Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định phân loại rác tại nguồn của người dân TP. Hồ Chí Minh

Factors influencing residents’ intention to sort waste at source in Ho Chi Minh City

TS. Võ Thị Phương Nhung
Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông cơ sở
tại Thành phố Hồ Chí Minh
TS. Võ Thị Hải Hiền
Trường Đại học Lâm Nghiệp
ThS. Bùi Phan Huy
Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông cơ sở
tại Thành phố Hồ Chí Minh
Email: vothiphuongnhung@ptithcm.edu.vn;
hienvth@vnuf.edu.vn; huybp@ptithcm.edu.vn

(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh áp lực xử lý rác thải sinh hoạt của TP. Hồ Chí Minh, bài viết được thực hiện nhằm nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến ý định phân loại rác tại nguồn. Bằng việc khảo sát 202 người dân, dữ liệu được đưa vào phân tích nhân tố khám phá (EFA) và phân tích hồi quy đa biến. Kết quả nghiên cứu chỉ ra yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến ý định phân loại rác tại nguồn là thái độ, tiếp đến là chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi. Bên cạnh đó, kiến thức phân loại rác và cơ sở vật chất cũng được coi có ảnh hưởng đáng kể đến ý định thực hiện hành vi. Kết quả này đã gợi mở các hàm ý quản trị nhằm thúc đẩy người dân tích cực tham gia thực hành phân loại rác tại nguồn.

Từ khóa: Mô hình Thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) mở rộng; phân loại rác tại nguồn; ý định hành vi; TP. Hồ Chí Minh.

Abstract: Amid the growing pressure of domestic waste management in Ho Chi Minh City, this article aims to identify the factors influencing residents’ intention to sort waste at source. Data were collected through a survey of 202 residents and analyzed using exploratory factor analysis (EFA) and multiple regression analysis. The results indicate that attitude is the strongest factor influencing the intention to sort waste at source, followed by subjective norms and perceived behavioral control. In addition, waste-sorting knowledge and infrastructure are also found to have significant effects on behavioral intention. These findings provide managerial implications for encouraging residents to actively participate in waste sorting at source.

Keywords: Extended Theory of Planned Behavior (TPB); waste sorting at source; behavioral intention; Ho Chi Minh City.

1. Đặt vấn đề

TP. Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế lớn nhất Việt Nam, đồng thời cũng là địa phương có tốc độ đô thị hóa và gia tăng dân số nhanh, dẫn đến lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh ngày càng lớn. TP. Hồ Chí Minh là một trong những địa phương phát sinh khối lượng chất thải rắn sinh hoạt cao nhất cả nước, tạo áp lực đáng kể lên hệ thống thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2024). Mặc dù Thành phố đã đầu tư nhiều nguồn lực cho công tác quản lý chất thải, phần lớn chất thải rắn sinh hoạt vẫn được xử lý bằng chôn lấp hoặc đốt, trong khi tỷ lệ tái chế và thu hồi tài nguyên còn thấp (Thi Hanh Tien Nguyen & cộng sự, 2024). Trong bối cảnh đó, phân loại rác tại nguồn được xem là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chất thải, giảm chi phí xử lý, tăng khả năng tái chế và hạn chế ô nhiễm môi trường (Silpa & cộng sự, 2018).

Hiệu quả của các chương trình phân loại rác tại nguồn phụ thuộc phần lớn vào sự tham gia của người dân. Nhiều nghiên cứu cho thấy, hành vi phân loại rác chịu ảnh hưởng không chỉ bởi điều kiện cơ sở hạ tầng mà còn bởi các yếu tố tâm lý, xã hội và nhận thức (Shengli Zhang & cộng sự, 2021; Shibin Zhang & cộng sự, 2024). Trong các mô hình giải thích hành vi, Thuyết hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior – TPB) của Ajzen (1991) được sử dụng rộng rãi để phân tích ý định và hành vi phân loại rác (Icek Ajzen, 1991). Theo TPB, ý định thực hiện hành vi chịu tác động của ba yếu tố cốt lõi gồm thái độ, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi. Nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đã chứng minh khả năng giải thích của TPB đối với hành vi phân loại chất thải (Fitriyah Razali, & cộng sự, 2020; Truong Dinh Thai & Nguyen Van Thich, 2022; Keqiang Wang & cộng sự, 2021)

