Social development theories in the Early 21st Century and Their Relevance to the Development of Theory in Vietnam Today
TS. Nguyễn Kim Tôn
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Email: tdpy.kimton@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Đầu thế kỷ XXI, trước những chuyển biến của tình hình thế giới, nhiều lý thuyết phát triển xã hội mới đã ra đời, kịp thời lý giải và phản ánh nhu cầu phát triển của từng quốc gia, khu vực cũng như của toàn thể nhân loại. Bài viết phân tích những nội dung cơ bản, tầm ảnh hưởng của các lý thuyết phát triển xã hội trong những thập niên đầu thế kỷ XXI ở một số nước phương Tây, từ đó, chỉ ra một số giá trị tham khảo đối với phát triển lý luận ở Việt Nam hiện nay.
Từ khóa: Lý thuyết phát triển; phát triển lý luận; Thế kỷ XXI; Việt Nam.
Abstract: At the beginning of the 21st century, in response to shifts in the global landscape, various new social development theories emerged, offering timely explanations and reflecting the development needs of individual nations, regions, and humanity as a whole. This article analyzes the core content and influence of social development theories in several western countries during the early decades of the 21st century, thereby highlighting key reference values for theoretical development in Vietnam today.
Keywords: Development theory; Theoretical development; 21st century; Vietnam.
1. Đặt vấn đề
Phát triển xã hội là một trong những vấn đề trung tâm của đời sống lý luận và thực tiễn thế giới. Vấn đề này có nội hàm rộng, luôn vận động cùng những biến đổi của lịch sử nhân loại. Cách tiếp cận phát triển đồng nhất với tăng trưởng kinh tế, công nghiệp hóa, đô thị hóa và gia tăng thu nhập bình quân đầu người ngày càng bộc lộ những giới hạn. Một quốc gia có thể đạt tốc độ tăng trưởng cao nhưng vẫn tồn tại bất bình đẳng lớn, thiếu hụt dịch vụ xã hội, suy thoái môi trường, khủng hoảng niềm tin và hạn chế về khả năng tham gia của người dân. Vì vậy, câu hỏi “phát triển là gì?” ngày càng được đặt ra bên cạnh câu hỏi “làm thế nào để tăng trưởng?”.
Sự phát triển của khoa học xã hội hiện đại cho thấy không có một lý thuyết duy nhất có thể giải thích đầy đủ tiến trình phát triển của mọi quốc gia. Các lý thuyết phát triển xã hội được hình thành trong những bối cảnh lịch sử cụ thể, góp phần giải quyết những vấn đề của thực tiễn trong những giai đoạn lịch sử cụ thể.
Bối cảnh thế giới hiện nay làm cho lý luận phát triển đứng trước những thách thức mới. Biến đổi khí hậu, chuyển đổi năng lượng, già hóa dân số, biến động địa chính trị, đứt gãy chuỗi cung ứng, bất bình đẳng, trí tuệ nhân tạo và chuyển đổi số đang làm thay đổi phương thức sản xuất, việc làm, quản trị xã hội và quan niệm về tiến bộ.
Đối với Việt Nam, công tác lý luận có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, mang tính toàn diện, từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu thành một trung tâm sản xuất và xuất khẩu quan trọng của thế giới, thu nhập bình quân đầu người tăng nhanh. Tuy nhiên, nhiều thách thức mới đe dọa tính bền vững và triển vọng phát triển của Việt Nam trong tương lai. Do đó, nghiên cứu các lý thuyết phát triển xã hội đương đại không chỉ hiểu hơn về sự phát triển lý luận của nhân loại mà còn tạo cơ sở để tiếp thu có chọn lọc những giá trị lý luận tiến bộ nhằm tiếp tục hoàn thiện tư duy phát triển xã hội ở Việt Nam hiện nay.
2. Một số lý thuyết phát triển xã hội tiêu biểu đầu thế kỷ XXI ở phương Tây
2.1. Lý thuyết phát triển kinh tế theo mô hình Bánh Donut (Doughnut Economics) do Kate Raworth – nhà kinh tế học sinh thái người Anh đề xuất.
