Phát huy vai trò năng suất các yếu tố tổng hợp trong tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế

(QLNN) – Sau 30 năm thực hiện đường lối đổi mới, nhất là đổi mới kinh tế, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa quan trọng. Mô hình tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng, với việc thu hút vốn đầu tư (nước ngoài và trong nước), phát huy lợi thế nguồn lao động dồi dào, giá rẻ, khai thác tối đa tài nguyên thiên nhiên, khơi dậy mọi tiềm năng của đất nước vào sản xuất – kinh doanh, đã đem lại những kết quả quan trọng.

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc phát biểu tại Hội nghị cải thiện năng suất lao động quốc gia. Ảnh: Lê Tiến (nguồn: http://www.dangcongsan.vn)
Yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế

Từ tình trạng nước nghèo và kém phát triển, Việt Nam đã gia nhập vào nhóm nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình. Tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn ở mức gần 7% những năm qua. Riêng giai đoạn 2011 – 2015, mặc dù kinh tế thế giới diễn biến bất lợi, tình hình quốc tế và khu vực có nhiều khó khăn, tác động trực tiếp đến kinh tế nước ta nhưng tăng trưởng kinh tế vẫn đạt mức trung bình 5,82%/năm1.

Thu nhập bình quân đầu người tăng mạnh, từ 200 USD năm 1990 lên 1.168 USD năm 2010 và đến năm 2015, quy mô GDP đã đạt 204 tỷ USD, thu nhập bình đầu người đạt khoảng 2.200 USD2. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Mô hình tăng trưởng từ chủ yếu theo chiều rộng đã bước đầu có sự chuyển dịch sang kết hợp giữa chiều rộng và chiều sâu; hình thành những mô hình mới và cách làm mới, sáng tạo.

Với việc cơ cấu lại nền kinh tế và thực hiện ba đột phá chiến lược, nhất là trên một số lĩnh vực trọng tâm, năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế đã có bước cải thiện; bảo đảm hài hòa hơn giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi trường. Những thành tựu trong phát triển kinh tế của Việt Nam được cộng đồng quốc tế cũng như người dân trong nước ghi nhận, đánh giá cao.

Tuy nhiên, những thành tựu đạt được trong phát triển kinh tế vẫn chưa bền vững. Chất lượng tăng trưởng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ mới. Tăng trưởng kinh tế của nước ta chủ yếu vẫn dựa vào tăng vốn đầu tư, khai thác và sử dụng nhiều tài nguyên, lao động; các cân đối kinh tế vĩ mô không ổn định. Những yếu kém nêu trên làm cho nền kinh tế rất dễ bị tổn thương do không thể phản ứng kịp thời và thích nghi được trước những thay đổi về thị trường, biến động về tài chính tiền tệ trên thế giới và khu vực, làm cho tốc độ tăng trưởng chậm lại.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, nhưng nguyên nhân chủ yếu là do mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong thời gian dài chủ yếu là mô hình tăng trưởng theo chiều rộng, khai thác triệt để yếu tố gia tăng lượng vốn đầu tư, sử dụng nhiều lao động với kỹ năng, trình độ trung bình và thấp là chủ yếu. Những yếu tố này là hữu hạn và đã được duy trì trong một thời gian dài, dư địa cho việc tiếp tục khai thác ngày càng hạn hẹp. Các yếu tố phát triển khoa học – công nghệ (KHCN), nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường chưa được chú trọng phát huy đúng mức. Cơ cấu kinh tế theo ngành, vùng còn tiềm ẩn những bất hợp lý và chậm được khắc phục.

Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế thời gian qua, Báo cáo chính trị trình Đại hội XII của Đảng nhận định, nền kinh tế vẫn chủ yếu phát triển theo chiều rộng, tăng trưởng kinh tế còn phụ thuộc nhiều vào các yếu tố về vốn, tài nguyên, lao động trình độ thấp, chưa dựa nhiều vào tri thức, KHCN, lao động có kỹ năng. Năng suất lao động xã hội chậm được cải thiện và đang ở mức thấp hơn nhiều so với một số nước trong khu vực. Đóng góp của TFP vào tăng trưởng kinh tế còn thấp.