Tại Việt Nam, phần lớn các nghiên cứu về phân loại rác tại nguồn chủ yếu sử dụng TPB hoặc TPB mở rộng bằng cách bổ sung các yếu tố như nhận thức môi trường, cơ sở vật chất, tuyên truyền hoặc chính sách nhằm nâng cao khả năng giải thích của mô hình (Chương Phạm Hồng & cộng sự, 2024; Le Thi Tuyet Mai & cộng sự, 2024; Tran Pham Khanh Toan, 2021). Tuy nhiên đối với địa bàn TP. Hồ Chí Minh, hiện chỉ có duy nhất nghiên cứu của tác giả Tran Pham Khanh Toan (2021) thực hiện đánh giá các yếu tố ảnh hưởng tới ý định phân loại rác của người dân bằng việc mở rộng mô hình TPB với 3 biến độc lập, gồm: kiến thức phân loại rác, luật pháp quy định và tuyên truyền; tuy nhiên, nghiên cứu này chưa đề cập cơ sở vật chất trong phân loại và thu gom rác thải.

Đối với yếu tố cơ sở vật chất, các nghiên cứu trên thế giới và ở các khu vực khác ở Việt Nam đều cho thấy có ảnh hưởng đáng kể đến ý định phân loại rác tại nguồn (Bo Fan, & cộng sự, 2019; Natasha Juliana & cộng sự, 2022; Truong Dinh Thai & Nguyen Van Thich, 2022; Shengli Zhang & cộng sự, 2021). Việc bổ sung yếu tố cơ sở vật chất vào mô hình đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến ý định phân loại rác tại nguồn đối với địa bàn TP. Hồ Chí Minh sẽ lấp đầy khoảng trống nghiên cứu và góp phần giải thích hành vi phân loại rác tại nguồn tại địa phương.

2. Cơ sở lý thuyết

(1) Hành vi phân loại rác tại nguồn: được hiểu là việc cá nhân hoặc hộ gia đình chủ động phân tách chất thải thành các nhóm khác nhau (như chất thải rắn có khả năng tái sử dụng, tái chế; chất thải thực phẩm; chất thải rắn sinh hoạt khác) ngay tại nơi phát sinh trước khi thu gom và xử lý (Quốc hội, 2020). Đây được xem là một trong những hành vi môi trường quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn và giảm áp lực lên hệ thống xử lý cuối nguồn (Le Thi Thanh Loan & Raquel M Balanay, 2023). Nghiên cứu gần đây nhận định hành vi phân loại rác tại nguồn không chỉ phụ thuộc vào nhận thức và thái độ của người dân mà còn chịu ảnh hưởng bởi cơ sở hạ tầng hỗ trợ và các chuẩn mực xã hội (Natasha Juliana et al., 2022; Truong Dinh Thai & Nguyen Van Thich, 2022; Tran Pham Khanh  Toan, 2021; Keqiang Wang & cộng sự, 2021).

(2) Lý thuyết hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior – TPB) và TPB mở rộng: được xem là một trong những khung lý thuyết phổ biến nhất để giải thích và dự báo các hành vi có chủ đích của con người (Icek Ajzen, 1991). Theo TPB, ý định thực hiện hành vi là yếu tố dự báo trực tiếp của hành vi thực tế và được hình thành từ ba cấu phần cốt lõi gồm thái độ đối với hành vi, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi. Trong lĩnh vực quản lý chất thải, TPB đã được ứng dụng rộng rãi để nghiên cứu hành vi phân loại rác tại nguồn, bởi hoạt động này đòi hỏi cá nhân phải đưa ra quyết định có chủ đích và duy trì thực hiện thường xuyên.

Nhiều nghiên cứu cho thấy, thái độ tích cực đối với bảo vệ môi trường, áp lực xã hội từ gia đình và cộng đồng, cùng với nhận thức về khả năng thực hiện phân loại rác có tác động đáng kể đến ý định phân loại rác của người dân (Jian Cao & cộng sự, 2023; Bo Fan & cộng sự, 2019; Natasha Juliana & cộng sự, 2022; Truong Dinh Thai & Nguyen Van Thich, 2022; Shengli Zhang & cộng sự, 2021; Shibin Zhang & cộng sự, 2024).

Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây cũng chỉ ra mô hình TPB nguyên gốc chưa giải thích đầy đủ sự phức tạp của hành vi môi trường, đặc biệt trong bối cảnh phân loại rác tại nguồn. Do đó, các nhà nghiên cứu thường mở rộng TPB bằng cách tích hợp thêm các biến số như kiến thức môi trường, nhận thức môi trường, thói quen, chuẩn mực đạo đức, bản sắc cá nhân (Jian Cao& cộng sự, 2023; Bo Fan & cộng sự, 2019; Natasha Juliana & cộng sự, 2022; Truong Dinh Thai & Nguyen Van Thich, 2022; Shengli Zhang & cộng sự, 2021; Shibin Zhang & cộng sự, 2024)

Có thể thấy, xu hướng nghiên cứu hiện nay không chỉ sử dụng TPB như một mô hình độc lập mà thường được bổ sung thêm các yếu tố ảnh hưởng khác nhằm nâng cao năng lực giải thích và dự báo hành vi phân loại rác tại nguồn trong những bối cảnh xã hội và văn hóa khác nhau.
3. Các giả thuyết và mô hình nghiên cứu

Với cách tiếp cận bằng việc vận dụng mô hình TPB và mở rộng thêm kiến thức phân loại rác và cơ sở vật chất để nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến ý định phân loại rác tại nguồn của người dân trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh nhằm lấp đầy khoảng trống nghiên cứu, các giả thuyết nghiên cứu, bao gồm:

H1 – Thái độ đối với việc phân loại rác tại nguồn ảnh hưởng đáng kể và cùng chiều đến ý định phân loại rác tại nguồn.

H2 – Chuẩn chủ quan ảnh hưởng đáng kể và cùng chiều đến ý định phân loại rác tại nguồn.

H3 – Nhận thức kiểm soát hành vi ảnh hưởng đáng kể và cùng chiều đến ý định phân loại rác tại nguồn.

H4 – Kiến thức phân loại rác ảnh hưởng đáng kể và cùng chiều đến ý định phân loại rác tại nguồn.

H5 – Cơ sở vật chất hỗ trợ phân loại rác tại nguồn ảnh hưởng đáng kể và cùng chiều đến ý định phân loại rác tại nguồn.

Hình 1: Mô hình nghiên cứu

 (Nguồn: Phân tích và tổng hợp của tác giả)
4. Phương pháp nghiên cứu

Để kiểm chứng mô hình nghiên cứu đề xuất, dữ liệu sơ cấp được thu thập bằng bảng hỏi nhằm đo lường thái độ, mức cảm nhận của đối tượng tham gia khảo sát. Các biến quan sát được đo lường bằng thang đo Likert với 5 mức độ: (1) Rất không đồng ý; (2) Không đồng ý; (3) Bình thường; (4) Đồng ý; (5) Rất đồng ý.

Bảng hỏi được xây dựng và khảo sát thử với 15 phiếu, sau đó được hiệu chỉnh và khảo sát chính thức. Nghiên cứu chính thức được thực hiện với bảng hỏi có 6 biến với 24 thang đo. Đối tượng khảo sát là người dân tại TP. Hồ Chí Minh, hình thức chọn mẫu ngẫu nhiên. Trong phân tích nhân tố khám phá EFA, kích thước mẫu tối thiểu phải là 50, tốt nhất là 100 và tỉ lệ quan sát/biến đo lường tối thiểu là 5:1 và tốt nhất là 10:1 (Joseph F Hair & cộng sự, 2013). Với 24 quan sát được đưa vào nghiên cứu, kích thước mẫu tối thiểu theo tỷ lệ quan sát là 24×5=120 mẫu, tối đa là 24*10=240 mẫu. Tuy nhiên, để bảo đảm dữ liệu đủ lớn, nghiên cứu đã phát ra 250 bảng hỏi.

Kết quả, thu thập được 202 bảng hỏi hợp lệ. Dữ liệu sau khi làm sạch, được đưa vào kiểm định độ tin cậy của thang đo với hệ số Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA. Sau khi kiểm định đạt yêu cầu, dữ liệu tiếp tục được đưa vào phân tích kiểm định hồi quy đa biến.
5. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

(1) Thống kê mô tả mẫu. Nghiên cứu chính thức thu về 202 bảng câu hỏi hợp lệ được thực hiện thống kê mô tả mẫu. Về đặc điểm giới tính, dựa theo kết quả khảo sát, giới tính nữ chiếm nhiều hơn giới tính nam với tỷ lệ 54% nữ và 46% nam, sự chênh lệch về giới tính này là không đáng kể. Về độ tuổi, mẫu nghiên cứu có gần 60% nằm trong độ tuổi từ 20 đến 49 tuổi, trên 50 tuổi có 21,3% và dưới 20 tuổi là 20,3%. Phần lớn người được hỏi có trình độ từ trung cấp đến đại học, chiếm 53%, sau đại học là 10,4% và từ cấp 3 trở xuống là 36,6%.

