ, du lịch đã trở thành lực lượng quan trọng trong quá trình phát triển công nghiệp hóa ở Trung Quốc. Theo số liệu của Cục Thống kê nhà nước Trung Quốc năm 2024, Tổng sản phẩm trong nước (GDP) cả năm 2024 đạt 134.908,4 tỷ nhân dân tệ, tăng 5% so năm 2023 tính theo giá cố định. Tính theo ngành nghề, giá trị tăng thêm của nông nghiệp đạt 9.141,4 tỷ nhân dân tệ, tăng 3,5%; công nghiệp đạt 49.208,7 tỷ nhân dân tệ, tăng 5,3%; dịch vụ đạt 76.558,3 tỷ nhân dân tệ, tăng 5% so năm 2023. Tỷ trọng ngành dịch vụ trong GDP đã tăng lên 56,7%. Tỷ lệ thất nghiệp bình quân của khu vực thành thị được khảo sát trên cả nước là 5,1%, giảm 0,1 điểm phần trăm so năm 2023 (Bích Thuận, 2025).
Có được những thành công trên là do trong nhiều năm, Trung ương Đảng và Quốc vụ viện Trung Quốc đã thực sự đặt vấn đề “tam nông” lên vị trí đặc biệt quan trọng và ưu tiên hàng đầu, tập trung mọi nỗ lực vào cải cách nông nghiệp, nông thôn và tìm mọi cách để hỗ trợ nông dân. Sau những năm đổi mới có thể điểm lại một số kết quả nổi bật của Trung Quốc: (1) Xóa bỏ cơ chế công xã nông thôn, thực hiện chế độ khoán đến hộ gia đình, tái lập hệ thống chính quyền nông thôn. (2) Phát triển sản xuất nông nghiệp, tạo việc làm đem lại thu nhập ổn định cho người dân và thực hiện chế độ dân chủ cơ sở ở nông thôn. (3) Hình thành một hệ thống kinh tế gồm nhiều ngành nghề ở nông thôn. Đặc biệt là “Xí nghiệp hương trấn” đã đóng góp lớn vào sự phát triển kinh tế và đời sống ở nông thôn. (4) Đời sống chính trị, văn hóa, xã hội ở nông thôn có nhiều đổi mới. Người dân nông thôn được hưởng nhiều quyền lợi chính trị, dân chủ cơ sở đã được thực thi. (5). Hệ thống giáo dục, y tế, mạng lưới giao thông ở nông thôn được phát triển theo hướng hiện đại hóa.
Tuy nhiên, mặt trái tác động của đô thị hóa tới lao động, việc làm ở nông thôn Trung Quốc đang diễn ra theo hướng “đô thị hóa đất chứ không đô thị hóa người”. Vấn đề giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người dân ngày càng khó khăn; sự mất cân đối về phát triển kinh tế – xã hội giữa nông thôn và thành thị còn cao; thu nhập giữa cư dân nông thôn và thành thị ngày càng lớn; hệ thống cơ sở hạ tầng ở nông thôn, y tế, giáo dục ở nhiều địa phương còn lạc hậu… Quá trình đô thị hóa chỉ có thể làm giảm bớt chứ không thể giải quyết được tình trạng dư thừa lao động ở nông thôn. Hiện nay, Chính phủ Trung Quốc vẫn đang nỗ lực cải cách hệ thống này để giảm bớt sự phân biệt và tạo ra sự công bằng trong xã hội.
2.2. Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Hàn Quốc là một trong những nhóm nước công nghiệp mới (NIC). Hàn Quốc đã tận dụng được lợi thế của những nước đi sau trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Ngay từ những năm 70 thế kỷ XX, Chính phủ Hàn Quốc đã đưa ra chính sách điều chỉnh nhanh chóng chiến lược phát triển mở rộng vùng đô thị, đồng thời, nâng cấp mở rộng các đô thị đã có. Một loạt các thành phố vệ tinh mới có quy mô vừa và nhỏ lần lượt được xây dựng. Các thành phố mới đều là các trung tâm công nghiệp lớn, tạo thành hành lang đô thị nối từ thành phố trung tâm thông ra các cảng biển nằm ở miền Nam của Hàn Quốc.