Như vậy, để tiếp tục đẩy mạnh tăng trưởng, phát triển bền vững, tham gia hiệu quả vào chuỗi giá trị toàn cầu và thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình”, đổi mới mô hình tăng trưởng là tất yếu khách quan. Nhận thức rõ vấn đề đó, ngay từ Đại hội lần thứ XI, Đảng ta đã xác định: “Chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô, vừa chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững”.

Đến Đại hội XII, tiếp tục khẳng định trong thời gian tới phải kết hợp có hiệu quả phát triển chiều rộng với chiều sâu, chú trọng phát triển chiều sâu, nâng cao chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh,… và đề ra mục tiêu trong 5 năm tới TFP đóng góp vào tăng trưởng khoảng 25 – 30%3.

TFP và đổi mới mô hình tăng trưởng

Đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế không phải là điều dễ dàng. Đây là quá trình làm biến đổi dần các yếu tố vốn đã “ăn sâu bén rễ” vào nền kinh tế trong nhiều năm như cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư và dần thay thế các yếu tố cũ đang ngày càng cạn kiệt dư địa tăng trưởng như tài nguyên, nguồn nhân lực giá rẻ bằng các yếu tố mới. Vì vậy, rất cần phải có thời gian. Tuy nhiên, vẫn có thể làm thay đổi một số yếu tố ngay trong ngắn hạn, đó là nâng cao năng suất lao động xã hội trong điều kiện các nhân tố đầu vào khác không thay đổi về lượng để từ đó dẫn đến sự biến đổi về chất của sự tăng trưởng.

Trong nền kinh tế hiện đại, để đạt được tốc độ tăng trưởng cao, không nhất thiết phải tăng số lượng vốn đầu tư hay số lượng lao động với tốc độ tương ứng. Nếu biết sử dụng tối ưu nguồn lao động và vốn bằng cách phối hợp và sử dụng tốt nhất các yếu tố đầu vào kết hợp với việc cải tiến tổ chức sản xuất, đổi mới công nghệ, áp dụng tiến bộ khoa học – kỹ thuật, nâng cao chất lượng lao động (gọi chung là nhân tố vô hình) thì vẫn có thể đạt được tăng trưởng, hơn thế, tăng trưởng một cách bền vững. Nhờ tác động tổng hợp của các yếu tố đó, giá trị gia tăng được tạo ra nhiều hơn. Như vậy, ngoài phần đóng góp của từng nhân tố đầu vào, người ta còn thấy một phần giá trị mới do nhân tố vô hình tạo ra – thể hiện thông qua TFP.

TFP là chỉ tiêu đo lường năng suất của cả “lao động” và “vốn” trong một hoạt động cụ thể hay cho cả nền kinh tế, phản ánh sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật và công nghệ, thông qua đó, sự gia tăng đầu ra không chỉ phụ thuộc vào tăng thêm về số lượng của đầu vào mà còn tùy thuộc vào chất lượng của các yếu tố đầu vào là lao động – vốn và sự kết hợp giữa chúng. Cùng với lượng đầu vào như nhau, lượng đầu ra có thể lớn hơn nhờ vào việc cải tiến chất lượng của lao động, vốn và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực này. Vì vậy, tăng TFP gắn liền với việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, đổi mới công nghệ, cải tiến phương thức quản lý và nâng cao kỹ năng, trình độ tay nghề của người lao động…

TFP phản ánh sự đóng góp của các yếu tố khó lượng hóa, như kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng lao động, cơ cấu lại nền kinh tế hay hàng hóa, dịch vụ, chất lượng vốn đầu tư mà chủ yếu là chất lượng thiết bị công nghệ, kỹ năng quản lý… vào tăng trưởng kinh tế. Tác động của nó thông qua sự biến đổi của các yếu tố hữu hình, đặc biệt là lao động và vốn.

Tốc độ tăng TFP là chỉ tiêu phản ánh khái quát nhất hiệu quả sử dụng vốn, lao động. Tốc độ tăng TFP là chỉ tiêu quan trọng trong phân tích chất lượng tăng trưởng kinh tế và đánh giá tiến bộ KHCN của một ngành, của một địa phương hoặc quốc gia; khuyến khích sản xuất – kinh doanh theo hướng nâng cao chất lượng và hiệu quả một cách bền vững, tiết kiệm tài nguyên, thân thiện với môi trường. Đó là căn cứ quan trọng phục vụ cho yêu cầu quản lý vĩ mô của nhà nước…

Gia tăng sự đóng góp của TFP vào tăng trưởng kinh tế ngày càng được coi trọng trong chiến lược phát triển kinh tế khi nền kinh tế hiện nay đang chuyển hướng sang mô hình phát triển theo chiều sâu. Có thể tăng TFP bằng nhiều cách. Đó là chất lượng của lao động tăng lên, giúp cho một giờ làm việc đem lại nhiều sản lượng hơn.

Hoặc thay đổi về thành phần hay chất lượng của vốn đầu tư khiến việc sử dụng vốn có hiệu quả cao hơn, có thể do tiến bộ công nghệ xuất phát từ công tác nghiên cứu và phát triển (R&D) trong nước, kế thừa từ tri thức, công nghệ của thế giới, hay chỉ đơn giản là rút kinh nghiệm từ thực tế làm việc. Cũng có thể tăng TFP bằng cách tái phân bổ nguồn lực, từ ngành, nghề có năng suất thấp sang một công việc có năng suất cao hơn, hiệu quả hơn.

Như vậy, TFP là kết quả tích hợp của nhiều yếu tố. Nâng cao TFP là nâng cao hơn kết quả sản xuất với cùng một đầu vào. Trong phạm vi nền kinh tế, nâng cao TFP sẽ nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, nâng cao phúc lợi xã hội. Vì thế, hiện nay nhiều quốc gia đã chuyển sang mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu mà nội dung cốt lõi là gia tăng sự đóng góp của nhân tố năng suất tổng hợp vào GDP của nền kinh tế.

Phát huy vai trò của TFP trong đổi mới mô hình tăng trưởng

Thứ nhất, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Việc tăng năng suất ngày càng phụ thuộc vào chất lượng nguồn lao động (đó là các kiến thức, kỹ năng, trình độ, kinh nghiệm của người lao động và của nhà quản lý). Chất lượng nguồn nhân lực, ngoài kiến thức nghề nghiệp được đào tạo và trang bị còn thể hiện ở những nguồn lực vô hình rất tiềm tàng như thái độ, thông tin, kiến thức, khả năng tư duy sáng tạo, xây dựng và thực hiện các thay đổi, là nguồn lực cơ bản trong cải tiến năng suất.

Ở tầm vĩ mô, chất lượng nguồn lực thể hiện ở chất lượng quản lý, tư duy hoạch định chính sách. Đó là hoạch định phương hướng phát triển của tổ chức thông qua việc đưa ra một tầm nhìn chiến lược, các chính sách và phương thức hoạt động để đáp ứng kịp thời những thay đổi không ngừng của môi trường kinh doanh. Từ đó tác động toàn diện đến năng suất lao động chung của toàn xã hội.

Để từng bước nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cần thực hiện đồng bộ các cơ chế, chính sách, giải pháp phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, hội nhập quốc tế; đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo hướng mở, hội nhập, xây dựng xã hội học tập, phát triển toàn diện năng lực, thể chất, nhân cách, đạo đức, lối sống, ý thức tôn trọng pháp luật và trách nhiệm công dân; chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Tăng cường quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực, gắn kết cung – cầu; thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động, tạo điều kiện hỗ trợ dịch chuyển lao động và phân bố lao động một cách hợp lý, hiệu quả.

Thứ hai, bố trí cơ cấu kinh tế hợp lý.

TFP của nền kinh tế là kết quả của tăng năng suất các khu vực kinh tế (nỗ lực của từng ngành kinh tế) và sự phân bổ lại nguồn lực của nền kinh tế từ ngành có năng suất thấp sang ngành có năng suất cao (tác động liên ngành).

Sự thay đổi này sẽ dần làm cho các ngành có năng suất cao ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế và chuyển hiệu quả hoạt động của toàn bộ nền kinh tế sang hướng có năng suất lao động cao hơn. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế có ý nghĩa rất quan trọng, là thành tố đóng góp vào việc tăng tỷ trọng đóng góp của TFP trong GDP mà không phải huy động thêm các nguồn lực vật chất khác.