(2) Kiểm định độ tin cậy thang đo và phân tích nhân tố khám phá (EFA). Kết quả phân tích 21 quan sát của biến độc lập và 3 quan sát của biến phụ thuộc đều cho thấy, các thang đo đều có hệ số Cronbach’s Alpha cao (>0,7), tổng hợp như Bảng 1. Các biến này đều thỏa mãn và được sử dụng cho phân tích EFA tiếp theo.

Bảng 1. Kết quả kiểm định Cronbach’s alpha

Thang đoSố quan sátCronbach’s Alpha
Thái độ đối với việc PTRTN60,870
Chuẩn chủ quan40,727
Nhận thức kiểm soát hành vi40,808
Kiến thức phân loại rác30,770
Cơ sở vật chất40,837
Ý định phân loại rác tại nguồn30,811
(Nguồn: Phân tích của tác giả)

Kết quả phân tích nhân tố EFA các quan sát của biến độc lập cho thấy, các biến quan sát được trích thành 5 nhóm, với tổng phương sai trích (hay tổng biến thiên được giải thích) bằng 64,575% > 50%; hệ số KMO = 0,841 nằm trong khoảng 0,5 ≤ KMO ≤ 1; vì vậy, phân tích nhân tố EFA là thích hợp. Kiểm định Bartlett với Sig.=<0,001, thể hiện mức ý nghĩa cao. Tất cả giá trị hệ số tải nhân tố của các biến quan sát đều lớn hơn 0,5 nên được chấp nhận (chi tiết kết quả ma trận xoay tại Bảng 2).

Bảng 2. Kết quả ma trận xoay các nhân tố

 Nhân tố
12345
TD60,893    
TD50,764    
TD30,738    
TD10,728    
TD20,708    
TD40,630    
CS3 0,830   
CS2 0,779   
CS1 0,772   
CS4 0,752   
KS1  0,798  
KS3  0,797  
KS2  0,757  
KS4  0,722  
CC3   0,793 
CC4   0,792 
CC2   0,647 
CC1   0,528 
KT2    0,794
KT3    0,783
KT1    0,587
(Nguồn: Phân tích của tác giả)

(3) Phân tích hồi quy đa biến. Các biến tiềm ẩn nhận diện được sau phân tích EFA được đưa vào phân tích hồi quy đa biến, kết quả được tổng hợp như Bảng 3.

Bảng 3:  Kết quả phân tích hồi quy đa biến

Biến độc lậpBtSig.VIFBetaThứ tự tác động
KT0,1502,064*0,0401,5670,1354
TD0,3504,875**0,0001,5780,3211
CC0,2593,564**0,0001,2570,2102
KS0,2083,076**0,0021,2650,1813
CS0,1322,070*0,0401,3380,1265
Biến phụ thuộc: Ý định phân loại rác tại nguồn
Số lượng mẫu202
Tóm tắt mô hình 
F33,501**
R20,461
Ghi chú: NS: Không có ý nghĩa thống kê, ** Mức ý nghĩa 1%, * Mức ý nghĩa 5%
(Nguồn: Phân tích của tác giả)

Kết quả hồi quy đa biến với 202 quan sát cho thấy, mô hình nghiên cứu có khả năng giải thích tương đối tốt sự biến thiên của ý định phân loại rác tại nguồn của người dân trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Hệ số R2 có giá trị 0,461cho thấy, năm biến độc lập trong mô hình giải thích được 46,1% sự biến thiên của ý định phân loại rác tại nguồn.

Với F của mô hình = 33,501, Sig của F < 0,001 cho thấy, mô hình hồi quy luôn luôn tồn tại với mức độ tin cậy 99%. Hệ số VIF nằm trong khoảng 1,257–1,578, thỏa mãn điều kiện cho thấy chưa có dấu hiệu đa cộng tuyến nghiêm trọng giữa các biến độc lập. Có thể kết luận mô hình đưa ra là phù hợp với dữ liệu thực tế.

