Chính phủ kiến tạo trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế

(QLNN) – Ở góc nhìn lịch sử, chính phủ kiến tạo là một sự tiếp nối của chính phủ kiến quốc mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên từ 73 năm trước. Ngay trong buổi họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời (03/9/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố, Chính phủ sẽ hành động vì dân, vì quyền lợi và cuộc sống của dân… Hiện nay, chính phủ kiến tạo là sự cụ thể hóa của Chính phủ kiến quốc trong điều kiện mới, điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.

 

Nhận diện về chính phủ kiến tạo

Sự phát triển của khoa học và công nghệ, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0) đã và đang đặt ra những yêu cầu mới về vai trò của các chủ thể trong quá trình phát triển. Vai trò của mỗi chủ thể trong tam giác phát triển nhà nước – xã hội – thị trường ngày nay được tư duy lại. Trong tam giác phát triển đó, vai trò của nhà nước có những thay đổi quan trọng, từ vai trò chủ thể toàn trị đến vai trò tạo điều kiện, tạo lập môi trường, điều tiết, định hướng phát triển. Chính phủ từ vai trò điều hành trên khuôn khổ pháp lý hiện tại đồng thời là chủ thể đưa ra những sáng kiến thể chế, sáng kiến chính sách để tạo ra khung thể chế hỗ trợ cho phát triển.

Theo chúng tôi, ở góc nhìn chung nhất, chính phủ kiến tạo (CPKT) là một mô hình quản lý nhà nước, trong đó Chính phủ đề ra các chính sách mang tính định hướng phát triển, tạo môi trường và điều kiện cho các chủ thể, các thành phần kinh tế phát huy tiềm năng trong môi trường cạnh tranh và hội nhập quốc tế  bảo đảm định hướng phát triển. Với cách tiếp cận đó, CPKT ở Việt Nam có thể nhận diện qua những đặc trưng cơ bản sau:

Thứ nhất, Chính phủ chủ động trong tạo xây dựng thể chế, chính sách tạo điều kiện, môi trường thuận lợi cho phát triển. CPKT thay vì điều hành dựa trên khung pháp lý hiện tại thì đồng thời phải lắng nghe những tín hiệu từ xã hội, từ thị trường, từ sự vận động của đời sống kinh tế – xã hội nắm bắt những thời cơ, thách thức của quá trình hội nhập để đưa ra những chính sách, pháp luật phù hợp với thực tiễn, tạo ra hành lang pháp lý cho sự vận động, phát triển.

Trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay, cơ hội phát triển đến nhanh hơn, nhiều hơn nhưng cũng có xu hướng qua đi nhanh hơn. Vì vậy, Chính phủ phải kịp thời đưa ra những quyết đáp về chính sách, pháp luật để có thể nắm bắt được và tạo thành động lực cho phát triển.

Thứ hai, CPKT là chính phủ hành động. Chính phủ hành động ở đây hàm ý Chính phủ chủ động trong thực hiện chính sách, đưa chính sách vào cuộc sống. Chính phủ làm việc thực sự, lời nói đi đôi với việc làm, lời nói thống nhất với việc làm, lời hứa đi đôi với hành động, cam kết song hành với sự quyết liệt trong thực hiện và tuân thủ cam kết. Sự biến động trong thời kỳ toàn cầu hóa đòi hỏi Chính phủ phải đưa ra quyết định nhanh hơn, triển khai thực hiện các quyết định này nhanh hơn và với quyết tâm chính trị cao hơn. Mỗi chính sách khi tổ chức thực hiện đều có những độ trễ nhất định, đòi hỏi CPKT cần hành động để giảm tối đa độ trễ đó, làm cho các mục tiêu chính sách sớm trở thành hiện thực.

Thứ ba, CPKT tập trung cải thiện môi trường kinh doanh, điều kiện kinh doanh để tạo động lực cho phát triển. Môi trường kinh doanh của Việt Nam đã có những bước đổi mới quan trọng. Theo Báo cáo Môi trường kinh doanh năm 2018 (Doing Business 2018 report), là một nghiên cứu theo dõi mức độ thuận lợi kinh doanh của doanh nghiệp (DN) vừa và nhỏ trên thế giới của Ngân hàng Thế giới vừa công bố, có chủ đề “Môi trường kinh doanh 2018: cải cách để tạo việc làm” cho thấy, Việt Nam tiếp tục được tăng hạng về môi trường kinh doanh khi xếp hạng 68/190 nền kinh tế được đánh giá, tăng thêm 14 bậc so với năm 2017; với số điểm 67,93 trên thang 100.

