Đổi mới công tác truyền thông chính trị đối với cán bộ chủ chốt cấp tỉnh trong bối cảnh mới

Innovating political communication for key provincial officials in the new context

NCS.ThS. Nguyễn Thị Hương
Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Email: goldensun052006@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết xây dựng khung lý luận và tiêu chí đánh giá đổi mới công tác truyền thông chính trị đối với cán bộ chủ chốt cấp tỉnh trong bối cảnh đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và chính quyền địa phương hai cấp, cùng chuyển đổi số. Trên cơ sở tiếp cận hệ thống, lấy đối tượng làm trung tâm, lý thuyết thay đổi và đối chiếu dữ liệu 500 phiếu khảo sát, 36 phỏng vấn sâu, 6 thảo luận nhóm, bài viết làm rõ nội hàm, ranh giới, dấu hiệu nhận diện; đề xuất sáu phương diện, chu trình tám bước và bảy nhóm tiêu chí theo chuỗi đầu vào – quá trình – đầu ra – kết quả – tác động. Đổi mới được xác nhận khi tạo ra giá trị, đo lường được và bền vững trong nhận thức, năng lực giải thích, hành động và kết quả của nhiệm vụ.

Từ khóa: Truyền thông chính trị; cán bộ chủ chốt; cấp tỉnh; đổi mới phương thức lãnh đạo; đánh giá tác động.

Abstract: This article develops a theoretical framework and evaluation criteria for innovating political communication for key provincial officials amid changes in the Party’s leadership methods, two-tier local government, and digital transformation. Using systems thinking, audience-centered design, theory of change, and evidence from 500 questionnaires, 36 in-depth interviews, and six focus groups, it clarifies the meaning, boundaries, and observable signs of innovation. The article proposes six dimensions, an eight-step cycle, and seven groups of criteria structured along the input-process-output-outcome-impact chain. Its central argument is that innovation is not equivalent to digitizing delivery channels; it is established only when officials create measurable, sustainable new value in their understanding, explanatory capacity, action, and task performance.

Keywords: political communication; key officials; provincial level; leadership innovation; impact evaluation.

1. Đặt vấn đề

Truyền thông chính trị là bộ phận cấu thành của quá trình lãnh đạo, cầm quyền và quản trị phát triển. Đối với cán bộ chủ chốt cấp tỉnh, thông tin chính trị không chỉ cung cấp tri thức mà còn là căn cứ để lựa chọn phương án, điều phối nguồn lực, giải thích chính sách và chịu trách nhiệm trước cấp ủy, cơ quan có thẩm quyền và Nhân dân. Chất lượng truyền thông vì vậy tác động trực tiếp đến tốc độ, tính nhất quán và hiệu quả chuyển hóa chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước thành kết quả phát triển ở địa phương.

Yêu cầu đổi mới trở nên cấp thiết khi phương thức lãnh đạo của Đảng tiếp tục được đổi mới, chính quyền địa phương hai cấp đi vào vận hành và môi trường số làm thay đổi cấu trúc thông tin. Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 17/11/2022 xác định tuyên truyền, thuyết phục, vận động là phương thức lãnh đạo quan trọng. Quy định số 19-QĐ/TW ngày 08/4/2026 yêu cầu đổi mới công tác tư tưởng, nâng cao năng lực truyền thông chính trị hiện đại, xây dựng dữ liệu số và chủ động nắm bắt, phân tích, dự báo các diễn biến tư tưởng. Chỉ thị số 01-CT/TW ngày 23/01/2026 nhấn mạnh việc học tập, quán triệt phải gắn với chương trình hành động và được tổ chức thực hiện. Kết luận số 76-KL/TW ngày 28/7/2026 tiếp tục hoàn thiện mô hình tổng thể của hệ thống chính trị và chính quyền địa phương hai cấp. Thông báo số 134-TB/VPTW ngày 02/8/2026 đặt ra yêu cầu chuyển từ quản lý tiến độ sang quản trị kết quả, xác định rõ sản phẩm, người chịu trách nhiệm và các tiêu chí có thể đo lường, kiểm chứng.