Sau hơn 50 năm đô thị hóa (1970 – 2024), Hàn Quốc đã đạt được những thành tựu đáng kể: xây dựng và phát triển những khu đô thị lớn, trung tâm công nghiệp khổng lồ với hơn 82% dân số sống ở đô thị. Đi cùng với tốc độ đô thị hóa ở Hàn Quốc là sự gia tăng dân số, năm 2025 tổng dân số Hàn Quốc đạt 51,82 triệu người, tăng 0,02% so với một năm trước. Trong đó, dân số khu vực vùng Thủ đô Seoul đạt 26,38 triệu người, chiếm 50,9% tổng dân số, tăng 0,7 điểm phần trăm so với năm 2020 (Hãng Thông tấn Yonhap, 28/7/2026). Thành phố Busan năm 2024 chiếm hơn 3.6 triệu người (Zila Team, 05/6/2024). Daegu là thành phố lớn thứ 4 tại Hàn Quốc về quy mô dân số, với 2.4 triệu người (Chu Văn, 23/12/2025). Đô thị hóa ở Hàn Quốc có đặc điểm gắn liền với quá trình công nghiệp hóa. Sau 5 năm đầu thực hiện đô thị hóa nhanh, các thành phố lớn, như: Seoul, Busan của Hàn Quốc đã trở thành “khối nam châm” khổng lồ thu hút nguồn tài nguyên và lao động từ các vùng miền khác nhau trên cả nước. Quá trình đô thị hóa ở Hàn Quốc đã có những tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế – xã hội và môi trường ở nông thôn. Kinh tế đô thị phát triển đã góp phần vào tăng trưởng khu vực nông nghiệp và nông thôn ven đô. Cơ cấu kinh tế nông thôn được chuyển dịch theo hướng gia tăng tỷ trọng dịch vụ và các ngành phi nông nghiệp. Đô thị hóa bền vững cũng góp phần vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo, gia tăng xã hội hóa giáo dục, dịch vụ y tế và văn hóa – xã hội, mở rộng quy mô và chất lượng của hệ thống cơ sở hạ tầng ở nông thôn.
Quá trình thực hiện đô thị hóa, Hàn Quốc đã đạt được nhiều kết quả tốt đẹp, song vẫn còn có sự mất cân đối nghiêm trọng giữa đô thị và nông thôn. Quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa đã dẫn đến tình trạng di dân từ nông thôn lên thành thị. Vào năm 1960, 78% lao động Hàn Quốc ở nông thôn, đến năm 1990, còn 19,5% và hiện nay chỉ còn 5%. Hàn Quốc là một quốc gia có tốc độ đô thị hóa cao, nên tỷ lệ lao động nông thôn tương đối thấp so với các nước có nền kinh tế nông nghiệp. Ngành Nông nghiệp Hàn Quốc đang phải đối mặt với tình trạng già hóa dân số và thiếu hụt lao động, đặc biệt là lao động trẻ. Thực tế cho thấy, hiện nay lao động nhập cư đổ vào khu vực nông nghiệp Hàn Quốc đang có xu hướng gia tăng, nhằm bù đắp sự thiếu hụt về nhân lực ngày càng nghiêm trọng tại các vùng nông thôn. Nếu như năm 2020 chỉ có hơn 20.700 lao động nước ngoài nhập cư vào khu vực nông nghiệp thì đến năm 2024 là 85.000 lao động, và năm 2025 đạt 130.000 lao động, dự kiến năm 2026 con số này sẽ là 140.000 lao động (Lê Minh Hùng, 11/5/2026).