Đây là một minh chứng cho những nỗ lực của CPKT. Tuy nhiên, để tăng sức hấp dẫn của môi trường kinh doanh, môi trường đầu tư, việc cải thiện môi trường kinh doanh của Việt Nam vẫn còn là hành trình dài mà ở đó, Chính phủ có vai trò đặc biệt quan trọng. Chính sách và các quy định pháp luật cần đáp ứng yêu cầu mang tính chuẩn mực về tính nhất quán, minh bạch và có thể dự báo, tiên lượng. Sự đồng bộ của thể chế cần được bảo đảm để tăng tính hấp dẫn của thị trường, môi trường đầu tư Việt Nam.

Thứ tư, CPKT hướng đến phục vụ người dân và DN. Theo đó, Chính phủ đối thoại nhiều hơn, lắng nghe nhiều hơn và hành động nhiều hơn để phục vụ người dân và DN, phụng sự quốc gia. CPKT phải nâng cao chất lượng dịch vụ công, đáp ứng sự mong mỏi của người dân và DN trong thụ hưởng các dịch vụ. Chính vì vậy, CPKT đồng hành cùng với người dân và DN phát triển, trăn trở với trăn trở của người dân và DN. Những câu hỏi của người dân và DN được Chính phủ lắng nghe và đáp lại bằng câu trả lời cụ thể về chính sách, về pháp luật và bằng chính sự tận tụy của cán bộ, công chức trong thực thi nhiệm vụ.

Thứ năm, CPKT là Chính phủ đổi mới và trách nhiệm. Chính phủ hành động trên cơ sở kiến tạo để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Tư duy quản trị dựa vào các nguồn lực và mô hình phát triển truyền thống sẽ gặp nhiều trở ngại và khó khăn khi hội nhập quốc tế. Nếu như trước đây, có thể lấy tài nguyên thiên nhiên, giá nhân công rẻ, thị trường lớn… làm lợi thế cạnh tranh thì khi hội nhập quốc tế, các nhân tố đó khó tạo nên sự khác biệt.

Vì thế, nếu không có những giải pháp kịp thời và hiệu quả để nâng tầm quản trị của mình thì Việt Nam sẽ rất khó thích ứng được với môi trường quản trị toàn cầu hiện nay và khó nâng cao được năng lực cạnh tranh toàn cầu. CPKT không cho phép bằng lòng với kết quả điều hành hiện tại, kết quả đổi mới hiện tại. CPKT là Chính phủ gắn với thực tiễn, chủ động đưa ra và thực hiện những lộ trình đổi mới trong quản trị, điều hành quốc gia. CPKT thay vì ứng phó với những diễn biến của thực tế thì chủ động xây dựng những kịch bản và đưa ra những quyết sách cụ thể để quốc gia phát triển. CPKT thể hiện đầy đủ trách nhiệm của mình, lấy tinh thần thượng tôn pháp luật làm nền tảng, văn hóa công vụ làm thước đo, sự phát triển của quốc gia là tiêu chí để đánh giá cho kết quả hoạt động.

TS. Đặng Xuân Hoan – Giám đốc Học viện Hành chính Quốc gia phát biểu tại Hội thảo quốc tế: “Chính phủ kiến tạo, liêm chính trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế”, ngày 05/4/2018.

Xây dựng chính phủ kiến tạo – những vấn đề đặt ra

CPKT để kiến quốc, nâng tầm phát triển của đất nước. CPKT là hình ảnh năng động của một chính phủ hiệu lực và hiệu quả. Điều này góp phần củng cố niềm tin của các quốc gia, các nhà đầu tư quốc tế. CPKT có sức lan tỏa trong toàn hệ thống hành chính nhà nước (HCNN), tạo ra động lực và cả áp lực cho hệ thống HCNN phải đổi mới trong hoạt động. Để xây dựng CPKT trong giai đoạn tới, cần phải tập trung vào một số định hướng và giải pháp lớn.

Một là, cần tập trung xây dựng nhà nước kiến tạo, tạo ra sự vận động chung của bộ máy nhà nước. Sự kiến tạo không chỉ đến từ Chính phủ mà còn đến từ các cơ quan nhà nước trong bộ máy nhà nước sẽ tạo ra sự hiệp đồng, vừa hỗ trợ vừa thúc đẩy, vừa tạo áp lực để CPKT hoạt động mạnh mẽ và hiệu quả hơn. Tư duy kiến tạo phát triển cần có sức lan tỏa, để tạo ra sự thay đổi trong tổng thể bộ máy nhà nước, hạn chế tối đa sự thiếu đồng bộ trong triển khai thực hiện các chính sách, quyết nghị của Chính phủ tại các cơ quan hành chính, chính quyền cấp dưới, tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính.