Từ kết quả phân tích hồi quy có thể thấy, các biến độc lập đưa vào mô hình đều có ý nghĩa thông kê, có ảnh hưởng đáng kể đến ý định phân loại rác tại nguồn. Kết quả cho thấy, các biến độc lập trên đều có mối quan hệ biến động cùng chiều, thỏa mãn dấu kỳ vọng ban đầu của các giả thuyết. Như vậy, 5 giả thuyết của nghiên cứu đều được chấp nhận. Dựa vào hệ số hồi quy chuẩn hóa, nghiên cứu xác định tầm quan trọng của các biến như sau: (1) Thái độ đối với việc PTRTN, (2) Chuẩn chủ quan, (3) Nhận thức kiểm soát hành vi, (4) Kiến thức phân loại rác, (5) Cơ sở vật chất.

Kết quả này cho thấy, ý định phân loại rác tại nguồn không chỉ liên quan đến các yếu tố tâm lý cá nhân mà còn có thể được giải thích thông qua những điều kiện hỗ trợ bên ngoài và mức độ hiểu biết của người dân về việc phân loại rác. Cụ thể:

– Thái độ đối với việc phân loại rác tại nguồn có hệ số Beta chuẩn hóa lớn nhất trong năm biến độc lập, Beta = 0,321, với mức ý nghĩa <1%. Điều này cho thấy, khi các yếu tố khác được giữ không đổi, thái độ tích cực hơn đối với phân loại rác tại nguồn có mối liên hệ thuận chiều mạnh nhất với ý định thực hiện hành vi này trong mô hình nghiên cứu. Kết luận này tương đồng với nghiên cứu của các tác giả Shengli Zhang và cộng sự (2021), Truong Dinh Thai & Nguyen Van Thich (2022), Jian Cao & cộng sự (2023), Phạm Hồng Chương & cộng sự (2024).

Kết quả gợi ý rằng, người dân có thể sẵn sàng hình thành ý định phân loại rác tại nguồn hơn khi họ có nhận thức tích cực và ủng hộ phân loại rác tại nguồn. Với việc giả thuyết H1 được chấp nhận cho thấy, việc thúc đẩy phân loại rác tại nguồn không nên chỉ dựa trên yêu cầu tuân thủ quy định mà còn cần góp phần hình thành nhận thức tích cực và sự đồng thuận của người dân đối với hành vi. Xét trên phương diện quản trị, đây là cơ sở để ưu tiên các hoạt động truyền thông làm rõ lợi ích và ý nghĩa của phân loại rác tại nguồn, thay vì chỉ phổ biến quy trình kỹ thuật hoặc nhấn mạnh nghĩa vụ của người dân.

– Chuẩn chủ quan có hệ số Beta là 0,210, đứng thứ hai về mức độ tác động tương đối. Kết quả cho thấy ý định phân loại rác tại nguồn có mối liên hệ thuận chiều với nhận thức của người dân về sự kỳ vọng, ủng hộ hoặc đánh giá của những người có ảnh hưởng đến họ, chẳng hạn như thành viên gia đình, hàng xóm, tổ dân phố và cộng đồng dân cư.

Giả thuyết H2 được chấp nhận. Kết luận này cũng được ủng hộ với các nghiên cứu của Truong Dinh Thai & Nguyen Van Thich, 2022; Jian Cao & cộng sự, 2023; Chương Phạm Hồng & cộng sự, 2024; Shanyong Wang & cộng sự, 2020; Shengli Zhang & cộng sự (2021).

Việc phân loại rác tại nguồn là hành vi được thực hiện thường xuyên trong không gian gia đình nhưng đồng thời có tính cộng đồng cao. Do đó, sự ủng hộ của người thân và cộng đồng có thể góp phần củng cố tính chính đáng của hành vi, tạo ra kỳ vọng xã hội và khuyến khích người dân cân nhắc thực hiện. Kết quả gợi ý rằng, chính quyền địa phương có thể thúc đẩy ý định phân loại rác tại nguồn thông qua các chương trình cộng đồng, sự tham gia của tổ dân phố và những hình thức lan tỏa hành vi tích cực giữa các hộ gia đình.