Bài viết sử dụng phương pháp phân tích – tổng hợp tài liệu, tiếp cận hệ thống, lấy đối tượng làm trung tâm và lý thuyết về sự thay đổi. Khung đề xuất được đối chiếu với dữ liệu luận án gồm 500 phiếu khảo sát hợp lệ, 36 phỏng vấn sâu và 6 thảo luận nhóm năm 2026. Kết quả cho thấy đổi mới chung đạt 3,65/5 điểm nhưng phân hóa rõ: phương thức, kênh và tích hợp số đạt 4,05/5, trong khi nghiên cứu, phân đoạn đối tượng chỉ đạt 3,41/5 và kiểm tra, giám sát, đánh giá hiệu quả đạt 3,36/5. Có 88,6% người trả lời cho rằng, đánh giá còn thiên về số hội nghị, số văn bản và lượt tiếp cận. Những số liệu này được sử dụng để kiểm tra khả năng thao tác của khung, không nhằm khái quát cho mọi địa phương.

2. Nội hàm, bản chất và dấu hiệu nhận diện đổi mới

Truyền thông chính trị có thể được tiếp cận từ 3 hướng bổ sung cho nhau. Cách tiếp cận chức năng phân tích ai truyền đạt, nội dung gì, bằng kênh nào, tới ai và tạo hiệu quả gì; cách tiếp cận hệ thống – điều khiển học xem truyền thông như “hệ thần kinh” giúp hệ thống chính trị thu nhận tín hiệu, phản hồi và tự điều chỉnh (Deutsch, 1963); cách tiếp cận quyền lực nhấn mạnh khả năng kiến tạo ý nghĩa trong xã hội mạng lưới (Castells, 2013). Kết hợp ba hướng cho phép nhìn truyền thông chính trị vừa là quá trình chuyển tải, vừa là cơ chế phản hồi, vừa là phương thức tổ chức quyền lực.

McNair (2018) coi truyền thông chính trị là các hình thức truyền thông có mục đích chính trị; Norris (2000) nhấn mạnh các dòng thông tin theo chiều xuống, chiều ngang và chiều lên giữa các thiết chế, phương tiện truyền thông và công chúng. Trong điều kiện Việt Nam, khái niệm này phải được đặt trong quan hệ hữu cơ với công tác tư tưởng, sự lãnh đạo của Đảng, trách nhiệm công vụ và mục tiêu phục vụ Nhân dân. Theo đó, truyền thông chính trị là quá trình có mục đích, trong đó các chủ thể chính trị tạo lập, phân phối, tiếp nhận và phản hồi thông tin, biểu tượng và diễn ngôn về quyền lực, giá trị, chủ trương, chính sách, qua đó hình thành nhận thức, niềm tin, hành vi, tạo đồng thuận và huy động nguồn lực thực hiện mục tiêu phát triển.

Cần phân biệt “truyền thông chính trị” với “công tác truyền thông chính trị”. Khái niệm thứ nhất phản ánh quá trình xã hội có thể diễn ra cả khi không được tổ chức một cách chủ động; khái niệm thứ hai nhấn mạnh hoạt động có lãnh đạo, mục tiêu, kế hoạch, nguồn lực, quy trình và đánh giá. Công tác truyền thông chính trị là tổng thể hoạt động do các chủ thể trong hệ thống chính trị tiến hành nhằm nghiên cứu đối tượng, lựa chọn, thiết kế, phân phối, giải thích và phản hồi thông tin chính trị, bảo đảm thông tin được chuyển hóa thành nhận thức, niềm tin và hành động phục vụ nhiệm vụ chính trị. Nội hàm này rộng hơn tuyên truyền đơn tuyến vì coi nghiên cứu đối tượng, phản hồi và đánh giá tác động là các khâu bắt buộc.

Công tác truyền thông chính trị cũng không đồng nhất với truyền thông chính sách, truyền thông của cơ quan nhà nước hoặc thông tin hành chính. Truyền thông chính sách gắn với một chu trình chính sách và nhóm chịu tác động cụ thể; truyền thông của cơ quan nhà nước gắn với chức năng cung cấp thông tin, phát ngôn; thông tin hành chính chủ yếu chuyển tải các quy định và yêu cầu thực hiện. Công tác truyền thông chính trị có phạm vi rộng hơn, bao gồm nền tảng tư tưởng, giá trị, quan hệ quyền lực, kiến tạo đồng thuận và bảo đảm sự thống nhất trong hành động. Cách tiếp cận truyền thông khu vực công hiện đại cũng đặt năng lực tổ chức, niềm tin và giá trị công trong một quan hệ thống nhất (Canel & Luoma-aho, 2019).