Đây là một trong những khung lý thuyết phát triển nổi bật của thế giới đầu thế kỷ XXI. Mô hình này ra đời với mong muốn khắc phục những hạn chế của tư duy kinh tế vốn coi sự phát triển đồng nghĩa với tăng trưởng GDP vô hạn. Nội dung lý thuyết được thể hiện qua hình ảnh trực quan dưới dạng một chiếc bánh Donut gồm hai vòng tròn đồng tâm, biểu thị cho: “một nền tảng xã hội – nhằm đảm bảo không ai bị thiếu hụt các nhu yếu phẩm cơ bản của cuộc sống – và một trần giới hạn sinh thái – nhằm đảm bảo nhân loại không làm mất ổn định các hệ thống duy trì sự sống trên trái đất” (Doughnut Economics Action Lab, 2026).
Trong mô hình kinh tế bánh Donut, hai vòng tròn đồng thời tạo ra hai vùng giới hạn mà con người cần thích ứng. Vòng trong của bánh xác định mức tối thiểu về mặt xã hội để đảm bảo không ai bị thiếu hụt các nhu cầu căn bản của cuộc sống. Trước giới hạn tối thiểu này, mục tiêu của tiến trình phát triển là không để bất kỳ cộng đồng hay cá nhân nào rời vào vùng thiếu hút (lọt vào “lỗ hổng” giữa chiếc bánh).
Vòng ngoài của bánh (trần sinh thái), là giới hạn sức tải của Trái Đất để tránh gây ra những đứt gãy môi trường thảm khốc. Mục tiêu của phát triển là không để các hoạt động kinh tế vượt quá vành ngoài của bánh (vùng quá tải sinh thái).
Với mô hình kinh tế này, nhiệm vụ của nhân loại là duy trì cân bằng giữa khả năng chịu đứng của trái đất với việc đáp ứng nhu cầu tối thiểu của con người. Điều này góp phần thay đổi tư duy phát triển, từ tăng trưởng GDP sang cân bằng sinh thái và xã hội.
Lý thuyết phát triển kinh tế theo mô hình Bánh Donut đã nhận được sự quan tâm của cộng đồng quốc tế. Tại Amsterdam, Hà Lan năm 2020, chính quyền thành phố đã tích cực ứng dụng mô hình phát triển kinh tế Bánh Donut làm kim chỉ nam cho toàn bộ chính sách công và chiến lược phát triển đô thị. Với sự thành công của chính quyền thành phố Amsterdam, mạng lưới ứng dụng mô hình phát triển kinh tế bánh Donut đã lan rộng ra nhiều đô thị lớn khác. “Tháng 6/2022, Copenhagen cũng quyết định noi theo ví dụ của Amsterdam. Brussels , thủ đô của Bỉ, cũng đang thử nghiệm lý thuyết này ở các quy mô khác nhau” (Maria-Cristina Florian, 2025).
2.2. Lý thuyết giảm tăng trưởng (Degrowth Movement)
Đây là một trào lưu tư tưởng kinh tế – sinh thái chính trị nảy sinh và phát triển mạnh mẽ ở châu Âu đầu thế kỷ XXI, được nhà kinh tế học người Pháp Serge Latouche hệ thống hóa thành một lý thuyết phát triển xã hội. Tư tưởng cốt lõi của lý thuyết là: “sản xuất và tiêu dùng ít đi đồng nghĩa với phúc lợi xã hội và sinh thái lớn hơn.” (Meryl McBroom, 2024), Lý thuyết này hướng đến việc thu hẹp quy mô tiêu thụ năng lượng và vật chất nhằm tạo ra sự cân bằng trong mối quan hệ giữa con người và sinh thái, trong đó cần thực thi 5 trụ cột chính: Giảm ngành công nghiệp vô ích; giảm giờ làm việc; tái phân phối của cải; phát triển kinh tế tái tạo; bảo vệ môi trường tự nhiên.