– Nhận thức kiểm soát hành vi có hệ số Beta = 0,181, với mức ý nghĩa <1%, đứng thứ ba trong mô hình. Kết quả cho thấy, người dân càng cảm thấy mình có đủ khả năng, điều kiện và sự chủ động để phân loại rác thì ý định phân loại rác tại nguồn càng cao. Bài viết có kết luận tương đồng với kết quả của Shanyong Wang & cộng sự (2020); Shengli Zhang & cộng sự (2021); Truong Dinh Thai & Nguyen Van Thich (2022); Jian Cao & cộng sự (2023); Phạm Hồng Chương & cộng sự (2024) về yếu tố nhận thức kiểm soát hành vi ảnh hưởng cùng chiều tới ý định phân loại rác tại nguồn.

Với giả thuyết H3 được chấp nhận. Kết quả nhấn mạnh sự cần thiết của các biện pháp giảm bớt trở ngại trong quá trình thực hiện, đơn giản hóa hướng dẫn và tăng cường khả năng tiếp cận các điều kiện hỗ trợ phân loại rác tại nguồn.

– Kiến thức phân loại rác có hệ số Beta = 0,135, đứng thứ tư. Kết quả cho thấy, kiến thức có tác động thuận chiều và có ý nghĩa thống kê ở mức 5%, mức tác động tương đối thấp so với ba yếu tố kể trên. Giả thuyết H4 được chấp nhận. Kết luận này tương tự với kết luận của tác giả Shengli Zhang và cộng sự (2021).

Phát hiện này hàm ý sự hiểu biết về cách nhận diện, phân loại và xử lý các nhóm rác có thể góp phần củng cố ý định phân loại rác tại nguồn. Tuy nhiên, mức tác động thấp hơn thái độ và chuẩn chủ quan cho thấy, việc cung cấp thông tin đơn thuần để củng cố, tăng thêm kiến thức cho người dân, có thể chưa đủ để tạo ra động lực mạnh mẽ nếu người dân chưa đánh giá cao lợi ích của phân loại rác tại nguồn hoặc chưa nhận được sự ủng hộ từ môi trường xã hội.

– Cơ sở vật chất hỗ trợ phân loại rác tại nguồn có hệ số Beta = 0,126, đứng thứ năm về mức độ ảnh hưởng trong mô hình. Đây là biến có hệ số Beta chuẩn hóa nhỏ nhất trong năm yếu tố, nhưng vẫn có mối liên hệ thuận chiều và đạt ý nghĩa thống kê ở mức 5%. Giả thuyết H5 được chấp nhận. Kết quả này tương tự với các nghiên cứu của Shengli Zhang & cộng sự (2021); Truong Dinh Thai & Nguyen Van Thich (2022).

Kết quả cho thấy, việc tiếp cận các điều kiện hỗ trợ như thùng chứa phù hợp, không gian lưu trữ, điểm tập kết và hệ thống thu gom đáp ứng yêu cầu phân loại có thể góp phần nâng cao ý định phân loại rác tại nguồn. Kết quả này hàm ý, muốn nâng cao ý định phân loại rác tại nguồn cần cải thiện điều kiện thực hiện, đặc biệt là tính thuận tiện và sự nhất quán của hệ thống thu gom sau phân loại.

Kết quả phân tích cho thấy rõ hai vấn đề chính, đó là: thứ nhất, ba yếu tố thuộc mô hình TPB truyền thống đều có tác động cùng chiều và có ý nghĩa thống kê, qua đó cung cấp bằng chứng ủng hộ khả năng vận dụng TPB để giải thích ý định phân loại rác tại nguồn trong bối cảnh TP. Hồ Chí Minh. Thứ hai, kiến thức và cơ sở vật chất cũng có tác động độc lập có ý nghĩa thống kê khi được đưa vào mô hình cùng các biến TPB cho thấy, việc giải thích ý định phân loại rác tại nguồn có thể cần xem xét cả động lực tâm lý lẫn những yếu tố hỗ trợ bên ngoài.
6. Kết luận và hàm ý nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định phân loại rác tại nguồn của người dân trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh thông qua việc vận dụng TPB và mở rộng mô hình bằng kiến thức phân loại rác và cơ sở vật chất hỗ trợ.

Kết quả phân tích cho thấy, mô hình có ý nghĩa thống kê tổng thể. Các yếu tố Thái độ đối với việc phát triển rừng tại nguồn, Chuẩn chủ quan, Nhận thức kiểm soát hành vi, Kiến thức phân loại rác, Cơ sở vật chất hỗ trợ đều có mối quan hệ tác động thuận chiều và có ý nghĩa thống kê tới ý định phân loại rác tại nguồn. Kết quả củng cố khả năng vận dụng TPB trong nghiên cứu ý định phân loại rác tại nguồn, đồng thời cho thấy, cần xem xét thêm những yếu tố liên quan đến kiến thức và điều kiện hỗ trợ thực hiện.