Cán bộ chủ chốt là nhóm công chúng chính trị đặc thù, có thẩm quyền quyết định hoặc tham gia quyết định và chịu trách nhiệm chính trong việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Nhóm này được phân tích theo cấp quản lý, khối cơ quan, chức danh, lĩnh vực phụ trách và đặc điểm địa bàn. Điểm nổi bật là vai trò kép: vừa tiếp nhận, phân tích, phản biện thông tin, vừa truyền thông tới cấp dưới và Nhân dân. Lý thuyết “dòng chảy hai bước” cho thấy, ảnh hưởng của lãnh đạo đối với quá trình tiếp nhận thông tin (Katz & Lazarsfeld, 1955). Trong hệ thống chính trị, cán bộ chủ chốt được lĩnh hội ý kiến có tổ chức, có thẩm quyền và có nghĩa vụ chính trị; vì vậy, đánh giá phải đi xa hơn câu hỏi họ đã nhận hay hiểu thông tin, tới khả năng giải thích, phản biện và tổ chức thực hiện.

Từ các tiền đề trên, đổi mới công tác truyền thông chính trị đối với cán bộ chủ chốt cấp tỉnh được hiểu là quá trình thay đổi có chủ đích, có tổ chức và có kiểm soát về tư duy, nội dung, phương thức và kênh thông tin, công nghệ và dữ liệu, tổ chức và quy trình, cơ chế đánh giá; do các chủ thể trong hệ thống chính trị cấp tỉnh tiến hành dưới sự lãnh đạo của cấp ủy nhằm tạo ra giá trị mới, cao hơn và đo lường được trong khả năng tiếp cận đúng, hiểu đúng, tin cậy, đồng thuận, giải thích lại và chuyển hóa thông tin thành hành động hiệu quả. Định nghĩa gồm 5 thành tố: chủ thể, đối tượng, phạm vi thay đổi, tính chất của quá trình và đích đến.

Đổi mới có 5 đặc điểm. Thứ nhất, có mục tiêu chính trị và được lãnh đạo, không phải biến đổi tự phát do sức ép công nghệ. Thứ hai, có tính kế thừa, giữ gìn các giá trị của sinh hoạt cấp ủy, báo cáo viên và hội nghị trực tiếp nhưng được tổ chức lại theo hướng đối thoại, giải quyết vấn đề. Thứ ba, có tính hệ thống; đầu tư nền tảng mà không đổi nội dung, quy trình, con người và thước đo chỉ là số hóa cách làm cũ. Thứ tư, giá trị mới phải được chứng minh thông qua bằng chứng. Thứ năm, đổi mới chịu sự giới hạn bởi định hướng chính trị, thẩm quyền phát ngôn, bảo đảm an ninh mạng, quyền riêng tư và bí mật nhà nước.

Ranh giới quan trọng nhất là giữa đổi mới và thay đổi phương tiện. Chuyển tài liệu giấy thành tệp điện tử, bổ sung nhóm nhắn tin hoặc tăng lượt đăng tải mới chỉ làm thay đổi hình thức phân phối. Những thay đổi này chỉ trở thành đổi mới khi tạo ra giá trị có thể kiểm chứng, như rút ngắn thời gian xử lý, giảm trùng lặp, tăng mức độ hiểu đúng, nâng cao năng lực giải thích hoặc cải thiện phối hợp và khả năng thực thi. Có thể nhận diện đổi mới qua 4 dấu hiệu: kết quả ở người nhận được cải thiện; cách làm mới được thể chế hóa; có chỉ số và dữ liệu trước – sau; có khả năng duy trì và nhân rộng.

3. Những yêu cầu mới đối với công tác truyền thông chính trị

Một là, chuyển từ tư duy “truyền đạt đủ” sang “hỗ trợ hành động”. Cán bộ chủ chốt cần không chỉ biết kết luận mà còn hiểu bối cảnh, căn cứ, tác động dự kiến và phần việc thuộc thẩm quyền. Gói thông tin có khả năng hành động phải trả lời được vấn đề cần giải quyết; mục tiêu, thông điệp cốt lõi; chủ thể chịu trách nhiệm; việc cần làm, quy trình, thời hạn; cơ chế phối hợp; chỉ số kết quả và rủi ro. Đây là điều kiện để cán bộ thực hiện vai trò tái truyền thông mà không diễn giải tùy tiện hoặc làm sai lệch định hướng.

Hai là, kết hợp thống nhất chính trị với phân đoạn đối tượng. Thông điệp cốt lõi, căn cứ và mục tiêu phải nhất quán, nhưng độ sâu, ngôn ngữ, tình huống và chỉ dẫn hành động cần được thiết kế theo chức danh, lĩnh vực, cấp công tác và địa bàn. Cấu trúc phù hợp là “một lõi – nhiều lớp”: lõi thống nhất về định hướng và bằng chứng; các lớp khác nhau về mức độ chi tiết và công cụ thực thi. Phân đoạn không phải là cá nhân hóa tùy ý mà là tổ chức thông tin để mỗi nhóm hiểu đúng phần việc và mối quan hệ phối hợp của mình.