Mặc dù còn nhiều tranh cãi nhưng lý thuyết giảm tăng trường ngày càng lan rộng trên phạm vi toàn cầu. Thuật ngữ degrowth (giảm tăng trưởng) đã được sử dụng chính thức bởi nhiều tổ chức quan trọng của thế giới như Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu; Nghị viện châu Âu…
2.3. Lý thuyết Chủ nghĩa tư bản dữ liệu và Mô hình xã hội 5.0
Đây là hai lý thuyết phát triển mới phản ánh những tác động mạnh mẽ của khoa học và công nghệ đối với sự phát triển của nhân loại trong thế kỷ XXI. Lý thuyết Chủ nghĩa tư bản dữ liệu với đại diện tiêu biểu là Shoshana Zuboff – Giáo sư danh dự tại Trường Kinh doanh Harvard, đã đưa ra những cảnh báo về nguy cơ công nghệ thao túng con người. Hành vi con người trên không gian mạng đã trở thành dữ liệu quy giá cho nhiều hãng công nghệ lớn trong việc kinh doanh, thao túng, định hướng hành vi bằng các thuật toán để tối đa hóa lợi nhuận. Điều này lý giải vì sao các dịch vụ công nghệ luôn có lợi nhuận khổng lồ mặc dù là miễn phí. Lý thuyết này đã trở thành nền tảng lý luận cho việc xây dựng khung pháp lý nhằm bảo vệ quyền lợi của người sử dụng các dịch vụ công nghệ trên nền tảng dữ liệu số hiện nay.
Lý thuyết xã hội 5.0 với định hướng lấy con người làm trung tâm của kỷ nguyên số. Được khởi xướng bởi Chính phủ Nhật Bản, lý thuyết về mô hình xã hội 5.0 phác thảo một “xã hội siêu thông minh”, nơi không gian mạng và không gian thực được hợp nhất cao độ thông qua IoT, Big Data, Robot và AI. Các tiến bộ về công nghệ sẽ mang lại giải pháp tối ưu cho từng cá nhân, giải phóng con người khỏi các công việc vật lý đơn thuần hay thao tác đơn điệu.
Lý thuyết xã hội 5.0 phản ánh những giá trị tiến bộ của khoa học và công nghệ trong việc thúc đẩy xã hội, khắc phục những nguy cơ về nhân lực mà con người đang phải đối mặt như tình trạng già hóa dân số, thiếu hụt lao động, đồng thời nâng cao hiệu quả quản trị xã hội.
2.4. Lý thuyết toàn cầu hóa chậm
Lý thuyết này được nhà khoa học Hà Lan Adjiedj Bakas khởi xướng, sau đó được các nhà kinh tế học Dani Rodrik của Đại học Harvard và Rana Foroohar, nhà phân tích của Financial Times hoàn thiện nền tảng lý luận. Toàn cầu hóa chậm không phải là sự sụp đổ hay đảo ngược hoàn toàn của toàn cầu hóa. Trái lại, hàng hóa và vốn vẫn lưu thông nhưng hình thái, động lực, tốc độ của nó đã thay đổi căn bản.Lý thuyết này đã góp phầnvẽ lại bản đồ kinh tế và chính trị toàn cầu trong thế kỷ XXI.
2.5. Lý thuyết thể chế và yêu cầu kiến tạo luật chơi cho phát triển
Lý thuyết thể chế được Simon Johnson, Daron Acemoglu, thuộc viện Công nghệ Massachusetts và James A. Robinson, Đại học Chicago thể hiện qua các công trình nghiên cứu về cách thức hình thành các thể chế và tác động của chúng đối với sự thịnh vượng. Theo lý thuyết này, “những xã hội có hệ thống pháp luật yếu kém cùng các thể chế bóc lột người dân sẽ không thể tạo ra sự tăng trưởng hay những thay đổi theo hướng tốt đẹp hơn” (Nobel Prize Outreach, 2024), Lý thuyết đã góp phần giải đáp câu hỏi của nhân loại tại sao các quốc gia có nguồn lực tương đối giống nhau nhưng lại có kết quả phát triển rất khác nhau? Tại sao quốc gia này thì giàu có, trong khi những quốc gia khác lại nghèo đói, chìm trong xung đột và suy thoái? Điều này không phải do các yếu tố địa lý, văn hóa, kiến thức mà hoàn toàn do thể chế quyết định. Thể chế tốt sẽ thúc đẩy sự phát triển; ngược lại, thể chế yếu sẽ kìm hãm sự phát triển. Do vậy, việc hoàn thiện thể chế, xây dựng thể chế kiến tạo cho sự phát triển trở thành yêu cầu quan trọng của thế giới hiện nay.