Hai là, cần đổi mới, xác định đúng chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ. Để xây dựng CPKT cần phải xác lập đúng vai trò của Chính phủ, xã hội và thị trường, trong đó xã hội cung cấp nguồn lực, thị trường phân bổ nguồn lực và Chính phủ điều tiết, tạo ra những điều kiện để phát triển, để các nguồn lực được khai thác và sử dụng hiệu quả. Trong nền kinh tế, Chính phủ là chủ thể thúc đẩy, chủ thể tạo điều kiện cho sự vận hành của nền kinh tế thay vì là tác nhân kinh tế chính yếu.

Trong lĩnh vực xã hội, Chính phủ tập trung vào nhiệm vụ bảo đảm an sinh xã hội, cung cấp các dịch vụ công mà các chủ thể ngoài nhà nước không thể cung ứng, không muốn cung ứng, không được cung ứng, tạo ra cơ chế, chính sách để huy động nguồn lực, huy động sự tham gia của xã hội trong cung ứng dịch vụ công, tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh để mở rộng nguồn cung và nâng cao chất lượng dịch vụ công.

Ba là, CPKT là Chính phủ chủ động tạo ra thể chế, có khả năng khái quát hóa những nỗ lực thành công đơn lẻ thành thể chế chung cho phát triển, vì vậy, cần thực hiện cải cách thể chế mạnh mẽ. Cải cách thể chế được xem là con đường ngắn nhất, hiệu quả nhất để phát huy sức mạnh nội lực, huy động ngoại lực cho phát triển. Kinh nghiệm phát triển của các quốc gia cho thấy, hệ thống thể chế tốt cho phép sử dụng có hiệu quả các nguồn lực và khắc phục các hạn chế trong tiến trình phát triển. Hệ thống thể chế tốt giúp cho nền kinh tế – xã hội tránh được những rủi ro từ sự thay đổi, sự biến động vốn diễn ra thường xuyên hơn trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế.

Theo khảo sát của Ngân hàng Thế giới (World Bank, 1997), những nước nào có thể chế nhà nước ổn định, làm cơ sở cho việc tiên liệu tương lai thì ở những nước đó có mức độ đầu tư và tăng trưởng cao hơn so với những nước thiếu thể chế như vậy. Sự phát triển của các quốc gia cho thấy, mức độ đầu tư vào một thị trường phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: mức độ ổn định chính trị, mức độ tiên đoán việc nhà nước ban hành thể chế mới, mức độ phản ánh nguyện vọng của DN trong các chính sách của Nhà nước, khả năng bảo vệ tài sản và an ninh của nhà nước đối với DN tư nhân, độ tin cậy của tư pháp, mức độ tham nhũng… Cải cách thể chế thể hiện sự cam kết đối với các nhà đầu tư trong nước và quốc tế, củng cố sự tin cậy đối với Chính phủ và đối với Việt Nam. Nỗ lực cải cách thể chế là một trong những hình ảnh cụ thể nhất trong xây dựng CPKT.

Bốn là, CPKT phải tập trung vào mục tiêu phát triển, kiến tạo phát triển, tạo ra động lực cho phát triển, phục vụ nhân dân, phục vụ cộng đồng DN. CPKT cần tìm ra những điểm nghẽn trong tiến trình phát triển để đưa ra những hành động phù hợp và hiệu quả, tạo ra những “cú hích” để phá vỡ những điểm nghẽn này, tạo ra nền tảng cho bước phát triển mới. Đứng trước những lựa chọn, CPKT đưa ra được những quyết định tối ưu, phù hợp nhất trong mối tương quan với yếu tố. Cơ sở của những lựa chọn này là lợi ích quốc gia dân tộc, lợi ích nhân dân, phục vụ người dân, DN, phục vụ sự phát triển.

Năm là, CPKT đòi hỏi bộ máy HCNN tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả với đội ngũ cán bộ, công chức thực sự chuyên nghiệp. Sự chậm trễ của các tầng nấc hành chính, thủ tục hành chính cần phải được đơn giản hóa, không chồng chéo, trùng lặp, tạo điều kiện để phát sinh sự nhũng nhiễu, gây lãng phí thời gian và tài chính cho người dân và DN. Việc kiểm soát, cải cách thủ tục hành chính cần được Chính phủ chỉ đạo, triển khai quyết liệt khi ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, có chế tài xử lý nghiêm các hành vi đặt ra thủ tục hành chính trái pháp luật hoặc lợi dụng các thủ tục hành chính, thiếu minh bạch trong thực hiện thủ tục hành chính để trục lợi từ phía cơ quan hành chính hoặc công chức. Đồng thời, để có CPKT thì đội ngũ cán bộ, công chức phải thực sự là chủ thể kiến tạo, biết tạo điều kiện cho phát triển. CPKT đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức có trí tuệ, có sự nhạy cảm và trách nhiệm với sự phát triển của quốc gia dân tộc.