Ba là, cân bằng tốc độ với độ chính xác, tương tác với bảo mật. Mỗi loại thông tin cần có nguồn chính thức, mức phân quyền, quy tắc phiên bản, thời điểm cập nhật và người chịu trách nhiệm cuối cùng. Nghị định số 244/2026/NĐ-CP ngày 26/6/2026, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, mở rộng phương thức cung cấp thông tin nhưng không làm giảm trách nhiệm về nội dung và thẩm quyền phát ngôn. Luật Dữ liệu, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân, Luật Trí tuệ nhân tạo, Luật An ninh mạng và Luật Bảo vệ bí mật nhà nước đặt ra các ngưỡng tuân thủ bắt buộc đối với việc thu thập, xử lý, chia sẻ dữ liệu và sử dụng các công cụ số. Do đó, mức độ an toàn và khả năng truy nguyên phải là điều kiện cần đạt được, không phải là chỉ số có thể bù trừ bằng độ phủ.

Bốn là, chuyển phản hồi từ hoạt động bổ trợ thành một phần của chu trình. Phản hồi chỉ có giá trị khi có địa chỉ tiếp nhận, phân loại, thời hạn xử lý, thẩm quyền trả lời và cơ chế thông báo kết quả. Cần phân biệt câu hỏi về nội dung, vướng mắc trong thực thi, kiến nghị chính sách và tín hiệu rủi ro để chuyển đúng đầu mối. Nếu ý kiến từ cơ sở không được khép kín, tổ chức dễ hình thành “im lặng tập thể”, làm suy giảm khả năng phát hiện sớm sai sót (Morrison & Milliken, 2000). Phản hồi vì vậy vừa là dữ liệu đánh giá, vừa là cơ chế học hỏi và hoàn thiện chính sách.

Năm là, đánh giá từ góc nhìn của người nhận và kết quả của nhiệm vụ. Các chỉ tiêu về số hội nghị, văn bản, tin bài, lượt gửi và lượt truy cập vẫn cần cho quản trị vận hành nhưng không thể thay thế mức độ hiểu đúng, tin cậy, năng lực giải thích, thay đổi hành vi, chất lượng phối hợp và kết quả thực hiện. OECD (2021, 2025) coi quản trị chiến lược, lấy người sử dụng làm trung tâm và đánh giá dựa trên bằng chứng là điều kiện để chứng minh giá trị của truyền thông công. Khảo sát của tác giả cho thấy, khoảng cách 0,56 điểm giữa mức độ tin cậy (4,08/5) và mức độ chuyển hóa thành hành động (3,52/5), qua đó xác nhận độ phủ và đồng thuận không tự động tạo ra hiệu quả thực thi.

4. Chu trình đổi mới

Đổi mới cần được tiến hành đồng bộ trên 6 phương diện. Về tư duy, chuyển từ tư duy phổ biến đơn tuyến sang quản trị một quá trình có mục tiêu, đối tượng, phản hồi và học hỏi. Về nội dung, chuyển từ cung cấp đồng loạt sang thiết kế theo vấn đề, chức danh, địa bàn và hành vi đích. Về phương thức và kênh, kết hợp trực tiếp với số hóa theo hành trình tiếp nhận. Về công nghệ và dữ liệu, xây dựng kho tri thức có phân quyền, hỗ trợ truy xuất nhưng vẫn duy trì giám sát của con người. Về tổ chức và quy trình, cần xác định rõ đầu mối, thẩm quyền, thời hạn và cách phối hợp. Về đánh giá, chuyển từ đo sản phẩm sang đo kết quả và tác động.

Sáu phương diện có mối quan hệ hữu cơ. Tư duy định hướng mục tiêu; dữ liệu về đối tượng quyết định nội dung; nội dung chi phối lựa chọn kênh; tổ chức và quy trình bảo đảm đúng thẩm quyền; công nghệ hỗ trợ tích hợp, truy xuất và phản hồi; đánh giá cung cấp bằng chứng để điều chỉnh. Nếu một phương diện vận động nhanh hơn các phương diện còn lại, sẽ xuất hiện sự đổi mới lệch pha: nền tảng hiện đại nhưng nội dung dài và dùng chung; kênh tương tác nhanh nhưng không có thẩm quyền phản hồi; dữ liệu nhiều nhưng không có tiêu chí và người chịu trách nhiệm. Vì vậy, cần xác định đúng điểm nghẽn trước khi đầu tư vào công cụ.