Lý thuyết phát triển này đã ảnh hưởng không nhỏ tới chính sách của các tổ chức quốc tế, cũng như trong hoạch định chính sách của nhiều quốc gia. Nhiều tổ chức quốc tế đã chuyển trong tâm sang hỗ trợ thúc đẩy cải cách thể chế, nâng cao năng lực quản trị công, phòng chống hiệu quả tham nhũng, lãng phí. Tại nhiều quốc gia, xây dựng nhà nước kiến tạo phát triển đã trở thành nhiệm vụ trọng tâm và thường xuyên trong tiến trình phát triển.
3. Giá trị tham khảo đối với phát triển lý luận ở Việt Nam hiện nay
Trước sự biến đổi mạnh mẽ của tình hình thế giới đầu thế kỷ XXI, nhiều lý thuyết phát triển mới đã ra đời nhằm luận giải những vấn đề của thực tiễn cũng như nhu cầu phát triển mà nhân loại đang hướng tới. Các lý thuyết phát triển thể hiện rất đa dạng với nhiều cách tiếp cận, và nhiều phương diện khác nhau, tập trung lý giải nhiều khía cạnh khác nhau trong tiến trình phát triển. Các lý thuyết phát triển xã hội được phân tích trên đây đều chứa đựng những giá trị lý luận tiến bộ nhưng cũng tồn tại những giới hạn do phạm vi tiếp cận cũng như mục tiêu hướng tới của các chủ thể xây dựng. Đối với Việt Nam, việc nghiên cứu tiếp thu có chọn lọc những giá trị tinh hoa của nhân loại trong quá trình phát triển là điều tất yếu. Do vậy, nghiên cứu về các lý thuyết phát triển xã hội trên đây là cần thiết. Với những kết quả đạt được, các lý thuyết phát triển xã hội trên đây đem đến những giá trị tham khảo đối với phát triển lý luận ở Việt Nam hiện nay, như sau:
Thứ nhất, xây dựng hệ thống lý luận khoa học, toàn diện nhưng cần phải cụ thể hóa, đi sâu giải quyết các vấn đề cụ thể của thực tiễn.
Chủ nghĩa Mác – Lênin là hệ thống lý luận hoàn bị nhất mà nhân loại có được trong tiến trình phát triển cho đến nay. Các quan điểm phát triển được thể hiện trong hệ thống lý luận này không chỉ phản ánh đúng đắn quy luật vận động và phát triển của thế giới mà còn vách rõ cách thức để con người thay đổi thế giới, hướng tới sự phát triển toàn diện và triệt để nhằm giải phóng con người và toàn thể nhân loại.
Trước một hệ thống lý luận khoa học, việc nhận thức và vận dụng đúng đắn vào trong thực tiễn là yêu cầu và đòi hỏi của tất cả các lực lượng cách mạng tiến bộ. Chủ nghĩa Mác – Lênin dù có hoàn bị đến mấy nhưng nếu chỉ dừng lại ở những lý luận khái quát, chung nhất mà không có sự vận dụng để giải quyết vào các vấn đề cụ thể của thực tiễn thì hệ thống lý luận đó cũng sẽ không thể phát huy giá trị. Cũng giống như hệ thống điện ở đường dây siêu cao thế, mặc dù rất mạnh nhưng không thể sử dụng được.
Tại Việt Nam hiện nay, chủ nghĩa Mác – Lênin được nghiên cứu, giảng dạy và truyền bá rộng khắp. Những nội dung cốt lõi, có tính bản chất đã được các nhà lý luận Việt Nam nhận thức và phát triển gắn liền với thực tiễn Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, việc vận dụng lý luận khoa học này vào trong thực tiễn lại chưa tương xứng với khả năng nhận thức. Hay nói cách khác, nhiều nội dung nhận thức về chủ nghĩa Mác – Lênin chưa được chuyển hóa thành giá trị thực tế. Hiểu đúng nhưng chưa làm, không làm hoặc không chịu làm đúng theo tinh thần khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin vẫn còn tồn tại phổ biến ở nhiều nơi. Thậm chí, còn tồn tại hiện tượng hiểu đúng nhưng vẫn cố tình làm sai.