Đối với nước ta, trong thời gian tới, cần đẩy mạnh cơ cấu lại nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới theo hướng xây dựng nền nông nghiệp hàng hóa lớn; tăng cường ứng dụng tiến bộ KHCN, nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh; bảo đảm phát triển bền vững. Đẩy mạnh cơ cấu lại công nghiệp, tạo nền tảng cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Rà soát, bổ sung chiến lược phát triển công nghiệp; phân bố công nghiệp hợp lý hơn trên toàn lãnh thổ; đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp có hàm lượng KHCN, có tỷ trọng giá trị quốc gia và giá trị gia tăng cao; có lợi thế cạnh tranh, tham gia mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu. Tập trung phát triển các ngành dịch vụ, nâng dần tỷ trọng khu vực dịch vụ trong GDP; ưu tiên phát triển những ngành dịch vụ có lợi thế, có hàm lượng tri thức, công nghệ và giá trị gia tăng cao. Phát triển mạnh các ngành kinh tế biển gắn với bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia và nâng cao đời sống nhân dân vùng biển, đảo.

Thứ ba, bố trí cơ cấu vốn đầu tư hợp lý góp phần làm tăng TFP.

Việc bố trí và thay đổi cơ cấu vốn đầu tư để sử dụng vốn đầu tư hiệu quả là một động thái rất quan trọng để làm tăng TFP. Giải pháp sử dụng nguồn vốn có hiệu quả thường được áp dụng là: di chuyển nguồn vốn từ nơi có hiệu quả thấp sang nơi có hiệu quả cao.

Nói cách khác là đưa nguồn vốn từ nơi có hệ số ICOR cao sang nơi có hệ số ICOR thấp để tăng hiệu quả đầu tư; di chuyển vốn từ những ngành có năng suất thấp sang những ngành có năng suất lao động cao, có giá trị gia tăng lớn; đầu tư tập trung để sớm phát huy hiệu quả, tránh đầu tư dàn trải, gây lãng phí và thất thoát vốn; đầu tư vào những ngành, những lĩnh vực có tốc độ chu chuyển vốn nhanh để đạt hiệu quả cao nhất; chuyển dần từ đầu tư vốn vật chất (tài sản hữu hình) sang đầu tư phi vật chất (tài sản vô hình) – đó là nhân tố con người, nhân tố quyết định đến năng suất, hiệu quả đầu tư.

Để làm được điều này, cần thực hiện phân bổ nguồn lực đầu tư theo tín hiệu thị trường; tăng cường huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển; nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công, phân bổ vốn theo kế hoạch đầu tư trung hạn 5 năm phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, ưu tiên cho các công trình hạ tầng trọng điểm, cấp thiết. Bố trí nguồn lực tài chính nhà nước phù hợp để tham gia và thúc đẩy đầu tư của khu vực ngoài nhà nước.

Thứ tư, đẩy mạnh phát triển KHCN để nâng cao TFP.

Việc ứng dụng rộng khắp các thành tựu KHCN vào sản xuất đã giảm tiêu hao vật chất, tăng tỷ lệ chất xám trong cấu tạo giá trị sản phẩm. Đóng góp của KHCN vào sự gia tăng TFP thể hiện qua: các hệ thống quản lý (hay còn gọi là công nghệ quản lý) bao gồm các hệ thống hoặc mô hình quản lý được ứng dụng để nâng cao hiệu quả sử dụng lao động và vốn; công nghệ tiên tiến được áp dụng vào sản xuất, tạo ra sự phát triển về năng suất và giá trị gia tăng của sản phẩm; các nghiên cứu và phát triển (R&D) liên quan đến phát triển sản phẩm mới, phương pháp sản xuất, phương pháp quản lý.

Những nghiên cứu này tạo ra một cuộc cách mạng trong sản xuất, làm thay đổi nhiều quan niệm truyền thống trước đây về năng suất lao động. Đó là xây dựng và thực hiện các phương pháp quản lý sản xuất mới, có tính ưu việt. Qua đó tiết kiệm được thời gian, chi phí và nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm; chất lượng lực lượng lao động trong ứng dụng, vận hành những công nghệ tiến bộ; chuyển giao và tiếp thị, đưa những sáng kiến và đổi mới vào thực tiễn để tạo ra những sản phẩm dịch vụ, quá trình có năng suất và chất lượng cao.