Sáu phương diện được vận hành trong chu trình tám bước, kế thừa vòng đời OASIS và yêu cầu liên kết truyền thông với mục tiêu có thể đánh giá theo chuẩn chức năng truyền thông của Chính phủ Anh (Cabinet Office, 2023), đồng thời điều chỉnh cho phù hợp với công tác chính trị, tư tưởng ở Việt Nam.

Bước 1: Phân tích bối cảnh, vấn đề, các bên liên quan và rủi ro; tạo bản mô tả vấn đề và bản đồ rủi ro.

Bước 2: Nghiên cứu nhu cầu, phân đoạn đối tượng và xác định hành vi đích; tạo hồ sơ đối tượng và ma trận hành vi cần hình thành sau truyền thông.

Bước 3: Xác lập mục tiêu theo các tầng tiếp cận, nhận thức, niềm tin, đồng thuận, năng lực giải thích và hành động; mỗi mục tiêu có chỉ báo, đường cơ sở, mức đích và thời hạn.

Bước 4: Thiết kế thông điệp cốt lõi, bằng chứng, hướng dẫn hành động và bộ câu hỏi – đáp án. Nội dung phải đúng định hướng, pháp luật và phiên bản; có căn cứ để kiểm chứng; phù hợp với phân đoạn; và chỉ rõ hành động thuộc thẩm quyền. Lý thuyết đóng khung cho thấy thông điệp cần xác định vấn đề, lý giải nguyên nhân, đưa ra đánh giá và đề xuất giải pháp (Entman, 1993).

Bước 5: Lựa chọn người truyền đạt, kênh, thời điểm và tần suất. Người truyền đạt phải có uy tín, chuyên môn và thẩm quyền; kênh phải phù hợp với độ mật và thói quen tiếp nhận; thời điểm phải gắn với nhu cầu quyết định.

Bước 6: Tổ chức truyền thông, đối thoại, phản hồi và hỗ trợ thực thi. Sản phẩm không chỉ là hội nghị hoặc tài liệu đã phát hành mà còn bao gồm các vấn đề được ghi nhận, câu trả lời chính thức, nhiệm vụ, thời hạn và đầu mối hỗ trợ. Hội nghị cần giảm việc đọc lại văn bản, tăng phân tích tình huống, giải đáp và thống nhất cách thực hiện.

Bước 7: Theo dõi dư luận, phát hiện các tín hiệu yếu, xử lý thông tin sai lệch và khủng hoảng. Hệ thống cần phân biệt thông tin sai do nhầm lẫn, thông tin xuyên tạc có chủ đích và thông tin đúng bị sử dụng nhằm gây hại để lựa chọn phản ứng phù hợp (Wardle & Derakhshan, 2017); đồng thời có nguồn chính thức, ngưỡng cảnh báo, kịch bản và thẩm quyền phát ngôn rõ ràng.

Bước 8: đánh giá đầu ra, kết quả và tác động; lưu trữ tri thức và điều chỉnh. Dữ liệu đánh giá phải quay lại bước phân tích bối cảnh, cập nhật hồ sơ đối tượng, thông điệp, kênh và kịch bản.

Ba điểm kiểm soát chất lượng được đặt dọc theo chu trình. Trước khi phát hành, kiểm tra định hướng, căn cứ, phiên bản, thẩm quyền và bảo mật. Trong quá trình triển khai, theo dõi độ phủ đúng đối tượng, các câu hỏi phát sinh, độ trễ phản hồi và các dấu hiệu sai lệch. Sau khi triển khai, đánh giá khả năng hiểu, giải thích, hành động và phần đóng góp hợp lý của truyền thông đối với kết quả của nhiệm vụ. Cơ chế trách nhiệm gồm: cơ quan chủ trì chịu trách nhiệm về mục tiêu và tính nhất quán; cơ quan chuyên môn chịu trách nhiệm về căn cứ; đơn vị truyền thông chịu trách nhiệm về thiết kế và kênh; người đứng đầu chịu trách nhiệm cuối cùng về quyết định, phản hồi và kết quả.