Sáu là, nâng cao hiệu quả kiểm tra, giám sát từ Chính phủ đối với hệ thống HCNN để bảo đảm CPKT và cả nền HCNN cùng kiến tạo. Hiệu quả của CPKT được cấu thành từ nhiều yếu tố, trong đó có sự nỗ lực của toàn bộ nền hành chính. Sự vận động tích cực từ Chính phủ cần phải được thể hiện trong hoạt động của các bộ, ngành, địa phương. Trong định hướng xây dựng CPKT, cần tăng cường trách nhiệm giải trình của các cơ quan HCNN, đặc biệt là các bộ, ngành, chính quyền địa phương các cấp. Cần có cơ chế giám sát, đánh giá hiệu quả thực hiện cơ chế, chính sách, năng lực của chính quyền địa phương trong việc tạo ra những khuôn khổ thể chế phù hợp, tạo ra động lực cho phát triển ở địa phương.

Bảy là, cần tăng cường lắng nghe và xử lý kiến nghị của cộng đồng DN, nhân dân đối với nền hành chính nhằm để Chính phủ có thêm nguồn thông tin trong quá trình ban hành và thực hiện các quyết sách. Đa dạng hóa các kênh thông tin từ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, chính quyền địa phương các cấp đến người dân, DN và theo chiều ngược lại. Một mặt, minh bạch hóa các chủ trương, chính sách, quy hoạch, kế hoạch của cơ quan hành chính; mặt khác, kịp thời nắm bắt thông tin, sự phản hồi của người dân và DN về việc triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của cơ quan hành chính các cấp.

Giảm thiểu sự lệch pha giữa chủ trương, chính sách, quyết nghị đúng đắn với việc chậm trễ, thiếu đồng bộ trong triển khai thực hiện trên thực tế. Cần tạo thêm những cơ chế đối thoại giữa cộng đồng DN và Chính phủ. Thủ tướng Chính phủ nên có những thông điệp hằng năm về những định hướng, những trọng tâm ưu tiên của Chính phủ để cộng đồng DN, nhân dân vừa giám sát vừa ủng hộ những nỗ lực cải cách của Chính phủ, ủng hộ những hành động của Chính phủ.

Tám là, cần nâng cao hiệu quả phối hợp trong Chính phủ và trong các cơ quan HCNN. Nỗ lực kiến tạo cần phải có sự hiệp đồng từ trong hệ thống HCNN. Cơ chế phối hợp liên ngành, liên vùng cần được tăng cường. Trong nỗ lực kiến tạo, các địa phương cần gắn kết chặt chẽ hơn trong các hoạt động từ xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển đến tổ chức thực hiện nhằm khai thác được những lợi thế chung của các địa phương thay vì cách tiếp cận đơn lẻ, từ cách nhìn của mỗi địa phương. Đồng thời, quy hoạch ngành và quy hoạch vùng cần phải kết hợp hài hòa để quy hoạch ngành không phá vỡ quy hoạch vùng và ngược lại. CPKT cần  bảo đảm sự thống nhất trong các quyết sách, thống nhất trong các nỗ lực hành động, mỗi bộ, ngành, địa phương có trách nhiệm đối với các nhiệm vụ của mình, không thể thoái thác, đùn đẩy, trốn tránh.

Chín là, nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu các bộ, ngành, các cơ quan HCNN. Sự quyết liệt, sự quyết tâm của người đứng đầu có ý nghĩa quan trọng quyết định đối với đổi mới của các bộ, ngành, địa phương trong quá trình thực thi trách nhiệm. CPKT đòi hỏi mỗi bộ, ngành, địa phương phải hành động; trách nhiệm của người đứng đầu phải tổ chức hành động hiệu quả. Mặt khác, cần phân cấp cho người đứng đầu cơ quan hành chính các cấp đúng và đủ những thẩm quyền cần thiết theo quy định của pháp luật để thực hiện trách nhiệm của mình.

Việc thực hiện đầy đủ, đồng bộ các định hướng và giải pháp trên sẽ tiếp tục khẳng định vai trò của Chính phủ, tăng cường lòng tin của người dân, DN và các đối tác quốc tế – là yếu tố quyết định đến sự phát triển bền vững đất nước và hội nhập quốc tế thành côngr

Tài liệu tham khảo:
1. Hoàng Chí Bảo. Chính phủ kiến tạo là sự kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh. Báo Nhân dân điện tử, ngày 15/01/2017.
2. Lê Quốc Lý. Xây dựng chính phủ kiến tạo – Thời cơ và thách thức đối với Việt Nam. Tạp chí Lý luận chính trị, số 4/2017.

TS. Đặng Xuân Hoan 
Giám đốc Học viện Hành chính Quốc gia