Để phát huy vai trò của KHCN trong nâng cao TFP, cần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về KHCN; tăng cường tiềm lực KHCN và xây dựng hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, phát huy năng lực sáng tạo của mọi cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức; xây dựng cơ chế đặc thù để phát triển các cơ sở nghiên cứu KHCN trọng điểm theo mô hình tiên tiến và triển khai những dự án KHCN quan trọng phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Thứ năm, thay đổi nhu cầu hàng hóa và dịch vụ làm tăng TFP.

Thay đổi nhu cầu hàng hóa và dịch vụ, xét cho cùng là áp dụng những biện pháp làm gia tăng lượng cầu về sản phẩm hàng hóa và dịch vụ cả trong ngắn hạn và dài hạn, thông qua việc cải tiến, sáng tạo ra sản phẩm mới, dịch vụ mới để đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa, nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm. Để gia tăng nhu cầu hàng hóa và dịch vụ, sản phẩm hàng hóa và dịch vụ phải đạt được các tiêu chí sau: 1) sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ phải được thiết kế, được sản xuất theo cách thỏa mãn được các yêu cầu riêng của khách hàng về độ tin cậy, độ bền, giá cả và khả năng giao hàng; 2) giảm thiểu tác động xấu tới môi trường.

Ngoài việc đáp ứng những yêu cầu của khách hàng, sản phẩm và dịch vụ phải đóng góp vào các mục tiêu kinh tế – xã hội như sức khỏe và giáo dục, giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Vì đầu ra ngày càng được chú trọng nhiều hơn nên việc nâng cao hiệu quả hoạt động, nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm đạt được lợi thế cạnh tranh chủ yếu thông qua sản phẩm tốt hơn, giao hàng nhanh hơn. Hàng hóa và dịch vụ phải được thiết kế và sản xuất sao cho thỏa mãn được khách hàng về chất lượng, chi phí, giao hàng và các yêu cầu khác, đồng thời nâng cao được chất lượng cuộc sống.

Trong các thành tố làm tăng TFP, mỗi thành tố có vị trí, vai trò riêng, song có những thành tố giữ vai trò chủ đạo. Đó là KHCN, nhưng KHCN lại liên quan chặt chẽ và chịu sự chi phối của nguồn nhân lực. Nhân lực vừa là chủ thể sáng tạo ra KHCN, đồng thời cũng là chủ thể ứng dụng KHCN vào sản xuất và đời sống.

Không chỉ phụ thuộc vào các yếu tố nêu trên, tăng trưởng TFP còn chịu tác động của các yếu tố, như hệ thống giáo dục và đào tạo, tình hình nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế – kỹ thuật, cơ chế, chính sách, chiến lược, định hướng phát triển kinh tế – xã hội và thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, để phát huy vai trò của TFP nhằm đổi mới mô hình tăng trưởng, cần xem xét các yếu tố tác động trực tiếp và tác động liên quan trong một chỉnh thể đồng bộ./.

Chú thích:
1, 2, 3. Văn kiện trình Đại hội XII của Đảng. Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2011 – 2015 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2016 – 2020.   

Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Khoa học và Công nghệ. Khoa học và công nghệ thế giới – Xu thế và chính sách những năm đầu thế kỷ XXI. H. 2004.
2. Lê Xuân Bá. Chất lượng tăng trưởng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, thực trạng và giải pháp. Đề tài cấp Bộ của Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, 2009.
3. Trần Kim Chung. Năng suất nhân tố tổng hợp và tác động của nó đến chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế. Đề tài cấp Bộ của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, 2000.
4. Cục Thống kê Hải Phòng. Kết quả điều tra doanh nghiệp thành phố Hải Phòng giai đoạn 2009 – 2013. NXB Hải Phòng, 2015.
5. Diễn đàn Kinh tế Thế giới – WEF. Báo cáo hằng năm về năng lực cạnh tranh quốc gia, 2015, www.weforum.org.
6. Tổng cục Thống kê. Thực trạng doanh nghiệp qua kết quả điều tra doanh nghiệp 3 năm 2012 – 2014. H. NXB Thống kê, 2015.
7. Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương – Viện FES. Chất lượng tăng trưởng kinh tế: một số đánh giá ban đầu cho Việt Nam, năm 2015.
8. http://vnexpress.net

Nguyễn Văn Thành
Ủy viên Trung ương Đảng – Thứ trưởng Bộ Công an