5. Hệ tiêu chí đánh giá đổi mới

Hệ tiêu chí phải phản ánh chuỗi đầu vào – quá trình – đầu ra – kết quả – tác động. Đầu vào là lãnh đạo, thể chế, nhân lực, dữ liệu, công nghệ và kinh phí; quá trình gồm nghiên cứu đối tượng, thiết kế nội dung, lựa chọn kênh, đối thoại, phản hồi và quản trị rủi ro; đầu ra là sản phẩm và mức tiếp cận đúng; kết quả là thay đổi về hiểu biết, tin cậy, đồng thuận, năng lực giải thích và hành vi; tác động thể hiện ở chất lượng quyết định, phối hợp, thực hiện nhiệm vụ và giá trị phục vụ Nhân dân. Chuỗi này tránh hai sai lệch: lấy đầu ra thay cho kết quả hoặc quy toàn bộ kết quả của nhiệm vụ cho truyền thông.

Nhóm thứ nhất, lãnh đạo và thể chế, đánh giá mức độ ưu tiên của cấp ủy; sự rõ ràng về trách nhiệm, thẩm quyền và người chịu trách nhiệm cuối cùng; chất lượng quy chế phối hợp, quy trình và chuẩn nghiệp vụ; hiệu lực kiểm tra, giám sát và giải trình. Minh chứng gồm chương trình công tác, quyết định phân công, quy chế, hồ sơ xử lý và kết luận kiểm tra. Tiêu chí không chỉ hỏi có văn bản hay không mà còn phải xác định văn bản có nêu rõ đầu mối, thời hạn, phối hợp và được thực hiện ổn định hay không.

Nhóm thứ hai, nghiên cứu đối tượng, đánh giá mức độ cập nhật dữ liệu, độ chi tiết của phân đoạn, khả năng nhận diện nhu cầu, rào cản, thói quen tiếp nhận, mức độ sẵn sàng và hành vi đích. Minh chứng gồm hồ sơ đối tượng, khảo sát, phân tích phản hồi, bản đồ các bên liên quan và ma trận phân đoạn – thông điệp. Chỉ báo quan trọng không phải là số lần khảo sát mà là tỷ lệ sản phẩm được thiết kế từ dữ liệu đối tượng và mức độ khác biệt có căn cứ giữa các gói thông tin.

Nhóm thứ ba, chất lượng nội dung, đánh giá tính đúng đắn, đầy đủ, có căn cứ; độ rõ ràng, dễ hiểu; mức độ phù hợp với chức danh, lĩnh vực, địa bàn; tính nhất quán giữa các cấp, kênh và thời điểm; khả năng chỉ dẫn hành động; quản lý phiên bản và trạng thái hiệu lực. Minh chứng gồm phân tích nội dung, phản biện chuyên gia, kiểm tra nhớ – hiểu – vận dụng và đối chiếu thông điệp gốc với sản phẩm tái truyền thông. Nội dung có thể được thực hiện khi người nhận xác định đúng việc, thẩm quyền, quy trình, thời hạn, phối hợp và tiêu chí hoàn thành.

Nhóm thứ tư, kênh và tương tác, đánh giá mức độ tích hợp, thuận tiện, ổn định, bảo mật; tỷ lệ tiếp cận đúng người, đúng thời điểm, đúng phiên bản; chất lượng đối thoại; tốc độ, tính đầy đủ và mức độ khép kín của phản hồi. Dữ liệu gồm nhật ký hệ thống, thời gian phát hành – tiếp nhận – xử lý, câu hỏi tồn đọng, khảo sát trải nghiệm và kiểm tra tuân thủ. Phải tách kênh được dùng nhiều khỏi kênh được tin cậy và tạo hành động, vì mức độ sử dụng cao có thể chỉ phản ánh sự tiện lợi.

Nhóm thứ năm, năng lực và nguồn lực; đánh giá năng lực chính trị, chuyên môn, truyền thông, phân tích dữ liệu và năng lực số của đội ngũ tham mưu; năng lực tiếp nhận, kiểm chứng, phản biện và tái truyền thông của cán bộ chủ chốt; chất lượng dữ liệu, hạ tầng, kinh phí và thời gian. Quyết định số 23-QĐ/BCĐ ngày 17/8/2026 về Bộ chỉ số đánh giá năng lực số và mức độ sẵn sàng chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng, có hiệu lực cùng ngày, cung cấp tham chiếu mới; đánh giá đồng thời điều kiện sẵn sàng và kết quả thực tế; kết hợp dữ liệu hệ thống, tự đánh giá, thẩm định, kiểm tra và giải trình; coi kiểm chứng thông tin do trí tuệ nhân tạo tạo ra là năng lực bắt buộc.

Nhóm thứ sáu, quản trị rủi ro, đánh giá khả năng phát hiện sớm; chất lượng phân loại tình huống; ngưỡng cảnh báo và thẩm quyền xử lý; mức độ sẵn sàng của kịch bản; hiệu quả phối hợp; thời gian phản ứng; khả năng khôi phục tính nhất quán và niềm tin. Minh chứng gồm bản đồ rủi ro, sổ tình huống, kết quả diễn tập, thời gian xác minh, lịch sử phiên bản và đánh giá sau sự cố. Đối với trí tuệ nhân tạo, bổ sung phạm vi dữ liệu được phép sử dụng, giám sát của con người, lưu vết, kiểm chứng nội dung và trách nhiệm của người phê duyệt cuối cùng, phù hợp với các nguyên tắc của UNESCO (2021).

Nhóm thứ bảy, kết quả và tác động là nhóm quyết định để xác nhận tính thực chất của đổi mới. Chỉ báo gồm: tiếp cận đúng, hiểu đúng, tin cậy, đồng thuận, năng lực giải thích lại, thay đổi hành vi lãnh đạo, chất lượng phối hợp, mức độ hoàn thành nhiệm vụ và giá trị phục vụ Nhân dân. Cần chọn phép đo phù hợp: câu hỏi tình huống để hiểu đúng; đánh giá nguồn và mức độ sẵn sàng sử dụng để bảo đảm độ tin cậy; sản phẩm giải thích để đánh giá năng lực tái truyền thông; hồ sơ quyết định và tiến độ nhiệm vụ để đánh giá hành vi. Khoảng cách giữa đồng thuận và hành động là chỉ báo cảnh báo rằng, thông điệp thiếu căn cứ, dẫn liệu, nguồn lực hoặc hỗ trợ để thực thi.

Để vận hành, mỗi tiêu chí phải được cụ thể hóa thành chỉ báo, công thức hoặc thang đo; nguồn dữ liệu; tần suất; đơn vị cung cấp; đơn vị kiểm chứng; đường cơ sở; mức đích; và ngưỡng cảnh báo. Có thể quy đổi về thang năm mức để theo dõi xu hướng, nhưng không cộng điểm cơ học giữa các chỉ số khác nhau về bản chất. Những điều kiện về đúng định hướng, thẩm quyền, bí mật nhà nước, dữ liệu cá nhân và an ninh mạng là các tiêu chí ngưỡng: vi phạm một điều kiện trọng yếu thì sản phẩm không đạt, dù có độ phủ cao. Kết quả phải được đọc theo quan hệ giữa các nhóm để xác định điểm gãy của chuỗi.

Bốn nguyên tắc đo lường cần được tuân thủ. Thứ nhất, có đường cơ sở và mục tiêu theo thời gian. Thứ hai, phân tách dữ liệu theo chức danh, khối cơ quan, cấp công tác, lĩnh vực và địa bàn để không che lấp chênh lệch. Thứ ba, kết hợp dữ liệu định lượng, định tính và kiểm chứng chéo; nhật ký truy cập không thay thế đánh giá đúng mức; tự báo cáo không thay thế hồ sơ hành động. Thứ tư, thận trọng khi suy luận nhân quả vì kết quả của nhiệm vụ còn chịu tác động bởi thể chế, nguồn lực và bối cảnh. Hướng dẫn đánh giá cập nhật của Chính phủ Anh cũng nhấn mạnh lý thuyết thay đổi, thử nghiệm, giá trị sử dụng và việc tích hợp đánh giá vào toàn bộ vòng đời của can thiệp (HM Treasury & Evaluation Task Force, 2026).

Thể chế hóa hệ tiêu chí mang lại 3 giá trị quản trị, tạo ngôn ngữ chung về đổi mới và trách nhiệm; chuyển động lực từ việc làm nhiều sản phẩm sang tạo ra những thay đổi có giá trị; cung cấp dữ liệu cho quyết định phân bổ nhân lực, kinh phí, nền tảng và ưu tiên cải tiến. Báo cáo cần phục vụ một trong 4 quyết định: duy trì, điều chỉnh, mở rộng hoặc dừng. Hệ tiêu chí chỉ phát huy tác dụng khi được dùng như một công cụ học hỏi và ra quyết định, không trở thành một lớp thủ tục báo cáo mới.