Nghiên cứu đã giúp giải thích được các yếu tố ảnh hưởng tới ý định phân loại rác tại nguồn của người dân tại TP. Hồ Chí Minh. Khi người dân có thái độ càng tích cực đối với việc phát triển rừng tại nguồn thì càng có xu hướng hình thành ý định phân loại rác tại nguồn, đây được cho là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất. Tiếp theo là yếu tố chuẩn chủ quan, khi những người xung quanh càng tham gia và mong muốn thực hành phân loại rác tại nguồn thì người dân càng có ý định thực hiện hành vi. Kế đến, khi nhận thức của người dân về khả năng thực hiện hành vi phân loại rác tại nguồn càng cao thì ý định thực hiện hành vi càng lớn. Nhận thức của người dân về ý nghĩa của hành vi càng nhiều thì người dân càng có xu hướng hình thành ý định phân loại rác tại nguồn. Cuối cùng, ý định thực hành phân loại rác tại nguồn càng cao khi có sự hỗ trợ từ cơ sở vật chất phục vụ phân loại rác tại nguồn, công tác thu gom và phân loại rác.

Từ kết quả phân tích cho thấy, năm yếu tố ảnh hưởng đến ý định phân loại rác tại nguồn (phân loại rác tại nguồn) có thể được nhóm thành ba hàm ý quản trị chính: (1) Nâng cao nhận thức và hình thành thái độ tích cực; (2) Phát huy vai trò cộng đồng và nâng cao năng lực thực hiện; (3) Hoàn thiện cơ sở vật chất và hệ thống thu gom.

Thứ nhất, tăng cường truyền thông và giáo dục nhằm hình thành thái độ tích cực đối với phân loại rác tại nguồn. Chính quyền địa phương cần ưu tiên các chương trình truyền thông giúp người dân nhận thức rõ lợi ích môi trường và ý nghĩa thực tiễn của việc phân loại rác. Đồng thời, cần kết hợp tuyên truyền với hướng dẫn thực hành nhằm nâng cao kiến thức phân loại rác. Việc đánh giá hiệu quả nên dựa trên sự thay đổi về thái độ, kiến thức và mức độ sẵn sàng tham gia của người dân, thay vì chỉ sử dụng số lượt tiếp cận truyền thông.

Thứ hai, phát huy vai trò cộng đồng và nâng cao khả năng thực hiện phân loại rác tại nguồn của người dân. Cần huy động cộng đồng, từ tổ dân phố, các đoàn thể đến các hộ gia đình tham gia thúc đẩy phân loại rác tại nguồn, qua đó, hình thành chuẩn mực xã hội tích cực và khuyến khích sự tham gia tự nguyện. Bên cạnh đó, các chương trình cần đơn giản hóa hướng dẫn phân loại, giải đáp những trường hợp dễ nhầm lẫn và giảm thời gian, công sức mà người dân phải bỏ ra. Sự kết hợp giữa khuyến khích từ cộng đồng và hỗ trợ thực hành sẽ giúp người dân không chỉ nhận thấy, phân loại rác tại nguồn là cần thiết mà còn tin rằng họ có thể thực hiện được trong điều kiện sinh hoạt hằng ngày.

Thứ ba, hoàn thiện cơ sở vật chất và bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống thu gom sau phân loại. Chính quyền địa phương cần phối hợp với đơn vị thu gom và ban quản lý khu dân cư để bố trí phương tiện chứa rác, điểm tập kết và lịch thu gom phù hợp với đặc điểm từng khu vực. Đặc biệt, cần bảo đảm sự nhất quán giữa hướng dẫn phân loại tại hộ gia đình và quy trình thu gom, vận chuyển sau đó nhằm củng cố niềm tin của người dân vào hiệu quả của chương trình.