Để vận dụng hiểu quả lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, cần thiết phải phát triển lý luận, cụ thể hóa nội dung lý luận trong việc giải quyết các vấn đề cụ thể của thực tiễn. Điều này cũng giống như việc đưa điện từ đường dây siêu cao thế vào từng hộ gia đình để sử dụng. Nó đòi hỏi cần biến thế, xây dựng đường dây hạ thế đưa điện vào từng hộ gia đình, từng khu vực để sử dụng.
Đối với lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin, để ứng dụng hiệu quả cần phát triển lý luận theo hướng cụ thể hóa, lý giải và giải quyết từng nhiệm vụ cụ thể của thực tiễn. Điển hình như để vận dụng nguyên tắc khách quan trong giải quyết các vấn đề của thực tiễn, cần phát triển lý luận về nguyên tắc này gắn với từng lĩnh vực, từng nhiệm vụ cụ thể. Khách quan trong hoạt động kinh tế, trong hoạt động chính trị, trong giải quyết các vấn đề văn hóa – xã hội, an ninh – quốc phòng, giáo dục và đào tạo của Việt Nam hiện nay sẽ như thế nào? Yếu tố nào làm ảnh hưởng tới việc vận dụng và thực hiện nguyên tắc khách quan trong giải quyết từng nhiệm vụ cụ thể? Cần phải làm gì để vận dụng hiệu quả nguyên tắc khách quan trong thực tiễn, trong giải quyết các nhiệm vụ cụ thể của cuộc sống?.
Thực tế khi nghiên cứu lý thuyết phát triển tại các nước phương Tây hiện nay có thể thấy, mặc dù các lý thuyết này chưa phải là hệ thống lý thuyết có tính toàn diện, triệt để, còn tồn tại những giới hạn nhất định nhưng nó lại phù hợp và thể hiện tính đúng đắn ở những phạm vị cụ thể, hướng con người giải quyết các nhiệm vụ cụ thể của thực tiễn. Và khi nó được vận dụng để giải quyết các nhiệm vụ cụ thể này, nó vẫn phát huy tác dụng và đem lại những giá trị thiết thực.
Điển hình như lý thuyết thể chế của Simon Johnson, Daron Acemoglu và James A. Robinson, mặc dù không thể đúng khi giải thích sự chênh lệch trong phát triển giữa các vùng, miền trong một quốc gia, vì có cùng thể chế nhưng nhiều vùng, miền trong một quốc gia vẫn có sự chênh lệch phát triển rất lớn, chứng tỏ nguyên nhân thể chế chỉ là phần nhỏ. Dù có điểm hạn chế, lý thuyết thể chế cũng đã chỉ ra được vai trò của thể chế, hướng con người đến việc giải quyết các nhiệm vụ cụ thể là hoàn thiện thể chế và xây dựng thể chế kiến tạo cho sự phát triển. Khi thể chế được hoàn thiện và mang tính kiến tạo, nó sẽ đem lại những giá trị tích cực của thực tiễn.
Thứ hai, xây dựng nguyên tắc vận dụng lý luận vào thực tiễn trong bối cảnh còn nhiều tranh cãi và chưa thống nhất.
Hầu hết các lý thuyết phát triển xã hội tại các nước phương Tây hiện nay dù chứa đựng nhiều giá trị tích cực nhưng do chưa toàn diện và triệt để nên luôn vấp phải những những ý kiến trái chiều, phản biện. Tuy vậy, dù chưa thống nhất, nhiều lý thuyết phát triển vẫn được vận dụng hiệu quả vào giải quyết các vấn đề của thực tiễn. Lý thuyết Chủ nghĩa tư bản dữ liệu đã thúc đẩy việc hình thành thể chế để bảo vệ người dân trong môi trường số. Lý thuyết kinh tế theo mô hình bánh Donut đã được ứng dụng hiệu quả ở nhiều thành phố trong việc xây dựng chính sách giảm thiểu tác động môi trường, khai thác hiệu quả các nguồn lực hiện có. Lý thuyết thể chế đã thúc đẩy cộng đồng quốc tế quan tâm tới các chính sách hoàn thiện thể chế nhằm kiến tạo cho sự phát triển.