6. Kết luận

Đổi mới công tác truyền thông chính trị đối với cán bộ chủ chốt cấp tỉnh là một nội dung của đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và nâng cao năng lực quản trị phát triển. Bản chất của đổi mới không nằm ở số lượng công cụ mới mà ở khả năng tổ chức lại toàn bộ chu trình từ xác định vấn đề, nghiên cứu đối tượng, thiết kế thông điệp, lựa chọn kênh, đối thoại, phản hồi, hỗ trợ thực thi đến đánh giá tác động và lưu trữ tri thức. Đổi mới chỉ được xác nhận khi tạo ra giá trị cho phía người nhận và được thể chế hóa, đo lường, duy trì trong kết quả của nhiệm vụ. Khung sáu phương diện, chu trình tám bước và bảy nhóm tiêu chí cung cấp công cụ để nhận diện đổi mới thực chất, xác định điểm gãy trong chuỗi kết quả và lựa chọn ưu tiên can thiệp. Hướng chuyển đổi cần nhất quán là từ truyền đạt một chiều sang truyền đạt – giải thích – đối thoại – phản hồi – hỗ trợ hành động; từ thông điệp dùng chung sang phân đoạn có kiểm soát; từ cộng thêm kênh sang tích hợp luồng thông tin; từ đo đầu ra sang đo kết quả, tác động và rủi ro.

Trong bối cảnh chính quyền địa phương hai cấp, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo, yêu cầu đặt ra là thiết lập đầu mối điều phối, quy tắc phiên bản và thẩm quyền, vòng phản hồi khép kín, giám sát của con người và hệ thống đo lường dựa trên bằng chứng. Khi kết quả đánh giá dẫn tới quyết định duy trì, điều chỉnh, mở rộng hoặc dừng, truyền thông chính trị mới trở thành năng lực tổ chức quyền lực, kiến tạo đồng thuận, nâng cao trách nhiệm giải trình và thúc đẩy hành động phát triển ở địa phương.

Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2022). Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 17/11/2022 về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026a). Quy định số 19-QĐ/TW ngày 08/4/2026 về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026b). Kết luận số 76-KL/TW ngày 28/7/2026 về việc tiếp tục hoàn thiện, vận hành hiệu quả mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Ban Chỉ đạo Chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng (2026). Quyết định số 23-QĐ/BCĐ ngày 17/8/2026 ban hành Bộ chỉ số đánh giá năng lực số và mức độ sẵn sàng chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng, phiên bản 1.0.
Bộ Chính trị (2026). Chỉ thị số 01-CT/TW ngày 23/01/2026 về việc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
Cabinet Office. (2023). Government Functional Standard GovS 011: Communications. UK Government.
Canel, M. J., & Luoma-aho, V. (Eds.). (2019). Public Sector Communication: Closing Gaps Between Citizens and Public Organizations. Wiley-Blackwell.
Castells, M. (2013). Communication Power (2nd ed.). Oxford University Press.
Chính phủ (2026). Nghị định số 244/2026/NĐ-CP ngày 26/6/2026 quy định chi tiết việc phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của các cơ quan hành chính nhà nước.
Deutsch, K. W. (1963). The Nerves of Government: Models of Political Communication and Control. Free Press.
Entman, R. M. (1993). Framing: Toward clarification of a fractured paradigm. Journal of Communication, 43(4), 51–58. https://doi.org/10.1111/j.1460-2466.1993.tb01304.x
HM Treasury & Evaluation Task Force. (2026). Magenta Book: Central Government Guidance on Evaluation. UK Government.
Katz, E., & Lazarsfeld, P. F. (1955). Personal Influence: The Part Played by People in the Flow of Mass Communications. Free Press.
McNair, B. (2018). An Introduction to Political Communication (6th ed.). Routledge.
Morrison, E. W., & Milliken, F. J. (2000). Organizational silence: A barrier to change and development in a pluralistic world. Academy of Management Review, 25(4), 706–725. https://doi.org/10.5465/amr.2000.3707697
Norris, P. (2000). A Virtuous Circle: Political Communications in Postindustrial Societies. Cambridge University Press.
Quốc hội (2024). Luật Dữ liệu năm 2024.
Quốc hội (2025). Luật An ninh mạng năm 2025.
Quốc hội (2025). Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2025.
Quốc hội (2025). Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025.
Quốc hội (2025). Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025.
OECD. (2021). OECD Report on Public Communication: The Global Context and the Way Forward. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/22f8031c-en
OECD. (2025). Public Communication Scan of France: Evaluating Public Communication Performance to Strengthen Public Trust. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/7450361a-en
UNESCO. (2021). Recommendation on the Ethics of Artificial Intelligence. UNESCO. https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000381137
Văn phòng Trung ương Đảng. (2026). Thông báo số 134-TB/VPTW ngày 02/8/2026 về kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại phiên họp Ban Chỉ đạo Trung ương thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Wardle, C., & Derakhshan, H. (2017). Information Disorder: Toward an Interdisciplinary Framework for Research and Policymaking. Council of Europe.