Việc mất đất canh tác, thiếu lao động nông nghiệp là khó tránh khỏi. Đây là những trở ngại khiến Hàn Quốc gặp khó khăn trong vấn đề “an toàn lương thực”. Mức độ đô thị hóa quá nhanh đã làm nảy sinh một số vấn đề về nhà ở, giao thông, cung cấp dịch vụ và sự cân bằng trong phát triển kinh tế theo lãnh thổ. Xuất hiện sự chênh lệch thu nhập giữa thành thị và nông thôn. Vào đầu những năm 90 thế kỷ XX, thu nhập trung bình của nông trại chỉ bằng 81% thu nhập của một hộ gia đình công nhân thành thị. Sự chênh lệch này còn thể hiện ở chất lượng giáo dục, cơ hội nâng cao thu nhập gia đình, chất lượng các phúc lợi xã hội và các dịch vụ công cộng khác giữa vùng nông thôn và thành thị. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã dẫn đến mức độ đô thị hóa nhanh chóng, dẫn theo quy mô và vị trí của ngành Nông nghiệp trong nền kinh tế bị giảm dần. Đô thị hóa còn làm nảy sinh sự phân hóa xã hội giữa thành thị và nông thôn. Mặc dù Chính phủ Hàn Quốc đã cố gắng thực hiện công bằng xã hội trong tăng trưởng kinh tế nhưng hiện tượng phân hóa xã hội ngày càng tăng, đã trở thành nguy cơ lớn, đòi hỏi phải giải quyết kịp thời và nhất quán.
3. Một số khuyến nghị về chính sách
Một là, hoàn thiện công tác quy hoạch và điều chỉnh mô hình công nghiệp hóa, đô thị hóa theo hướng bền vững.
Công tác quy hoạch nói chung, có quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch đô thị lâu nay làm chậm, thiếu căn cứ khoa học và thực tiễn, tính pháp lý và tuân thủ quy hoạch chưa thật sự nghiêm. Thời gian tới cần khắc phục nhược điểm này, tạo chuyển biến căn bản trong công tác lập quy hoạch. Quy hoạch các khu đô thị – khu công nghiệp cần hạn chế tối đa việc lấy đất nông nghiệp, lấy đất ven đô hay trục lộ giao thông, nơi “bờ xôi, ruộng mật”, vốn từ lâu đời đã hình thành các làng nghề truyền thống, các vùng thâm canh trồng lúa, trồng rau, trồng hoa… gắn bó với đời sống việc làm của người dân. Trong khi đó, chúng ta có thể tính toán chi phí cơ hội, quy hoạch khu kinh tế, khu công nghiệp cách xa trung tâm, lấy vào đất đồi gò, đất bạc màu, đất hoang hóa như kinh nghiệm các nước đã làm mà về lâu dài không gây tổn hại tới diện tích đất gieo trồng vốn hữu hạn và không tái tạo lại được, do đó, không làm ảnh hưởng đến vấn đề an ninh lương thực quốc gia, môi trường cũng như lao động việc làm của người dân.
Việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp ở quy mô lớn nhất thiết phải do các cấp tối cao quyết định cho phép (ví dụ, Trung Quốc lấy từ hàng trăm ha phải do Quốc vụ viện quyết định). Xây dựng, ban hành và giám sát chặt chẽ việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp một cách ổn định, lâu dài theo tinh thần Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2022). Kèm theo phải có phương án đền bù và bố trí công ăn việc làm, đào tạo chuyển đổi nghề cho nông dân phải hợp lý. Giá đền bù khi thu đất phải tính tới cả những thiệt hại vật chất và thiệt hại vô hình, không chỉ chú ý thỏa mãn lợi ích kinh tế trước mắt mà còn phải tính đến lợi ích lâu dài, bảo đảm cho người dân bị thu hồi đất có cuộc sống và việc làm ổn định. Khuyến khích doanh nghiệp sử dụng lao động tại địa phương.
Hai là, phát triển đào tạo nghề, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông thôn.
Đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất canh tác trong thời gian tới phải được đặt trong mối quan gắn với qui hoạch chung đào tạo, phát triển nguồn nhân lực của cả nước; đồng thời, phải tiến hành lồng ghép với các chương trình phát triển kinh tế – xã hội, chương trình việc làm và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực theo các hướng: (1) Ngân sách nhà nước cần giữ vai trò chủ đạo để bảo đảm đáp ứng các nhu cầu cơ bản về nâng cao trình độ và khả năng tiếp cận các dịch vụ cơ bản cho mọi người dân, đặc biệt là đối tượng chính sách, người nghèo và các đối tượng trong diện được hỗ trợ. (2) Thực hiện xã hội hóa đào tạo nghề, Nhà nước thực hiện hỗ trợ về thuế, đất đai và các chính sách hỗ trợ khác. (3) Mở rộng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong tổ chức cung cấp dịch vụ đào tạo nghề đối với các cơ sở đào tạo nghề công lập. Xây dựng cơ chế tự chủ tài chính để các đơn vị này phát huy được các tiềm năng về nhân lực, tài lực và vật lực, gia tăng cung cấp dịch vụ đào tạo cho xã hội, tăng thu, tiết kiệm chi, giảm dần sự bao cấp của ngân sách nhà nước, cải thiện đời sống cho đội ngũ cán bộ, công nhân viên trong đơn vị. (4) Xác định rõ trách nhiệm và gắn kết trách nhiệm các bên trong hỗ trợ đào tạo nghề cho người dân bị thu hồi đất canh tác.
Ba là, phát triển bền vững các khu, cụm công nghiệp.
Để phát triển bền vững các khu, cụm công nghiệp, Nhà nước cần đầu tư xây dựng các dự án chi tiết cho các khu công nghiệp tập trung trên cơ sở quy hoạch của từng địa phương. Rà soát toàn bộ tiến độ, khả năng triển khai của các dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, đảm bảo đúng tiến độ, đồng thời xem xét năng lực tài chính, kiên quyết thu hồi các dự án không có khả năng triển khai thực hiện. Tăng cường đào tạo đội ngũ quản lý trong các khu,cụm công nghiệp, cán bộ phường, xã để nâng cao trình độ và kiến thức quản lý sản xuất phù hợp với cơ chế thị trường. Thiết lập các mối liên hệ chặt chẽ và thường xuyên giữa các cơ sở đào tạo và dạy nghề với các khu công nghiệp, khu chế xuất. Phát triển các hoạt động hướng nghiệp, dịch vụ giới thiệu và tư vấn việc làm ở nông thôn, tăng cường thông tin và khả năng tiếp xúc giữa doanh nghiệp và người lao động. Xây dựng có hiệu quả mối quan hệ chiều ngang giữa trường dạy nghề và các nhà đầu tư, cũng như mối quan hệ dọc giữa trường dạy nghề và các cơ quan hoạch định chính sách của nhà nước.
Bốn là, chính sách bồi thường đất đai cho người dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp phải phù hợp với cơ chế thị trường.
Lâu nay chúng ta áp dụng thu hồi quyền sử dụng đất như nhau đối với những trường hợp các dự án có mục đích khác nhau đã dẫn đến nhiều vấn đề xã hội phức tạp. Trong nhiều trường hợp cơ quan chính quyền gây áp lực hành chính, kể cả sử dụng sức mạnh của hệ thống chuyên chính với người dân bị thu hồi đất, làm lợi không đúng cho doanh nghiệp và gây thiệt hại cho nông dân. Vì vậy, việc giải quyết mối quan hệ giữa yêu cầu lấy đất để xây dựng các công trình công nghiệp và nhu cầu đất đai của nông dân trong nông nghiệp phải được thận trọng và cân nhắc tính toán kỹ lưỡng, tránh tập trung theo kiểu siêu đô thị mà phân tán thành các chuỗi đô thị, từ đó, hạn chế lấy đất và phá bỏ những truyền thống sản xuất vốn đã có từ lâu đời của người dân. Đồng thời, Nhà nước bồi thường phải có chính sách thỏa đáng đối với những người nông dân bị mất đất. Chính sách bồi thường của Nhà nước phải thực sự minh bạch và làm cho người dân không cảm thấy bị thiệt sau khi bị thu hồi đất. Ngoài ra, Nhà nước cũng cần có những chính sách hỗ trợ cho người dân sau khi bị thu hồi đất, như; hỗ trợ tìm kiếm việc làm, chuyển đổi ngành nghề, cơ cấu cây trồng… để họ yên tâm sản xuất và ổn định cuộc sống.
Năm là, kết hợp phát triển các ngành kinh tế hiện đại với các ngành nghề truyền thống.
Hiện nay, những ngành kinh tế hiện đại, như: công nghiệp điện tử, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học… có vai trò rất quan trọng với tương lai của nền kinh tế. Tuy nhiên, trình độ công nghệ càng cao, số lượng nhân công sẽ càng giảm. Bởi vậy, việc phát triển những ngành này gây khó khăn không nhỏ trong giải quyết việc làm cho người lao động nông thôn. Trong khi đó, các ngành truyền thống, như: nông nghiệp, dệt may, giày dép, thêu ren, dệt tơ lụa… có thể là một thế mạnh rất lớn trong tạo việc làm cho người lao động, nhưng lại dần bị mai một và đã có không ít cơ sở sản xuất bị tan rã, ngừng hoạt động. Số lượng những người giỏi nghề ngày một ít đi. Chính điều này đã cản trở đến chất lượng sản phẩm và chất lượng lao động trong các làng nghề. Do đó, việc kết hợp phát triển các ngành kinh tế hiện đại với các ngành nghề truyền thống là cần thiết trong điều kiện hiện nay. Bên cạnh đó, cũng cần có cơ chế, chính sách thu hút, khuyến khích các nhà khoa học, nghệ thuật tạo hình, các họa sĩ… quan tâm đến việc nâng cao chất lượng, thay đổi kiểu dáng, mẫu mã sản phẩm các làng nghề.
4. Kết luận
Đô thị hóa là một quá trình tất yếu và có mối quan hệ tác động tương hỗ tới lao động, việc làm ở nông thôn vô cùng mạnh mẽ, bao gồm cả mặt tích cực và tiêu cực. Trong bối cảnh toàn cầu hóa đang diễn ra sâu sắc, các tác động giữa đô thị hóa tới lao động, việc làm càng phức tạp và gây hậu quả nghiêm trọng, làm tổn hại lợi ích của nông dân và nông thôn, đe dọa phát triển bền vững. Các quốc gia, nhất là các nước chậm phát triển đi vào công nghiệp hóa, đô thị hóa cần hết sức lưu ý tới những hậu quả và tác động tiêu cực của quá trình đô thị hóa. Có như vậy, mới kịp thời để đưa ra các giải pháp điều chỉnh những tác động của quá trình đô thị hóa tới lao động, việc làm ở nông thôn theo hướng tích cực, chủ động.
Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2022). Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Bích Thuận (17/01/2025). Kinh tế Trung Quốc tăng trưởng 5% trong năm 2024. VOV. https://vov.vn/kinh-te/kinh-te-trung-quoc-tang-truong-5-trong-nam-2024-post1149306.vov
Chu Văn (23/12/2025). Thành phố Daegu (Hàn Quốc) tiếp tục hỗ trợ cộng đồng người Việt có điều kiện phát triển và hội nhập. Cổng thông tin điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam. https://dangcongsan.org.vn/bongoaigiao/tin-tuc-hoat-dong/thanh-pho-daegu-han-quoc-tiep-tuc-ho-tro-cong-dong-nguoi-viet-co-dieu-kien-phat-trien-va-hoi-nhap.html
Hãng Thông tấn Yonhap (28/7/2026). Dân số Hàn Quốc trong năm 2025 tăng nhẹ nhờ làn sóng nhập cư. https://vi.yna.co.kr/view/AVI20260728000700880
Lê Minh Hùng (11/5/2026). Nông nghiệp Hàn Quốc rộng cửa cho lao động nhập cư. Báo Đà Nẵng. https://baodanang.vn/nong-nghiep-han-quoc-rong-cua-cho-lao-dong-nhap-cu-3336068. html
Trung Hưng (20/9/2024). Thu nhập của người dân Trung Quốc tăng 75,8 lần kể từ năm 1949. Báo Nhân dân. https://nhandan.vn/thu-nhap-cua-nguoi-dan-trung-quoc-tang-758-lan-ke-tu-nam-1949-post832168.html
ZilaTeam (05/6/2024). BUSAN (부산) – Thành phố biển lớn nhất Hàn Quốc. https://www.zila.com.vn/busan.html