Việc vận dụng hiệu quả này đã tạo ra động lực lớn thúc đẩy sự phát triển của từng khu vực và từng quốc gia trên thế giới. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc vận dụng nội dung lý luận vào giải quyết các vấn đề của thực tiễn ngay cả khi hệ thống lý luận còn chưa thống nhất, vẫn còn có sự tranh cãi, thậm chí vẫn còn có những hạn chế nhất định. Điều này đặt ra nguyên tắc vận dụng lý luận vào giải quyết các vấn đề thực tiễn. Đó là, khi một hệ thống lý luận chứa đựng cả giá trị tích cực và những điểm hạn chế thì vẫn có thể chắt lọc những điểm tích cực để vận dụng vào trong thực tiễn, đồng thời bỏ qua những điểm hạn chế. Miễn sao sự vận dụng này sẽ đem lại những tác động tích cực trong thực tiễn. Điều này phù hợp với nguyên tắc lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin: thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý. Chính vì vậy, không vì một vài điểm hạn chế của hệ thống lý luận mà phủ nhận cả những điểm tích cực của nó. Thực hiện nguyên tắc này sẽ góp phần giảm thiểu sự tranh cãi không cần thiết trước một hệ thống lý luận còn chứa đựng cả điểm tích cực và điểm hạn chế trong quá trình vận dụng.
4. Kết luận
Sự ra đời của các lý thuyết phát triển xã hội tại các nước phương Tây đầu thế kỷ XXI cho thấy, nhận thức của nhân loại về phát triển đã có sự chuyển biến rất sâu sắc trước xu thế vận động mới của thời đại. Sự đa dạng của các lý thuyết phản ánh sự đa dạng của thực tiễn thế giới hiện nay, hướng đến giải quyết các nhiệm vụ trên từng lĩnh vực cụ thể của thực tiễn.
Đối với Việt Nam, là bộ phận không thể tách rời của nhân loại, các nhu cầu phát triển được thể hiện trong các lý thuyết từ các nước phương Tây cũng có nhiều điểm tương đồng và phản ánh nhu cầu phát triển của Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, Việt Nam không thể áp dụng máy móc các lý thuyết phát triển này vào trong thực tiễn, trái lại cần phải nghiên cứu và nắm rõ bản chất của các lý thuyết, chỉ ra những điểm tích cực, hạn chế và tác động của nó tới tiến trình phát triển của nhân loại. Từ đó tiếp thu một cách phù hợp nhất trong nghiên cứu và vận dụng lý luận trọng giải quyết các vấn đề của thực tiễn Việt Nam hiện nay. Trong đó, việc xây dựng hệ thống lý luận khoa học, toàn diện nhưng cần phải cụ thể hóa, đi sâu giải quyết các vấn đề cụ thể của thực tiễn, đồng thời xây dựng nguyên tắc vận dụng lý luận vào thực tiễn trong bối cảnh còn nhiều tranh cãi và chưa thống nhất là những bài học có ý nghĩa quan trọng hiện nay.
Tài liệu tham khảo:
Daron Acemoglu and James. A. Robinson (2012). Why Nations Fail: The Origins of Power, Prosperity, and Poverty. Crown Publishers, New York.
Doughnut Economics Action Lab, What is the Doughnut?, https://doughnuteconomics.org/doughnut#what-is-the-doughnut
Maria-Cristina Florian (2025). How Amsterdam Uses the Doughnut Economics Model to Create a Balanced Strategy for Both the People and the Environment. https://www.archdaily.com/997291/how-amsterdam-uses-the-doughnut-economics-model-to-create-a-balanced-strategy-for-both-the-people-and-the-environment.
Meryl McBroom. What is the Degrowth Movement?. https://www.careaboutclimate.org/blog/what-is-the-degrowth-movement
Nobel Prize Outreach (2024), press release. https://www.nobelprize.org/prizes/economic-sciences/2024/press-release.