Tài liệu tham khảo:
Ajzen & Icek. (1991). The theory of planned behavior. Organizational Behavior and Human Decision Processes, 50(2), 179-211.
Bộ Tài nguyên và Môi trường (2024). Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2023: Môi trường nông thôn – Thực trạng và giải pháp. 
Cao, Jian, Qiu, Hongliang, Morrison, Alastair M, & Health, Public. (2023). Self-identity matters: An extended theory of planned behavior to decode tourists’ waste sorting intentions. International Journal of Environmental Research, 20(6), 5099
Phạm Hồng Chương, Lê Hà Thanh, Vũ Cương & Vũ Thu Trang (2024). Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi phân loại rác sinh hoạt tại hộ gia đình ở thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên: tiếp cận từ lý thuyết hành vi có kế hoạch. Tạp chí Kinh tế và Phát triển, 326(2), tr. 2-11.
Fan, Bo, Yang, Wenting, & Shen, Xingchen. (2019). A comparison study of ‘motivation–intention–behavior’model on household solid waste sorting in China and Singapore. Journal of Cleaner Production, 211, 442-454.Quốc hội (2020). Luật Bảo vệ môi trường năm 2020.
Hair, Joseph F, Black, William C, Babin, Barry J, & Anderson, Rolph E. (2013). Multivariate data analysis: Pearson new international edition PDF eBook: Pearson Higher Ed.
Juliana, Natasha, Lada, Suddin, Chekima, Brahim, & Abdul Adis, Azaze-Azizi (2022). Exploring determinants shaping recycling behavior using an extended theory of planned behavior model: An empirical study of households in sabah, Malaysia. Sustainability, 14(8), 4628.
Kaza, Silpa, Yao, Lisa, Bhada-Tata, Perinaz, & Van Woerden, Frank (2018). What a waste 2.0: a global snapshot of solid waste management to 2050: World Bank Publications.
Loan, Le Thi Thanh, & Balanay, Raquel M. (2023). Towards reinforcing the waste separation at source for Vietnam’s waste management: Insights from the Nudge Theory. Environmental Challenges, 10, 100660.
Mai, Le Thi Tuyet, Thao, Do Phuong, Anh, Hoang, Hai, Pham Viet, & Chau, Nguyen Lam Hong (2024). Assessment of awareness, consensus, and willingness to enforce regulations’ household waste separation in Ho Chi Minh City, Vietnam. Paper presented at the IOP Conference Series: Earth and Environmental Science.
Nguyen, Thi Hanh Tien, Nguyen, Thu-Trang, Ha, Ngan-Ha, Nguyen, Kieu Lan Phuong, & Bui, Thanh-Khiet. (2024). Toward a circular economy for better municipal solid waste management in Can Gio district, Ho Chi Minh city. Sustainable Chemistry Pharmacy, 38, 101480.
Razali, Fitriyah, Daud, Dzurllkanian, Weng-Wai, Choong, & Jiram, Wilson Rangga Anthony (2020). Waste separation at source behaviour among Malaysian households: The Theory of Planned Behaviour with moral norm. Journal of Cleaner Production, 271, 122025.
Toan, Tran Pham Khanh (2021). Factors influencing on residents’ household waste separation behavioral intention: Evidence from Ho Chi Minh City, Vietnam. Ho chi minh city open University Journal of Science-economics Business Administration, 122-135
Trương Đình Thái & Nguyễn Văn Thích (2022). Những nhân tố ảnh hưởng đến ý định phân loại rác thải nhựa của sinh viên trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Hue University Journal of Science: Economics Development, 131(5C), 197–216-197–216.
Wang, Keqiang, Lu, Jianglin & Liu, Hongmei. (2021). Residents’ waste source separation behaviours in Shanghai, China. Journal of Material Cycles Waste Management, 23(3), 937 – 949.
Wang, Shanyong, Wang, Jinpeng, Yang, Shu, Li, Jun, & Zhou, Kaile (2020). From intention to behavior: Comprehending residents’ waste sorting intention and behavior formation process. Waste management, 113, 41 – 50.
Zhang, Shengli, Hu, Daiyan, Lin, Tong, Li, Wei, Zhao, Rui, Yang, Hongwei, Jiang & Lei (2021). Determinants affecting residents’ waste classification intention and behavior: A study based on TPB and ABC methodology. Journal of environmental management, 290, 112591.
Zhang, Shibin, Luo, Yuzi, & Zhang, Pu (2024). A comparative study of factors influencing residents’ waste sorting behavior in urban and rural areas of China. Heliyon, 10(9)
* Bài viết thuộc sản phẩm của Đề tài mã số 09-2026-HV-QTKD2 và được tài trợ nghiên cứu bởi Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông.